ĐẶT VẤN ĐỀ
Máu tụ trong năo (MTTN) do
tai biến mạch máu năo (TBMMN) của bệnh cao huyết áp là một biến chứng nặng
thường thấy ở các nhân xám đáy năo và vùng đồi thị do tổn thương các nhánh của
động mạch đậu vân. Điều trị nội khoa vẫn là chủ yếu. Trước thập niên 1970, việc
can thiệp phẫu thuật với phương pháp mở sọ kinh điển để lấy máu tụ thường không
đạt kết quả tốt và tỉ lệ tử vong thường rất cao. Trong những năm gần đây tại các
nước tiên tiến, với chụp cắt lớp năo (CT scan năo) phối hợp với nhiều phương
pháp phẫu thuật thần kinh hiện đại như vi phẫu thuật, nội soi năo, stereotaxis
(với khung định vị tọa độ theo 3 chiều trong không gian) cùng với các tiến bộ
của ngành gây mê hồi sức, phẫu thuật của loại bệnh lư này đă đạt nhiều kết quả
khả quan, giúp hạ thấp tỉ lệ tử vong sau mổ.-
Dù rằng CT-scan năo và cộng
hưởng từ (MRI) đă được triển khai tạ- nhiều nơi trong TP. Hồ Chí Minh, nhưng tại
khoa phẫu thuật thần kinh BVND 115 vẫn chưa thực hiện được tất cả các phương
pháp phẫu thuật hiện đại kể trên v́ tŕnh độ chuyên môn c̣n hạn chế và nhất là
các phương tiện chuyên dùng kể trên rất đắt tiền. Tuy vậy, trong các trường hợp
MTTN có chỉ định phẫu thuật, chúng tôi đă cải tiến các phương tiện để sử dụng
trong phẫu thuật khoan sọ và chọc hút MTTN nằm sâu với mẫu kim Backlund - một
loại kim thường được dùng để hút MTTN.
Bài này tŕnh bày một số kết
quả ban đầu về MTTN được phẫu thuật với dụng cụ cải tiến tại bệnh viện Nhân Dân
115, từ tháng 7/1994 đến tháng 6/1995.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU
Đây là một nghiên cứu mô tả và hồi cứu dựa vào
các trường hợp MTTN do TBMMN của bệnh cao huyết áp được xử trí phẫu thuật bằng
phương pháp khoan sọ và chọc hút máu tụ với kim chọc hút cải tiến. Phương pháp
này được áp dụng cho các MTTN nằm sâu ở vùng các nhân xám đáy năo và vùng đồi
thị để tránh các thương tổn nặng nề của nhu mô năo nếu áp dụng phương pháp mở sọ
theo lối kinh điển. Tuy không sử dụng khung stereotaxis với MTTN có thể tích >
50cm3, nhưng chúng tôi dùng các thông số cho bởi CT-scan năo. Sau mổ,
dùng CT-scan năo để kiểm tra kết quả phẫu thuật. Trong trường hợp MTTN lớn, phát
triển ra sát vỏ năo th́ vẫn được sử dụng phương pháp mở sọ kinh điển.
1) Đánh giá mức độ tri giác ban đầu:
-Xếp các mức độ thay đổi t́nh
trạng tri giác như sau:
1- Tri giác b́nh thường hoặc
hơi lú lẫn (Normal consciousness or confusion)
2- Ngủ gà (Somnolence)
3- Lơ mơ- (Stupor)
4a- Hôn mê không dấu hiệu tụt
năo (Coma without brain herniation-signs)
4b- Hôn mê với dấu hiệu tụt
năo (Coma with brain herniation- signs)
-5- Hôn mê sâu (Deep coma)
Nếu bệnh nhân có thêm một
bệnh lư nào nữa sẽ bị hạ mức độ tri giác thêm một bậc. Thí dụ bệnh nhân ở độ 4a
nhưng có thêm bệnh tiểu đường sẽ được cho điểm mức độ tri giác ban đầu là 4b.---
2) Các yếu tố chọn chỉ định mổ:
- Bệnh nhân dưới 70 tuổi,
- Điểm Glasgow ban đầu (GCS)
ở giữa 6-10, tính theo bảng đánh giá tri giác ban đầu phải từ- 1 đến 4a.
- Không chọn các trường hợp
MTTN có gây tổn thương năo giữa (cầu năo, cuống năo, củ năo sinh tư).
- Trên CT-scan năo, MTTN có
khối choán chỗ với thể tích phỏng định > 30 cm3. Phỏng định MTTN theo
công thức tính thể tích khối ellipsoide:
-----------------------
1/6 Pi x L x l x h
L: chiều dài; l: chiều ngang; h: chiều cao của
khối máu tụ, Pi = 3,1416. Các thông số này từ CT-scan.
3) Dụng cụ cải tiến theo mẫu kim Backlund:
1) Kim Backlund (Elekta-
instruments):
- Kim chọc (Trocart) Backlund
dựa vào nguyên tắc vít Archimède. Kim dài 20 cm, có đường kính ngoài 4 mm. Đầu
xa gồm 2 cửa sổ hai bên để hút máu cục. Ṇng có dạng h́nh xoắn ốc, khi xoay sẽ
giúp cắt nhỏ máu cục và đưa nó lên trên. Dùng một hệ thống hút cố định gắn vào
đầu gần của kim chọc để hút máu cục, dùng áp lực hút dưới 1 Bar và có thể điều
chỉnh. Dùng tay xoay ṇng để hút máu cục lên dần dần. Kim chọc có thể hoạt động
an toàn khi có CT kiểm tra.
2)- Dụng cụ cải tiến đơn
giản:
- Kim chọc theo mẫu kim
Backlund, đường kính ngoài # 4mm, dài 20 cm, ṇng được mài thành h́nh xoắn ốc để
cắt nhỏ máu cục và động tác xoay ṇng giúp đưa máu cục lên dần dần. Tuy nhiên,
phải lắp được vừa khít đầu bơm tiêm 5cc hay 10cc vào đầu kim, và dùng bơm tiêm
để hút. Như vậy sẽ không bị nguy hiểm khi hút quá mạnh. Kim chọc cải tiến không
hoạt động tốt bằng kim Backlund nhưng cũng giúp hút được MTTN.
4) Tiến tŕnh phẫu thuật chọc hút MTTN:
- Chuẩn bị mổ giống như mổ
cấp cứu về sọ năo khác;
- Mời bác sĩ gây mê hồi sức
khám bệnh, đánh giá về tim mạch, dùng thuốc hạ áp để huyết áp ổn định ở mức có
thể thực hiện được cuộc mổ.
- Gây mê nội khí quản;
- Dùng các thông số do
CT-scan cung cấp để định vị khối MTTN theo 3 chiều trong không gian. Vẽ các mốc
ngoài da tương ứng.
- Lỗ khoan sọ thường ở vị trí
khớp vành, cách đường giữa độ 3 cm.
- Đốt cầm máu màng cứng. Phẫu
thuật viên dùng kim chọc qua lỗ màng cứng đă cầm máu, hướng vào và độ sâu theo
các thông số đă đo trước trên phim CT-scan năo-----------------------------
- Người phụ mổ lắp đầu bơm
tiêm vào đầu gần của kim chọc và hút nhẹ nhàng để kiểm tra xem đă vào được ổ máu
tụ hay chưa- Có thể luân phiên dùng ṇng xoắn để làm vỡ máu cục nằm trong ḷng
kim cho dễ hút ra.
- Kiểm tra trên CT-scan khi
lượng máu tụ hút được độ 40 cm3 và tùy theo đó có thể thay đổi vị trí
kim.
- Ngưng hút khi đă xoay thay
đổi vị trí đầu kim mà hút nặng ở ống bơm tiêm;
- Rút kim chọc và khâu vết
mổ.
- Kiểm tra bằng CT-scan năo
sau mổ hoặc ở thời điểm xa hơn tùy theo diễn biến lâm sàng.-
5) Đánh giá hậu phẫu:
Sử dụng bảng đánh giá hậu
phẫu của Nhật Bản về xuất huyết trong sọ do cao huyết áp (Japanese Ad Hoc
Committee on hypertensive intracranial Hemorrhage):
1- Hoạt động b́nh thường
(Normal activity)
2- Trở ngại ít, tự lực được
(Minor disabilitry)
3- Trở ngại một phần
(Moderate disability)
4- Tàn phế- (Severe
disability)
5- Đời sống thực vật
(Vegetative)
6- Tử vong (Death )
Trong giai đoạn hậu phẫu và
hồi sức, điều trị nội khoa rất quan trọng để giúp huyết áp ổn định và có thể
tránh được xuất huyết tái phát.-
-KẾT QUẢ
Có 14 trường hợp phẫu thuật
chọc hút MTTN được tóm tắt trong bảng 1:
-Về mức độ tri giác ban
đầu: 8 bệnh nhân ở 4a, 4 bệnh nhân ở 4a
-b và 2 bệnh nhân ở
4b.
-Thể tích máu tụ hút được
trung b́nh là 30 -70 cm3;
-Kết quả sau mổ:
- Có 11 bệnh nhân (BN) có cải
thiện t́nh trạng, thoát mê, được tiếp tục điều trị nội khoa và vật lư trị liệu.
- Hai BN (số 10 và 11) bị
chảy máu lại và được mổ lần II: một có kết quả tốt, một bị biến chứng viêm phổi.
- Hai BN tử vong và một nặng
xin về (tỉ lệ tử vong: 3/14 = 21,42%).
BÀN LUẬN
Từ trước đến nay qua y văn
thế giới, có rất nhiều công tŕnh nghiên cứu về phẫu thuật lấy MTTN:
- Năm 1978, Backlund và Von
Holst là những người tiên phong dùng stereotaxis với khung đặc biệt đo đạc ba
chiều trong không gian và dụng cụ cannula trong có ṇng để lấy máu cục và dẫn
lưu MTTN và có một trường hợp với thể tích khối máu tụ ước lượng 100 ml. Kỹ
thuật khoan sọ và chọc hút có lợi ích chính là có thể áp dụng gây tê và rút ngắn
thời gian mổ, tuy vậy cần rất thận trọng v́ phần lớn là máu cục khó lấy và nếu
hút quá mạnh có thể gây chảy máu thêm trong ḷng khối máu tụ.(3)
- Higgins và Nashold (1980),
Kandel và Peresodov (1985) đă cải tiến lại dụng cụ để có thể điều chỉnh áp lực
hút, v́ vậy cải tiến hiệu quả và độ an toàn của phương pháp
này.-----------------------------------
- Năm 1984 Matsumoto và Hondo
mô tả kỹ thuật mới ứng dụng stereotaxis chọc và hút máu tụ sau khi bơm Urokinase
vào khối máu tụ qua 1 ống silicone đặt vào trung tâm khối máu tụ dựa vào khung
stereotaxis và dùng CT-scan để tính kích thước ba chiều. Tỉ lệ tử vong rất thấp
so với phương pháp mở sọ cổ điển.
- Auer và Ascher đă mô tả kỹ
thuật lấy từng phần MTTN bằng cách dùng siêu âm và nội soi (Indirect endoscopy).(3)
- Kaneko và cộng sự năm 1977
đă đề nghị kỹ thuật vi phẫu để làm giảm thiểu tổn thương do phẫu thuật và cầm
máu triệt để nhánh động mạch đậu vân.(3)
- J.P. Nguyen trong báo cáo
của khoa phẫu thuật thần kinh bệnh viện Henri Mondor (Créteil), Pháp, từ tháng
10/1987 đến tháng 1/1989 đă mổ 15 trường hợp MTTN. Tất cả đều gây mê nội khí
quản, dùng kim chọc Backlund với áp lực hút thay đổi (tối đa 1 Barr) cố định ở
đầu gần của kim, có dùng CT-scan để kiểm tra trong và sau mổ:(5) Kết
quả cho thấy: một trường hợp mổ chọc hút 8 giờ sau TBMMN, thể tích khối máu tụ
hút được là 90 cm3 (90 ml), bị chảy máu lại sau 48 giờ. Một trường
hợp tử vong 3 tuần lễ sau khi mổ chọc hút, tỉ lệ tử vong 6,6%. Các trường hợp
khác t́nh trạng sau mổ đều cải thiện rơ rệt. Với các MTTN có thể tích < 50 cm3
hoặc ở các trường hợp phải đặt lại vị trí kim, tác giả cũng khuyên tốt nhất nên
dùng lại kỹ thuật Stereotaxis.-

- Phẫu thuật MTTN không dùng khung Stereotaxis
của Shi-Quan-Chen, khoa Phẫu thuật thần kinh Qingdao, Trung quốc với 32 MTTN
vùng nhân xám trung ương, đồi thị và bao trong do cao huyết áp (33 lần mổ). Kết
quả trong 29 trường hợp độ III và IV (gồm cả 2 trường hợp tụt năo) có 27 trường
hợp hồi phục nhanh, 2 trường hợp chết v́ viêm phổi và chảy máu lại. Hai trong 3
trường hợp độ V tử vong và 1 trường hợp sống. Tỉ lệ tử vong chung là 12,5%.
- Phẫu thuật hút MTTN với
hướng dẫn qua màng tăng sáng của Masato Noji và CS, khoa Phẫu thuật thần kinh
bệnh viện Yokohama Minami Kyosai, Yokohama, Nhật Bản với 10 trường hợp MTTN
(Putaminal Hemorrhage) thời gian mổ rút ngắn phân nửa nếu so với phẫu thuật chỉ
dùng CT-scan.
--- Tại Việt Nam, theo các
thống kê có được, tỉ lệ tử vong của TBMMN c̣n rất cao và cũng chưa có một thống
kê chi tiết toàn quốc về phẫu thuật MTTN do cao huyết áp.(9) Theo
khảo sát của BV Bạch Mai (Hà Nội) từ năm 1979- 1988 tỉ lệ tử vong của TBMMN là
22,3%; Theo khảo sát của khoa Nội thần kinh BV Chợ Rẫy từ năm 1990 đến tháng
8/94 với 498 bệnh nhân dạng xuất huyết năo (trong tổng số 1381 TBMMN) tỉ lệ tử
vong là 47,8%.
KẾT LUẬN:
- Phương pháp khoan sọ và
chọc hút MTTN do TBMMN v́ cao huyết áp với các dụng cụ cải tiến của chúng tôi
đơn giản, có thể thực hiện được trong cấp cứu, phù hợp với hoàn cảnh c̣n thiếu
thốn hiện nay của ngành và là một phương pháp hỗ trợ cho điều trị nội khoa để có
kết quả tốt hơn. Tuy nhiên để có thể đạt kết quả tốt, cần hết sức tôn trọng các
tiêu chuẩn chỉ định mổ, cần sự phối hợp nhịp nhàng giữa kíp mổ (phẫu thuật viên,
gây mê hồi sức) và đội ngũ X-quang, CT-scanner, nhất là luôn luôn cần kiểm tra
CT sau mổ để có thể đánh giá kết quả.
Kết quả ban đầu khích lệ
nhưng cần nhiều trường hợp và thời gian hơn để hoàn thiện dụng cụ, kiện toàn các
khâu phẫu thuật và hoàn chỉnh công tác hồi sức và điều trị nội khoa sau mổ.
TÓM TẮT:-
14 trường
hợp máu tụ trong năo (MTTN) trên lều do tai biến mạch máu năo (TBMMN) (bởi cao
huyết áp) đă được điều trị phẫu thuật từ tháng 4/1994 đến tháng 6/1995 bằng
phương pháp khoan sọ và chọc hút với dụng cụ cải tiến theo mẫu kim Backlund mà
không dùng khung định vị Stereotaxis.
Thể tích máu
tụ hút được từ 30-70 cm3, hầu hết là MTTN ở các nhân xám đáy năo, đồi
thị và bao trong. Dùng CT-scan năo trước và sau mổ để kiểm tra hiệu quả hút máu
tụ.
Kết quả: 11
trường hợp có t́nh trạng tri giác cải thiện sau mổ nhưng cần tiếp tục điều trị
nội khoa và Vật lư trị liệu. Hai bệnh nhân bị chảy máu lại, phải mổ lần II: 1 có
kết quả tốt, 1 bị viêm phổi và loét nhiều nơi. Có 3 bệnh nhân tử vong, tỉ lệ tử
vong là 21,42% (3/14 trường hợp).
Phương pháp
này có thể thực hiện trong cấp cứu và dùng CT-scan năo kiểm tra. Tuy nhiên cần
nhiều trường hợp hơn nữa để đúc kết kinh nghiệm.
SUMMARY
BURR HOLE ASPIRATION IN SPONTANEOUS INTRACEREBRAL HEMATOMA
(HYPERTENSIVE INTRACRANIAL HEMORRHAGE )
Fourteen
cases of supratentorial hypertensive intra-cerebral hematoma were operated from
July-1994 to June-1995 using the burr hole and suction technique with modified
Backlund-s needle without stereotactic frame.
The
aspirated hematoma volumes ranged from 30 cm3 to 70 cm3,
most of them were hematoma at basal ganglia, thalamus and internal capsule. We
usually performed pre and post- operative CT-scan to control the efficacy of the
evacuation of the hematoma.
The criteria
of the Japanese ad hoc committee on hypertensive intracerebral hemorrhage were
used for initial preoperative neurological assessment and for postoperative
evaluations. We had 8 cases of 4a, 4 cases of 4a-b and 2 cases of 4b grade.
Improvement
of consciousness was observed in 11 cases but the medical treatment and
rehabilitationmust be continued, 2 patients rebled and must be re-operated with
good result in 1 case, the other patient need intensive treatment for severe
pneumonia. Three patients died. The total mortality rate was 21,42 % (3/14).
This technique proposed here was easily performed in emergency condition with CT
control.
For definite
conclusion a larger sample is needed and we hope that the results would be
better with good equipment (e.g. stereotactic frame with different kinds of
aspiration needles).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Denis Gardeur (1982) -Hémorragies intracérébrales dans
Tomodensitométrie intracrânienne, Pathologie vasculaire (livre II). Edition
Marketing /Ellipses. Deuxième partie,pp. 110-165.
2)- Espinosa F., Weir B., Noseworthy T. (1990).
Nonoperative treatment of sub-arachnoid hemorrhage in Neurological Surgery -
Julian R. Youmans, 3rd edition, W.B.- Saunders Company, chapter 54, pp.
1661-1685.
3)- Castel J.P., Kissel P. (1990). Spontaneous
intracerebral and infratentorial hemorrhage in Neurological Surgery -Julian R.
Youmans, 3rd edition,W.B. Saunders Company, chapter 62,pp. 1890-1917.
4)- Nguyen J.P., Ypes C., Decq P., Gaston A., Keravel Y.
(1995). Hématomes intracérébraux spontanés dans Neurochirurgie - P. Decq, Y.
Kéravel,Ch. 50, 488-500.
5)- Nguyen J.P., Gaston A., Brugieres P., Decq P., Keravel
Y. (1991). Hématomes intracérébraux opérés sous contrôle scanographique à l-aide
du trocart de Backlund (une série de 15 cas) dans Neurochirurgie -Vol 37-1991-1
Masson,pp. 50-57.
6)- Osborn- Anne G.: Diagnostic Neuroradiology - MOSBY
-1994.
7)- Stephen Davis (1991). Stroke in Essential-
Neurosurgery -Churchill Livingstone -1991, Chapter 10, pp. 189-215.
8)- 1st. Asian Congress of Stereotactic, Functional &
Computer- Assisted Neurosurgery - Towards Minimally Invasive Neurosurgery: 11-14
December -1994, Marina Mandarin Singapore.
9)- Hội thảo Y-Dược Việt-Pháp lần thứ ba -TP. Hồ Chí Minh:
- THẦN KINH - H̀NH ẢNH HỌC Y KHOA -21-22-23/11/1994
- * Mas J.L.. Épidémiologie des accidents vasculaires -
- * Lê Văn Thành và CS. Bệnh Tai biến mạch máu năo tại TP.
Hồ Chí Minh: Nghiên cứu sơ bộ về Dịch tể học - Khảo sát lâm sàng và kết quả điều
trị của xuất huyết năo do Cao huyết áp.- Khoa Nội thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy.
10)- Nguyễn Văn Đăng, Lê Quang Cường (1994). Chẩn đoán -
Xử trí các hội chứng và bệnh thần kinh thường gặp -Nhà Xuất bản Y học 1994
(Nguyên bản tiếng Pháp: Conférence de Paris: Neurologie Heinzlef O., ed.1992-93.
11)- Nguyễn Thiện Thành: (1993): Cấp cứu những t́nh huống
ưu tiên ở người có tuổi - Nhà Xuất bản Y học -1993.
12)- Phạm Khuê (1994): Đề pḥng Tai biến mạch máu năo ở
người cao tuổi - Nhà Xuất bản Y học - Hà Nội -1994.

Stereotactic puncture and lysis of spontaneous intracerebral hemorrhage
using recombinant tissue-plasminogen activator.
AU:
Schaller-C; Rohde-V; Meyer-B; Hassler-W
AD:
Department of Neurosurgery, Klinikum Kalkweg, Duisburg, Germany.
SO:
Neurosurgery. 1995 Feb; 36(2): 328-33; discussion 333-5
ISSN:
0148-396X
PY:
1995
LA:
ENGLISH
CP:
UNITED-STATES
AB:
We have tested a treatment protocol for intracerebral hemorrhage (ICH),
consisting of stereotactic insertion of a catheter into the clot, hematoma lysis
by the injection of a fibrinolytic agent, recombinant tissue-plasminogen
activator (rt-PA), and closed system drainage of the liquefied clot. Fourteen
patients underwent computed tomographically guided stereotactic hematoma
puncture and silicone tube insertion within 72 hours of intracerebral
hemorrhage. The majority (nine patients) suffered from ganglionic ICH, and the
size of the hematoma ranged between 3 x 3 x 4 cm and 7 x 7 x 4 cm (mean, 5.2 x 4
x 3.6 cm). All patients had major neurological deficits with or without an
impaired level of consciousness, but without signs of transtentorial herniation.
The initial, then daily, dose (in milligrams) of rt-PA administered via the
silicone tube equalled the maximal diameter (in centimeters) of the original and
remaining clot as measured initially, then daily, by computed tomographic scan.
The number of rt-PA injections was four in one patient, three in eight patients,
two in four patients, and one in one patient, and the total dose of rt-PA
required ranged from 5 to 16 mg (mean, 9.9 mg). After rt-PA injection, the
tubing was clamped for 2 hours and then opened to drain spontaneously through a
closed system against 0 cm of pressure. At follow-up 6.6 months (mean) after
treatment (ranging from 3 to 13 months) and according to the Glasgow outcome
score, one patient was Grade V, four were Grade IV, five were Grade III, two
were Grade II, and two had died.(ABSTRACT TRUNCATED AT 250 WORDS)
TO: Hematomes intracerebraux operes sous controle scanographique a l'aide du
trocart de Backlund. Une serie de 15 cas.
[Intracerebral hematoma surgically treated under x-ray computed tomography with
Backlund's needle. A series of 15 cases]
AU:
Nguyen-JP; Gaston-A; Brugieres-P; Nallino-J; Rostaing-S; Decq-P; Leguerinel-C;
Keravel-Y
AD:
Service de Neurochirurgie, Hopital Henri Mondor, Creteil.
SO:
Neurochirurgie. 1991; 37(1): 50-7
ISSN:
0028-3770
PY:
1991
LA:
FRENCH; NON-ENGLISH
CP:
FRANCE
AB:
15 cases of supratentorial intracerebral hematomas (12 cases of primary
hematomas and 3 post-traumatic cases) were operated under C.T. scan control,
using the screw and suction technique (Backlund's needle). 10 cases of primary
hematomas were operated early, before the 24th hour. The patients were selected
for intervention on the following criteria: 1) Patients aged less than 70 years
old; 2) initial Glasgow coma scale between 6 and 10; 3) cases with involvement
of the mesencephalon by the hematoma were excluded. In the 3 cases of
post-traumatic hematomas, intervention was decided in reference to the clinical
course. The volume of the hematomas ranged from 40 to 160 cc. Putaminal or
thalamic hematomas were observed in 9 cases. The percentage of aspirated
hematoma volume ranged from 50 to 91%, the average being 70.5%. Dramatic
improvement of the consciousness was observed in all cases. Improvement of the
motor deficit was incomplete, for the most part. 1 patient rebled and 1 patient
died (6.6% mortality). In 26% of the cases (4 patients) the development of a
brain oedema, in the surrounding of the residual hematoma site, was observed
during the post operative follow up. There was no post operative infection.
Intervention under direct C.T. control allows an accurate guidance of the
needle. Efficacity of the evacuation is attested by an immediate improvement of
the mass effect on C.T. scan. Under C.T. control the risk to aspirate the
adjacent brain is avoided. The technique proposed here has been easily performed
in emergency condition.