Thuốc chống huyết khối (antithrombotic)
bao gồm thuốc kháng tiểu cầu, thuốc kháng đông và thuốc tan sợi huyết. Tiểu cầu
đóng vai tṛ quan trọng trong sinh bệnh học- xơ vữa động mạch, huyết khối động
mạch và các hội chứng mạch vành cấp. Thuốc kháng tiểu cầu không có hiệu quả tức
th́, trực tiếp trên lâm sàng nên các chỉ định đều được rút ra từ các nghiên cứu
so sánh. Aspirin là thuốc kháng tiểu cầu sử dụng rộng răi và lâu đời nhất, và
cũng là thuốc được thử nghiệm nhiều nhất, trong hơn 50 nghiên cứu so sánh với
giả dược, với những liều từ 50 tới 1300 mg đều cho kết quả đồng nhất về hiệu quả
giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, thiếu máu năo và tử vong. Tuy nhiên, có những t́nh
huống mà một ḿnh aspirin không đủ hiệu quả nên những thuốc kháng tiểu cầu mới
được thử nghiệm, đơn độc hoặc phối hợp với aspirin.
Thuốc kháng tiểu cầu
Sự h́nh thành huyết khối gồm 3 giai đoạn:(1)
1) Bám dính của tiểu cầu với thành mạch: Khi
nội mạc thành mạch bị tổn thương, tiểu cầu dính vào bằng 2 đường: Đầu tiên, tiểu
cầu bám dính với yếu tố von Willebrand được phóng thích từ nội mạc. Thứ đến,
tiểu cầu gắn dính với các sợi collagen được phơi bầy từ các lớp sâu hơn của nội
mạc thành mạch bị tổn thương.
2) Thụ thể tiểu cầu và hoạt hóa:
Sau khi bám dính, tổn thương bề ngoài tiểu cầu, làm hoạt hóa các thụ thể tiểu
cầu glycoprotein GP IIb/IIIa. Các thụ thể này giúp hoạt hóa tiểu cầu bằng cách
phóng thích calcium từ mô lưới nội bào tương (endoplasmic reticulum) và cho phép
yếu tố von Willebrand (một protein có khối lượng phân tử cao) nối kết các thụ
thể với nhau và làm tăng kết dính tiểu cầu.
3) Kết dính tiểu cầu: Nhiều chất trung gian như collagen, ADP,
thromboxan A2, thrombin, epinephrin hoặc serotonin kích thích sự
thành lập inositol triphosphat (IP3). Thromboxan A2, tổng
hợp từ thành mạch bị tổn thương, ức chế sự thành lập AMP ṿng là chất ḱm hăm sự
sản xuất IP3. IP3 huy động calcium từ mô lưới nội bào
tương làm nồng độ calcium trong tiểu cầu tăng lên gây nên sự kích hoạt actin và
myosin tiểu cầu làm tiểu cầu co lại. Khi tiểu cầu co lại, các thụ thể
glycoprotein GP IIb/IIIa được lộ ra, đây là các thụ thể glycoprotein màng đặc
hiệu có ái tính mạnh với đoạn peptid RGD của fibrinogen. Fibrinogen nối kết các
tiểu cầu với nhau, tạo thành sự kết dính tiểu cầu và thành lập huyết khối .
Thuốc kháng tiểu cầu có thể chia làm 2
nhóm: thuốc chống kết dính tiểu cầu và thuốc chống kích- hoạt tiểu cầu:
Thuốc
chống kết dính tiểu cầu: Những chất gắn lên phức
hợp GP IIb/IIIa để ngăn cản nó gắn với fibrinogen là thuốc chống kết dính tiểu
cầu thực sự trực tiếp được gọi là thuốc kháng GP IIb/IIIa gồm có nhiều loại:
- Kháng thể đơn ḍng: Abciximab.
- Kháng GPIIb/IIIa tự nhiên: nọc rắn
- Kháng GPIIb/IIIa tổng hợp:
--------- - Peptid: Epifibatid
-Không Peptid: Tirofiban. Lamifiban, Roxifiban
Thuốc
chống kích hoạt tiểu cầu:
Thuốc làm chậm sự kích hoạt, đưa đến
sự ức chế các chứ- năng của tiểu cầu. Tất cả những chất ngoài thuốc kháng GP
IIb/IIIa- đều thuộc nhóm này, bao gồm:
- . Aspirin và thuốc kháng viêm không
steroid (flurbiprofen) ức chế sự tổng hợp thromboxan.
- . Ticlopidin và clopidogrel, 2 phân tử
tương tự có tên thienopyridin ức chế sự đáp ứng với ADP
- . Dipyridamol làm tăng nồng độ adenosin
là chất ức chế sự kích hoạt tiểu cầu thông qua adenylat cyclase, enzym tạo ra
AMP ṿng, yếu tố căn bản của hệ thống chống kích hoạt.
Aspirin
Cơ chế tác dụng:
Aspirin (acetylsalicyclic acid) acetyl hóa
cyclo-oxygenase một cách không thuận nghịch trong suốt cuộc đời của tiểu cầu. Do
đó aspirin làm ngưng sự sản xuất thromboxan A2 cho đến khi tất cả các
tiểu cầu tuần hoàn đều đă được đổi mới (7-10 ngày).
Chỉ định lâm sàng:
Trong các nghiên cứu, aspirin đă được sử
dụng với những liều từ 50 đến 1300mg, trên 140.000 BN từ 300 nghiên cứu đă khẳng
định tác dụng pḥng ngừa của aspirin trong nhồi máu cơ tim, đau thắt ngực, sau
đột quỵ và phẫu thuật bắc cầu. Aspirin c̣n có tác dụng ở bệnh nhân cao huyết áp
(HA) và tiểu đường.(4)
. Đau thắt ngực ổn định:
Nghiên cứu SAPAT(5)
trên 2000 BN với aspirin 75mg/ngày cho thấy làm giảm 34% nguy cơ nhồi máu cơ tim
và đột tử. Trong một nghiên cứu nhỏ hơn, dùng aspirin 325mg cách ngày, trong 60
tháng làm giảm nhồi máu cơ tim (NMCT) 87%.(6)
Các nghiên cứu khác cho thấy aspirin không những làm giảm tỷ lệ NMCT mà c̣n làm
nhẹ độ nặng của NMCT khi xảy ra.
. Đau thắt ngực không ổn định:
Aspirin cần được sử dụng cả trong giai đoạn cấp và giai đoạn theo dơi. Tuy liều
75mg/ngày cũng giảm được NMCT và tử vong nhưng không giảm được cơn đau, để có
tác dụng nhanh, nên dùng liều cao hơn 162mg hoặc 325mg. Aspirin được cho khi
nhập viện và tiếp tục trong 2 năm. Hiện nay, điều trị chuẩn là phối hợp aspirin
và heparin, khởi đầu cùng một lúc v́ 2 lư do: khó phân biệt với NMCT và khi
ngưng heparin, đă có sẵn tác dụng của aspirin.(7)
. Nhồi máu cơ tim cấp: liều
aspirin 160 mg dùng trong ISIS-2,(8) càng sớm càng tốt và liên tục 1
tháng cho thấy aspirin cần được sử dụng một cách bắt buộc trong giai đoạn cấp
của NMCT. Liều 160mg/ngày dùng trong ISIS-2 đă được khuyến- cáo tuy một số tác
giả chủ trương liều cao hơn để đảm bảo kháng tiểu cầu càng nhanh càng tốt, chưa
có nghiên cứu nào chứng minh những lập luận này. Sau NMCT, tiếp tục dùng aspirin
vô hạn định với liều 300-325mg cho thấy giảm NMCT 31%, đột quỵ 42%, các biến cố
mạch máu 25%.(4)
. Sau can thiệp mạch vành, nong, đặt
stent, bắc cầu: Hiệu quả của aspirin gia tăng mạnh mẽ khi phối hợp với
ticlopidin (Ticlid) hoặc clopidogrel (Plavix). Để ngừa tắc nghẽn trở lại,
aspirin 500 mg/ngày tốt hơn là 100 mg/ngày. Aspirin cần được dùng thật sớm ngay
sau phẫu thuật kéo dài ít nhất 1 năm và có thể vô hạn định. Trong một tổng phân
tích, sử dụng aspirin sớm cho thấy giảm dược xuất độ tắc nghẽn mảnh ghép sau
phẫu thuật bắc cầu mạch vành.(9)
Một tiền cứu ngẫu nhiên cho thấy aspirin liều rất thấp 50mg/ngày cộng với
dipyridamol có tác dụng ngừa nghẽn mạch ghép và có thể được khuyến cáo trong 1
năm.(10) Aspirin dùng trước phẫu thuật có thể làm tăng rất nhẹ nguy
cơ xuất huyết, nên dùng dipyridamol trước mổ và ngưng ngay sau phẫu thuật thay
bằng aspirin khởi sự 6-12 giờ sau mổ. Nếu BN đă dùng aspirin trước mổ th́ cũng
không cần hoăn mổ v́ nguy cơ xuất huyết không đáng kể.
.Rung nhĩ:. Warfarin hiệu
quả hơn aspirin trong việc ngừa đột quỵ nếu BN có nguy cơ cao, Chỉ dùng aspirin
nếu có chống chỉ định với warfarin hoặc BN không có nguy cơ cao đột quỵ.(11)
. Thiếu máu năo thoáng qua
(TMNTQ):- Trong nghiên cứu- Thụy Sĩ- SALT,(12) aspirin 75mg /ngày
giảm đột qụy hoặc tử vong 18%. Nghiên cứu United Kingdom-TIA Study Group(13)
so sánh hiệu quả của aspirin 300mg và 1200mg với giả dược ở BN đă có TMNTQ hoặc
đột quỵ nhẹ cho thấy aspirin giảm đột quỵ nặng, NMCT hoặc tử vong 18%, không có
sự khác biệt về hiệu quả giữa aspirin liều cao và liều thấp nhưng tỷ lệ biến
chứng tiêu hóa cao hơn với aspirin liều cao.
. Cao HA: Nghiên cứu- HOT(14)
thực hiện trên 18800 BN cao huyết áp không có biến chứng mạch vành hoặc năo cho
thấy aspirin 75mg/ngày, giảm 15% nguy cơ tai biến tim mạch, như vậy để tránh
được 1 NMCT phải điều trị aspirin cho 500-1000 BN. Nghiên cứu Physicians' Health
Study(15) trên 22000 bác sĩ được uống aspirin 325mg cách ngày hoặc
giả dược cũng cho thấy sau 5 năm theo dơi những người dùng aspirin giảm 44% nguy
cơ NMCT. Tuy nhiên, trong cả 2 nghiên cứu này đều có gia tăng nguy cơ xuất huyết
năo nhưng không có ư nghĩa thống kê. Các nghiên cứu- trên đều có nguy cơ tai
biến tim mạch rất thấp ở nhóm giả dược 0,8-1,5% /năm. Phân tích các nghiên cứu
trên cho thấy không nên dùng aspirin để pḥng ngừa tiên phát trên người khỏe
mạnh nhất là người lớn tuổi. Đối với BN có bệnh mạch vành hoặc bệnh động mạch
ngoại biên, liều aspirin 75 - 325 mg/ngày là hợp lư.
Bảng 1: Liều aspirin tối thiểu hiệu quả và liều được
khuyến cáo(3)
|
T́nh huống lâm sàng
|
Liều tối thiểu có hiệu quả (mg/ngày)
|
Liều khuyến cáo (mg/ngày)
|
|
Cao huyết áp
Đau thắt ngực ổn định
Đau thắt ngực không ổn định
Nhồi máu cơ tim cấp
Tai biến thiếu máu năo
Thiếu máu năo cấp
|
75
75
75
160
30
160
|
75-325*
160-325
160-325
160-325
50-325
160-325
|
Ghi chú: * dùng với tính cách ngừa tiên phát nếu có yếu tố nguy cơ.
Tác dụng ngoại ư:
Aspirin với liều chuẩn 150-300 mg gây rối
loạn- tiêu hoá (khó tiêu, buồn nôn, ói mữa) ở 40% BN (so với 30% ở BN dùng giả
dược).(1) Xuất huyết tiêu hóa xảy ra ở 5% BN (nguy cơ tương đối tăng
1,5-2 %). Tỷ lệ xuất huyết- năo xảy ra dưới 1%, nhưng FDA Hoa Kỳ cũng cảnh báo
BN không nên tự uống aspirin v́ nguy cơ nhẹ về đột quỵ.
Dipyridamol
Dipyridamol (Persantine) là mộ- chất chống
kích hoạt tiểu cầu gián tiếp (qua trung gian adenosin) có tác dụng ức chế sự bám
dính tiểu cầu vào thành mạch và làm tăng tác dụng chống kết dính tiểu cầu của
prosta-cyclin.(1) Ở liều cao, dipyridamol làm tăng sự thành lập AMP
ṿng và giảm calcium tiểu cầu, do đó ức chế sự kết dính tiểu cầu. So với
aspirin, dipyridamol có nhiều tác dụng ức chế sự bám dính tiểu cầu vào thành
mạch hơn aspirin nhưng lại ít tác dụng hơn trên sự kết dính tiểu cầu. Hiệu quả
của dùng dipyridamol đơn độc và liều thấp (225 mg/ngày) chưa được chứng minh,
trong khi đó các nghiên cứu thường thực hiện phối hợp dipyridamol với aspirin.
Chỉ định của dipyridamol + aspirin
- Tai biến thiếu máu năo:
nghiên cứu- ESPS2(16) trên hơn 6000 BN bị tai biến thiếu máu năo cho
thấy phối hợp aspirin 50 mg+ dipyridamol 400mg/ngày tốt hơn aspirin đơn độc
trong việc pḥng ngừa tai biến tái phát, tuy nhiên phác đồ này không tác dụng ǵ
trên tử vong hay nguy cơ NMCT.
- Đối với đe dọa đột quỵ và thiếu
máu năo thoáng qua (TMNTQ): dipyridamol 75 mg x 3 lần /ngày + aspirin
325 mg x 3 lần/ngày làm tăng khả năng c̣n sống và giảm đột quỵ. Tuy nhiên, phân
tích các kết quả cho thấy cũng không hơn aspirin đơn thuần.(4)
- Bệnh mạch máu ngoại biên:
dipyridamol 75 mg + aspirin 330 mg, ngày 3 lần làm giảm tiến triển cuả bệnh tốt
hơn aspirin.(1)
- Các hội chứng thiếu máu như đau
thắt ngực, NMCT, thiếu máu năo thoáng qua: chỉ cần dùng aspirin đơn
thuần.
- Các điều trị phối hợp của aspirin:
(bảng 2)
Bảng 2: Các điều trị phối hợp với aspirin
|
Phối hợp với thuốc kháng tiểu cầu-
|
|
|
Aspirin + dipyridamol
|
Thần
kinh mạch máu
|
|
Aspirin + kháng ADP
|
Sau nong mạch vành và stent
|
|
Phối hợp với thuốc kháng đông
|
|
|
Aspirin + kháng vitamin K
|
Van tim nhân tạo
|
|
Aspirin +heparin
|
Nhồi
máu cơ tim cấp
|
|
Phối hợp ba thuốc
|
|
|
Aspirin + abciximab + heparin
|
Tạo h́nh mạch vành
Đau thắt ngực không ổn định
|
Ticlopidin và clopidogrel
-Adenosin diphosphat (ADP) là chất chủ vận
(agonist) yếu nhưng quan trọng của sự kích hoạt tiểu cầu. Dưới tác dụng của ADP,
archidonat được phóng thích và biến đổi thành prostaglandin và thromboxan.
Ticlopidin và clopidogrel ức chế không hồi phục thụ thể ADP trên tiểu cầu. Tiểu
cầu bị ức chế hoàn toàn sau 3-5 ngày điều trị và kéo dài cho đến khi một thế hệ
tiểu cầu mới được tạo lập.
a. Ticlopidin - Chỉ định:
Đột quỵ: Nghiên cứu
CATS(17)
(Canadian-American Ticlopidine Study) trên 1072 BN đột quỵ được dùng ticlopidin
250 mg x 2/ngày cho thấy ticlopidin hiệu quả hơn giả dược trong việc ngừa tai
biến mạch máu năo tái phát. Trong nghiên cứu TASS,(18) ticlopidin 500
mg/ngày hiệu quả hơn aspirin 650 mg x 2 lần/ngày trong việc ngừa thiếu máu năo
thoáng qua.
Tuy nhiên, một tổng quan các nghiên cứu
điều trị kháng tiểu cầu(4) cho thấy ticlopidin không hiệu quả hơn
aspirin trong việc ngừa NMCT, đột quỵ và tử vong do mạch máu. Do các biến chứng
giảm bạch cầu đa nhân, ticlopidin chỉ nên dùng cho các BN không dung nạp aspirin
khi có chỉ định ngừa đột quỵ. Do tác dụng phụ nặng về huyết học, khởi đầu điều
trị với ticlopidin bắt buộc phải kiểm tra công thức bạch cầu mỗi 2 tuần trong 3
tháng đầu.
b. Clopidogrel - chỉ định:
Clopidogrel (Plavix) là một thuốc mới
thuộc cùng nhóm với ticlopidin nhưng không gây giảm bạch cầu. Nghiên cứu CAPRIE(19)
so sánh clopidogrel (75 mg /ngày) với aspirin (325 mg/ngày) trên 19.185 BN mới
bị đột quỵ, NMCT hoặc tắc nghẽn động mạch ngoại biên có triệu chứng. Sau 2 năm
theo dơi, có giảm 8,7% nguy cơ tương đối (RR) về đột quỵ, tử vong do mạch máu và
nhất là NMCT.
Hiện nay, clopidogrel được chỉ định trong
pḥng ngừa tai biến tim mạch ở BN có biểu hiện lâm sàng xơ vữa độ-g mạch.
Clopidogrel không gây giảm bạch cầu nên không cần kiểm tra công thức BC nhưng
nếu BN đă từng bị giảm tiểu cầu với- ticlopidin th́ cần thận trọng khi sử dụng
clopidogrel.
Thuốc kháng GPIIb/IIIa
Cơ chế tác dụng:
Thụ thể GP của tiểu cầu là một protein
xuyên màng gồm hai đơn vị phụ là Iib
và IIIa nối với nhau bằng cầu đồng hóa trị. Mỗi tiểu cầu có 50.000 - 80.000 thụ
thể GP IIb/IIIa, đây là thụ thể đặc hiệu của tiểu cầu có ái tính mạnh với
fibrinogen. Fibrinogen liên kết các tiểu cầu với nhau tạo nên sự kết dính tiểu
cầu và thành lập huyết khối. Thuốc kháng GP IIb/IIIa chẹn thụ thể và ngăn cản sự
nối kết với fibrinogen.
Chỉ định:
. Can thiệp mạch vành:
Nghiên cứu EPIC(20) cho thấy truyền dịch abciximab cho BN nong mạch
vành làm giảm 35% nguy cơ NMCT, tử vong dù có stent hay không, nhất là nếu BN bị
đau thắt ngực không ổn định, hiệu quả này kéo dài đến 6 tháng (giảm 23% biến
chứng) và 3 năm (giảm 13%). Nghiên cứu EPILOG(21)
trên những đối tượng tương tự, cho thấy sử dụng abciximab với heparin liều thấp
cũng hiệu quả như với heparin liều cao, do đó có thể giảm liều heparin khi dùng
abciximab.
.Đau thắt ngực không ổn định:
nghiên cứu- PuRSUIT(22)
cho thấy eptifibatid giảm tỷ lệ NMCT trong 1 tháng sau cơn đau thắt ngực không
ổn định nhất là ở các BN được nong mạch vành, tuy nhiên tỷ lệ tử vong 6 tháng
không giảm. Các nghiên cứu PRISM(23) và PRISM-plus(24) với
tirofiban cũng cho kết quả tươhg tự.
.Nhồi máu cơ tim cấp:
Các nghiên cứu IMPACT-AMI, PARADIGM và TIMI-14 dùng thuốc kháng GPIIb/IIIa với
thuốc tiêu sợi huyết cho thấy tái tưới máu cơ tim- tăng lên mà không tăng tỷ lệ
xuất huyết nộ- sọ so với dùng thuốc tiêu sợi huyết đơn thuần.(25,26)
Tuy nhiên tổng phân tích các nghiên cứu sử
dụng thuốc kháng GP IIb/IIIa- trên 20.000 BN đau thắt ngực không ổn định và nong
mạch vành cho thấy chưa có lợi ích lâm sàng rơ rệt nào, do đó chỉ nên giới hạn
thuốc kháng GP IIb/IIIa- cho các trường hợp nong mạch vành- có nguy cơ huyết
khối cao.(2)
Tác dụng ngoại ư
. Dipyridamol : có thể làm nhức đầu- chóng
mặt, đau thắt ngực (coronary steal), rối loạn tiêu hóa thường gặp.
.Ticlopidin: giảm bạch cầu đa nhân là biến
chứng chính (2,4%) xảy ra trong 3 tháng đầu,- xuất huyết nhẹ (10%), tiêu chảy
(22%).
. Thuốc kháng GP IIb/IIIa: Xuất huyết là
biến chứng chính (14% với abciximab so vơi 7% khi dùng giả dược trong nghiên cứu
EPIC). Giảm tiểu cầu, cơ chế không rơ, có thể do tự miễn, xảy ra rất nhanh trong
ṿng 24 giờ sau khi dùng abciximab, trở về b́nh thường sau khi ngưng thuốc.
Kết luận
Các nghiên cứu thực hiện trên các thuốc
kháng tiểu cầu mới đă cho thấy tính hiệu quả cao trong nhiều t́nh huống lâm
sàng. Tuy nhiên, aspirin vẫn là thuốc kháng tiểu cầu không thể thiếu và thường
là thuốc ưu tiên hàng đầu do rẻ tiền và dễ dung nạp. Trên một số nhỏ bệnh nhân,
aspirin không đủ để chống huyết khối, nên cần phải phối hợp nhiều thuốc kháng
tiểu cầu nhất là phối hợp aspirin và thuốc kháng ADP. Thuốc kháng tiểu cầu làm
giảm sức đề kháng của cơ thể với xuất huyết, do đó phải sử dụng thận trọng ở
bệnh nhân có tiền căn xuất huyết hoặc khuynh hướng xuất huyết, chỉ nên dùng phối
hợp khi có nguy cơ huyết khối quan trọng (thí dụ như ĐTN không ổn định).
Summary
-Antiplatelet agents are effective in
preventing and treating arterial thrombosis, especially coronary events. Aspirin
has been the most widely used and tested drug, its efficacy has been proven in
various forms of coronary artery disease and in the secondary prevention after
an ischemic stroke.It reduces the incidence of myocardial infarction, stroke and
cardiac death. The optimal dose of aspirin remains uncertain, but doses- about
160 to 325 mg daily has become standard.The combination of aspirin and
dipyridamole has been proven to be superior to aspirin in the secondary
prevention of stroke in one trial. Ticlopidine is preferred for stroke
prevention only in those intolerant of aspirin- because of its serious
hematologic side-effects. In a recent meta-analysis, ticlopidine is not better
than aspirin in the prevention of MI, stroke and vascular deah. Clopidogrel is
promising because of its superiority on aspirin (CAPRIE trial) and good
tolerance. Glycoprotein IIb/IIIa antagonists can- cause increased bleeding and-
are limited to angio-plasty with high risk of thrombosis, these new agents need
more testing .
Tài liệu tham khảo
1.
B.J. Gersh. L.H. Opie: Antithrombotic agents. Drugs for the heart.1997,
4th edition p 248-258.
2.
Alain Castaigne: Indications des medicaments antipla-quettaires. Revue du
Praticien. 1999, 49:1635-38
3.
Thomas Lecompte: Medicaments antiplaquettaires et leur maniement. Revue
du Praticien 1999, 49:1627-32.
4.
Collaborative overview of randomised trials of antiplatelet therapy--I:
Prevention of death, myocardial infarction, and stroke by prolonged antiplatelet
therapy in various categories of patients. Antiplatelet Trialists'
Collaboration. BMJ. 1994 Jan 8; 308(6921): 81-106
5.
Double-blind trial of aspirin in primary prevention of myocardial
infarction in patients with stable chronic angina pectoris. The Swedish Angina
Pectoris Aspirin Trial (SAPAT) Group. Juul-Moller-S; Edvardsson-N; Jahnmatz-B;
Rosen-A; Sorensen-S; Omblus-R. Lancet. 1992 Dec 12; 340(8833): 1421-5
6.
Ridker-PM; Manson-JE; Gaziano-JM; Buring-JE; Henne-kens-CH Low-dose
aspirin therapy for chronic stable angina. A randomized, placebo-controlled
clinical trial. Ann-Intern-Med. 1991 May 15; 114(10): 835-9
7.
Theroux-P; Waters-D; Lam-J; Juneau-M; McCans-J. Reactivation of unstable
angina after the discontinuation of heparin N-Engl-J-Med. 1992 Jul 16; 327(3):
141-5
8.
Madsen-JK; Pedersen-F; Amtoft-A; Deding-A; Grande-P; Hansen-JN; Hilden-M;
Hornum-I; Jensen-T; Lindskov-J; et-al. Reduction of mortality in acute
myocardial infarction with streptokinase and aspirin therapy. Results of ISIS-2.
Ugeskr-Laeger. 1989 Oct 2; 151(40): 2565-9
9.
Henderson-WG; Goldman-S; Copeland-JG; Moritz-TE; Harker-LA Antiplatelet
or anticoagulant therapy after coronary artery by pass surgery. A meta-analysis
of clinical trials. Ann-Intern-Med. 1989 Nov 1; 111(9): 743-50
10.
Pfisterer-M; Burkart-F; Jockers-G; Meyer-B; Regenass-S; Burckhardt-D;
Schmitt-HE; Muller-Brand-J; Skarvan-K; Stulz-P Trial of low-dose aspirin plus
dipyridamole versus anticoagulants for prevention of aortocoronary vein graft
occlusion. Lancet. 1989 Jul 1; 2(8653): 1-7
11.
Warfarin versus aspirin for prevention of thromboembolism in atrial
fibrillation: Stroke Prevention in Atrial Fibrillation II Study Lancet
343:687-91, 1994
12.
Swedish Aspirin Low-Dose Trial (SALT) of 75 mg aspirin as secondary prophylaxis
after cerebrovascular ischaemic events. The SALT Collaborative Group. Lancet
338:1345-9, 1991
13.
UK-TIA Study Group. Br Med J 1988; 296:316-20
14.
Hansson L, Zancheti A, Carruthers S et al. Effects of intensive blood pressure
lowering and low dose aspirin in patients with hypertension: principal results
of the hypertension optimal treatment (HOT) randomised trial. Lancet
1998;351:1755-62
15.
Glynn RJ, Buring JE, Manson JE, LaMotte F, Hennekens CH. Adherence to aspirin in
the prevention of myocardial infarction. The Physicians' Health Study. Arch
Intern Med 154:2649-57, 1994
16.
ESPS (European Stroke Prevention Study) Group. Lancet 1987;12 (suppl A):78A-84A
17.
Gent-M; Blakely-JA; Easton-JD; Ellis-DJ; Hachinski-VC; Harbison-JW; Panak-E;
Roberts-RS; Sicurella-J; The Canadian American Ticlopidine Study (CATS) in
thrombo-embolic stroke. Lancet. 1989 Jun 3; 1(8649): 1215-20
18.
Hass-WK; Easton-JD; Adams-HP Jr; Pryse-Phillips-W; Molony-BA; Anderson-S. A
randomized trial comparing ticlopidine hydrochloride with aspirin for the
prevention of stroke in high-risk patients. Ticlopidine Aspirin Stroke Study
(TASS) Group N-Engl-J-Med. 1989 Aug 24; 321(8): 501-7
19.
A randomised, blinded, trial of clopidogrel versus aspirin in patients at risk
of ischaemic events (CAPRIE). CAPRIE Steering Committee. Lancet. 1996 Nov 16;
348(9038): 1329-39
20.
The EPIC Investigation. Use of a monoclonal antibody directed against the
platelet glycoprotein IIb/IIIa receptor in high-risk coronary angioplasty.
N-Engl-J-Med. 1994; 330(14): 956-61
21.
The EPILOG Investigators. Platelet glycoprotein IIb/IIIa receptor blockade and
low-dose heparin during percutaneous coronary revascularization. N-Engl-J-Med.
1997 Jun 12; 336(24): 1689-96
22.
Inhibition of platelet glycoprotein IIb/IIIa with eptifibatide in patients with
acute coranary syndromes. The PURSUIT trial investigators. N Engl J Med
1998;339:436-43.
23.
A comparison of aspirin plus tirofiban with aspirin plus heparin for unstable
angina. Platelet Receptor Inhibition in Ischemic Syndrome Management (PRISM)
Study Investigators. N-Engl-J-Med. 1998; 338(21): 1498-505
24.
Inhibition of the platelet glycoprotein IIb/IIIa receptor with tirofiban in
unstable angina and non-Q-wave myocardial infarction. Platelet Receptor
Inhibition in Ischemic Syndrome Management in Patients Limited by Unstable Signs
and Symptoms (PRISM-PLUS) Study Investigators N-Engl-J-Med. 1998; 338(21):
1488-97
25.
Young Mei Cha . Joseph G Murphy. R Scott Wright. Platelet Glycoprotein IIb/IIIa-
receptor Inhibitors. Mayo clinic Cardiology Review 2nd ed.
2000:1263-80.
26.
Robert D Mc Bane. Treatment and prevention of Arterial Thrombosis. Mayo Clinic
Cardiology Review 2nd ed 2000:1287-93