Thuốc kháng viêm không steroid (KVKS) bao
gồm nhiều thuốc có cấu trúc hóa học khác nhau, phần lớn là các acid hữu cơ,
thường được dùng để giảm đau và kháng viêm. Khái niệm thuốc kháng viêm không
steroid bao gồm cả các dẫn chất salicylat và paracetamol, tuy vậy, trong bài
này chỉ đề cập đến những thuốc được tổng hợp sau năm 1950 (Bảng 1).
Bảng 1. Một số thuốc kháng viêm không chứa steroid thường
dùng (trừ nhóm salicylat và p-aminophenol)
|
Nhóm thuốc
|
Liều tối đa (mg/ngày)
|
|
Indole và acid indene
acetic
|
400
|
Indomethacin
Sulindac
|
200
400
|
|
Acid heteroaryl acetic
|
|
Tolmetin
Diclofenac
|
1800
200
|
|
Acid arylpropionic
|
|
Ibuprofen,
Naproxen,
Flurbiprofen,
Ketoprofen,
Fenoprofen,
|
2400
1000
300
300
3200
|
|
Acid anthranilic (fenamat)
|
|
Acid mefenamic, acid meclofenamic
|
400
|
|
Acid enolic
|
|
Nhóm
oxicam (piroxicam, tenoxicam
----------------- meloxicam)
Nhóm pyrazolidinedion (phenylbutazon)
|
20
15
400
|
|
Acid carboxylic
|
|
Niflusal
|
1500
|
Cơ chế tác dụng chung của những thuốc này
là ức chế hoạt động của các enzym cyclooxygenase (COX), làm giảm tổng hợp các
prostaglandin từ acid arachidonic. Có ít nhất hai loại COX hiện diện trong các
mô cơ thể: COX-1 là thành phần chủ yếu, được t́m thấy nhiều nhất ở thành mạch
máu, dạ dày và thận, có vai tṛ quan trọng trong duy tŕ sự ổn định nội môi ở
cấp độ mô và tế bào; trong khi đó COX-2, cảm ứng bởi các cytokin, thường tham
gia vào phản ứng viêm và có tác dụng xúc tác tạo ra các prostaglandin.(1)
Sự ức chế tổng hợp prostaglandin của KVKS một mặt là yếu tố quyết định tác dụng
kháng viêm của thuốc, nhưng mặt khác lại góp phần tạo nên các tác dụng bất lợi
có thể gặp trên lâm sàng, nhất là khi dùng thuốc kéo dài. Các tác dụng bất lợi
này thường thấy ở đường tiêu hóa và thận. Prostaglandin ở dạ dày-ruột có nhiệm
vụ bảo vệ niêm mạc dạ dày-ruột bằng cách giảm tiết acid dịch vị, tăng sản xuất
bicarbonat và chất nhầy và duy tŕ lượng máu đến niêm mạc ruột,(2)
do đó giảm prostaglandin làm niêm mạc dễ bị tổn thương và có thể bị loét.
Prostaglandin ở thận giúp điều ḥa lượng máu đến thận và giữ vững độ lọc vi cầu
trong trường hợp giảm thể tích tuần hoàn hữu dụng. Do đó, nếu bị ức chế, có thể
sẽ dẫn đến suy thận. Ngoài ra, prostaglandin c̣n ức chế sự tái hấp thu chlor và
chống lại tác dụng của hormon kháng lợi niệu (ADH) ở ống thận, nên sử dụng KVKS
có thể gây giữ nước và muối. Những tác dụng bất lợi này đôi khi có thể dẫn đến
tai biến nguy hiểm.
Hiện nay, KVKS được sử dụng khá rộng răi
trong các bệnh cơ xương khớp đi kèm với hiện tượng viêm. Số bệnh nhân viêm khớp
mạn tính, thấp khớp có nhu cầu dùng thuốc dài ngày, hơn nữa tỉ lệ bệnh khớp tăng
dần theo tuổi - có nghĩa càng nhiều khả năng có những bệnh khác kèm theo - nên
những đối tượng này là cơ địa dễ phát sinh các tác dụng phụ của KVKS.
Loét dạ dày và xuất huyết tiêu hóa
Là tai biến thường gặp nhất, riêng tại Hoa
Kỳ, ước tính hàng năm có khoảng 41000 trường hợp nhập viện và 3300 tử vong do
tai biến ở đường tiêu hóa trên người cao tuổi có liên quan đến KVKS.(3)
Một tổng phân tích các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy có sự khác biệt rất lớn
giữa các loại thuốc về nguy cơ gây loét dạ dày.(4)
Trong số các KVKS thường dùng, th́ ibuprofen và diclofenac có nguy cơ tương đối
thấp nhất; indomethacin, naproxen, sulindac có nguy cơ vừa phải, và azapropazon,
tolmetin, ketoprofen, và piroxicam đi kèm với một nguy cơ cao hơn. Tất nhiên, sự
khác biệt về tỉ suất nguy cơ c̣n liên quan đến liều dùng. Do đó, trong thực
hành, nên kê toa một loại KVKS có nguy cơ thấp với liều thấp nhất nhưng hữu
hiệu. Có thể kết hợp với thuốc có tác dụng bảo vệ tế bào niêm mạc như
misopristol hoặc thuốc ức chế bơm proton để đề pḥng loét và xuất huyết dạ dày
do KVKS.(5)
Suy thận và viêm kẽ thận
Trên người có chức năng thận b́nh thường, KVKS hầu như không gây tai biến ǵ.
Nhưng trong trường hợp giảm thể tích tuần hoàn (suy tim sung huyết, xơ gan cổ
trướng, mất nước, bệnh thận mạn tính.), chức năng thận tùy thuộc vào tác dụng
giăn mạch của prostaglandin, do đó sử dụng KVKS trong những trường hợp này có
thể dẫn đến suy thận cấp thoáng qua, ngay cả khi dùng chế phẩm bôi ngoài da.(6)
Theo dơi cẩn thận creatinin huyết thanh hoặc BUN có thể phát hiện sớm tác dụng
phụ này, nhưng nếu tiếp tục dùng KVKS có thể có nguy cơ hoại tử ống thận hoặc
tổn thương vĩnh viễn ở thận. Viêm kẽ thận cấp cũng có thể xảy thứ phát sau dùng
KVKS nhưng hiếm hơn.
KVKS và huyết áp
Tổng phân tích các nghiên cứu lâm sàng đă
công bố cho thấy KVKS làm tăng huyết áp trung b́nh lên 5 mmHg, một con số có ư
nghĩa lâm sàng, đặc biệt là ở bệnh nhân cao huyết áp đă được kiểm soát ổn định.
Trong số các thuốc có tác dụng phụ này, piroxicam, naproxen và indomethacin là
những thuốc làm tăng áp mạnh nhất, c̣n sulindac th́ yếu nhất. Những bệnh nhân
mới dùng KVKS có nguy cơ phải dùng thuốc hạ áp cao 1,7 lần, và nguy cơ được chẩn
đoán cao huyết áp tăng 40% so với người không dùng. Đặc biệt trên bệnh nhân cao
huyết áp lớn tuổi, khi huyết áp tâm thu tăng 5-6 mmHg trong ṿng vài năm th́
nguy cơ đột quỵ tăng 67% và nguy cơ tai biến mạch vành tăng 15%.(7)
Cơ chế của hiện tượng tăng áp là do giữ nước và muối, đi đôi với tăng sức cản
mạch máu, thông qua sự tăng tổng hợp endothelin-1 ở thận. Do vậy, khi sử dụng
KVKS trên bệnh nhân đang điều trị thuốc hạ áp, cần chú ư hiện tương này, nhất là
khi sử dụng indomethacin, naproxen và piroxicam, chúng có tác dụng đối kháng
thuốc chẹn bêta mạnh hơn với các thuốc giăn mạch (ức chế men chuyển và chẹn kênh
calci) và thuốc lợi tiểu.-
KVKS và người cao tuổi
Ray và cộng sự(8) ước tính rằng
có 10-15% số người trên 65 tuổi được kê toa sử dụng KVKS, và một tỉ lệ tương
đương tự mua dùng. Đối tượng cao tuổi có thể hay gặp tác dụng phụ của KVKS v́
đặc điểm sinh lư của tuổi già làm thay đổi dược động học của thuốc và chức năng
sinh lư của prostaglandin. Tuy vậy, chưa có công tŕnh nào khẳng định hai yếu tố
trên có liên quan trực tiếp đến xuất độ tai biến do KVKS ở người già. Dược động
học của nhóm acid propionic (naproxen, ibuprofen, ketoprofen) dường như ít thay
đổi với tuổi, trong khi độ thanh thải của nhóm oxicam ở người già giảm rơ rệt so
với người trẻ, tuy vậy các thông số khác (thể tích phân bố, diện tích dưới đường
cong và thời gian bán hủy) khác nhau không có ư nghĩa. Các dẫn xuất của
pyrazolon hầu như không c̣n được dùng v́ độc tính huyết học. Quá tŕnh tích tuổi
đi kèm với những thay đổi trong sinh lư tiêu hóa, đặc biệt là giảm
prostaglandin, có thể góp phần tăng nguy cơ độc tính của KVKS trên dạ dày-ruột.
Trái lại, prostaglandin ở thận có suy giảm hay không th́ c̣n nhiều ư kiến trái
ngược nhau.
Về mặt dịch tễ học, người ta ghi nhận có
sự liên quan giữa xuất độ tai biến do KVKS với tuổi tác. Người cao tuổi có nguy
cơ cao xuất huyết dạ dày nhưng không thể hoàn toàn qui kết cho KVKS, v́ phần lớn
các nghiên cứu không kiểm soát được các yếu tố nguy cơ khác vốn có thể gây xuất
huyết tiêu hóa.(9) Đối với độc tính thận của KVKS cũng vậy. Một tiền
cứu trên 114 bệnh nhân cao tuổi,(10) được chăm sóc dài ngày, có dùng
KVKS, nhận thấy có 15 đối tượng tăng urê-máu trên 50% nhưng không thể loại trừ
tác dụng của việc đồng thời sử dụng nhiều thuốc khác. Do vậy, có thể nói việc
hay sử dụng KVKS và tỉ lệ bệnh tật cao ở tuổi già, kèm với việc dùng cùng lúc
nhiều thuốc khác, là những yếu tố chính khiến cho các tai biến liên quan với
KVKS hay xảy ra ở người cao tuổi.
Bảng 2. Một số thuốc ức chế COX-2
|
Tên thuốc
|
Ức chế chọn lọc COX-2
|
Liều tối đa
(mg/ngày)
|
|
Nimesulid
Meloxicam
Celecocib
Rofecocib
|
gấp 5-16 lần so với COX-1
gấp 70 lần so với COX-1
gấp 375 lần so với COX-1
gấp >800 lần so với COX-1
|
400
15
400
25 mg (pha III)
|
Tính an toàn của thuốc ức chế COX-2
Hiện nay các thuốc ức chế chọn lọc COX-2
(Bảng 2) được xem là ít tác dụng phụ trên dạ dày. Tuy vậy, đối với những thuốc
hiện có, không có thuốc nào hoàn toàn ức chế COX-2 mà không tác động đến COX-1.
Hơn nữa, viêm dạ dày do H. pylori được biểu hiện qua COX-1, nên nhóm
thuốc này vẫn có thể ức chế prostaglandin có nguồn gốc ở dạ dày.(11)
Nimesulid, ra đời năm 1985, không vượt trội hơn các KVKS khác về tính an toàn
cho dạ dày. Đối với các loại ức chế COX-2 mới hơn, những nghiên cứu gần đây cho
thấy đặc điểm an toàn của chúng tốt hơn. Trong các thử nghiệm lâm sàng qui mô
lớn, meloxicam liều 7,5 mg/ngày dùng trong một tháng ít gây triệu chứng bất lợi
ở dạ dày hơn so với piroxicam 20mg /ngày hoặc diclofenac 100mg /ngày.(12,13)
Celecocib liều 100 hoặc 200 mg, ngày 2 lần, trong 3-6 tháng ít gây loét dạ dày
hơn naproxen và diclofenac.(14) Hiện chưa- có số liệu về xuất độ loét
dạ dày trên bệnh nhân dùng rofecocib liều 25 mg/ngày, một thuốc ức chế chọn lọc
COX-2 c̣n đang thử nghiệm lâm sàng giai đoạn III.
Kết luận
Trong thực hành, việc chọn lựa sử dụng
KVKS để điều trị triệu chứng ngắn ngày thường không được đặt thành vấn đề; nhưng
nếu sử dụng dài hạn trên bệnh nhân (thấp khớp, viêm xương-khớp) cần xem xét
nhiều yếu tố trước khi chọn thuốc. Ngoài những tác dụng phụ cần lưu ư như bất kỳ
thuốc nào khác (dị ứng, kích ứng niêm mạc dạ dày, gây loét và xuất huyết dạ
dày.), để bảo đảm an toàn khi dùng KVKS cần xét đến t́nh trạng của bệnh nhân như
tuổi tác, bệnh kèm theo (cao huyết áp, suy tim mất bù, bệnh thận mạn tính, xơ
gan.) và những thuốc được dùng chung. Về hiệu quả, hiện không có bằng chứng rơ
rệt loại KVKS nào là loại ưu việt hẳn. Do đó, với một hiệu quả mong muốn, khi kê
toa cần chọn loại KVKS nào an toàn nhất đối với bệnh nhân và với một chi phí
chấp nhận được. Tuy vậy điều quan trọng vẫn là phải cảnh giác đề pḥng bằng cách
theo dơi bệnh nhân và nếu có thể nên dùng thêm thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày.---
SUMMARY
For a safer use of nonsteroidal anti-inflammatory dRugs
Nonsteroidal anti-inflammatory drugs
(NSAIDs) continue to be used very widely in the community. A large number of
NSAIDs now exist, and concern over the widespread use of NSAIDs is largely
related to their side-effects. These include adverse reactions in the
gastrointestinal tract, kidney, and others organs which may be due to the
inhibition of biosynthesis of constitutive prostaglandins. In addition, there is
now increasing evidence of adverse effects of NSAIDs in the elderly or in
patients with controlled hypertension, though other factors could not be
definitely excluded.--
New COX-2 inhibitors seem to be safer in
regards to gastric intolerability for long-term therapies. But older NSAIDs can
be used appropriately in combi-nation with gastric cytoprotective drugs or
proton-pump inhibitors.- Nevertheless, for safer use of NSAIDs, It is reasonable
to take into account a lot of factors such as patient-s conditions,
co-medications and other available therapeutic options before deciding a
long-term NSAID prescription.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Seibert K, Zhang Y, Leahy K, et al.
Pharmacological and biochemical demonstration of the role of cyclooxygenase-2 in
inflammation and pain. Proc Nat Acad Sci. 1994;90:11693-11697.
2. Soll AH. Nonsteroidal anti-inflammatory drugs and
peptic ulcer diseases. Ann Intern Med. 1991; 114:307-319.
3. Griffin MR. Epidemiology of nonsteroidal
anti-inflammatory drug-associated gastrointestinal injury. Am J Med.
1998; 104 suppl 3A): 23S-29S
4. Garcia Rodriguez LA. Variability in risk of
gastrointestinal complications with different nonsteroidal anti-inflammatory
drugs. Ibid, 30S-34S.
5. Bensen W, Zizzo A. Newer, safer nonsteroidal
anti-inflammatory drugs. Rational NSAID selection for arthritis. Can Fam
Physician. 1998; 44: 101-2, 105-107
6. Krummel Y, Dimitrov Y, Moulin B, Hannedouche T.
Acute renal failure induced by topical ketoprofen. BMJ 2000;320:93.
7. Johnson AG. NSAIDs and increased blood pressure.
What is the clinical significance- Drug Saf. 1997; 17(5): 277-289
8. Ray WA, Griffin MR, Avorn J. Evaluating drugs
after their approval for clinical use. N Engl J Med. 1993;329:2029-2032.
9. Salomon DH, Gurwitz JH. Toxicity of nonsteroidal
anti-inflammatory drugs in the elderly: Is advanced a risk factor- Am J Med.
1997;102:208-215.
10. Gurwitz JH, Avorn J, Ross-Degnan D, Lipsitz LA.
Nonsteroidal anti-inflammatory drug-associated azotemia in the very old. JAMA.
1990;264:471-475.--
11. Jackson LM, Wu K, Mahida YR, et al. COX-1
expression in human gastric mucosa infected with Helicobacter pylori:
constituve or induced- Gastroenterology. 1998;114: A160
12. Dequerker J, Hawkey C, Kahan A, et al.
Improvement in gastrointestinal tolerability of the selective cyclooxygenase
(COX)-2 inhibitor, meloxicam, compared with piroxicam: results of the safety and
efficacy large-scale evaluation of COX-inhibiting therapies (SELECT) trial in
osteoarthritis. Br J Rheumatol 1998; 37:956-951.
13. Hawkey C, Kahan A, Steinbruck K, et al.
Gastrointestinal tolerabability of the COX-2 inhibitor, meloxicam, in
osteo-arthritis patients: the meloxicam large-scale evaluation international
study safety assessment (MELISSA). Br J Rheumatol. 1998; 37:037-945.
14. Hawkey CJ. COX-2 inhibitors. Lancet 1999;
353:307-314.