Đă từ nhiều thập niên, hội chứng suy tim
vẫn đuợc quan niệm như một rối loạn về huyết động học. Trong đó, suy tim được
định nghĩa là một t́nh trạng bệnh lư mà tim không đảm đương nổi vai tṛ bơm máu
của ḿnh. Gần đây, suy tim được bắt đầu xem xét dưới góc độ một rối loạn thần
kinh-thể dịch có tính hệ thống. Cách nh́n mới này giúp hiểu rơ hơn về cơ chế
sinh lư bệnh của suy tim, đồng thời cũng đưa đến những hệ quả điều trị quan
trọng, mà sự trở lại của thuốc chẹn bêta trong điều trị suy tim là một thí dụ
điển h́nh.
SỰ ĐIỀU H̉A THỂ TÍCH DỊCH LƯU THÔNG TRONG CƠ THỂ
Có những bằng chứng cho thấy các bệnh lư
có phù như suy tim, xơ gan hay t́nh trạng phù ở những thai phụ b́nh thường đều
do một cơ chế rối loạn chuyển hóa muối nước duy nhất.(1-3)
Giả thiết này cho rằng sự toàn vẹn của tuần hoàn động mạch (biểu hiện qua cung
lượng tim và kháng lực ngoại biên) là yếu tố quan trọng nhất quyết định việc
thải trừ muối và nước trong t́nh trạng sinh lư cũng như bệnh lư. Giảm cung lượng
tim hay giăn mạch quá mức sẽ dẫn đến một t́nh trạng bệnh lư được gọi là hiện
tượng giảm đổ đầy động mạch (arterial underfilling). Hiện tượng này sẽ
kích hoạt một loạt những phản xạ thần kinh thể dịch gây ứ đọng muối và nước. Đi
xa hơn, người ta c̣n cho rằng hiện tuợng ứ muối và nước, kết hợp với suy chức
năng tâm thất là một định nghĩa mới mang tính lâm sàng của hội chứng suy tim.
KHÁI NIỆM GIẢM ĐỔ ĐẦY ĐỘNG MẠCH
Sự toàn vẹn của tuần hoàn động mạch, biểu
hiện qua cung lượng tim và kháng lực ngoại biên, đă được xác định là những yếu
tố chủ chốt để điều ḥa việc thải trừ muối và nước trong cơ thể. Nhiều hệ thống
cảm thụ cơ học có thể cảm ứng với sự giảm đổ đầy động mạch và đưa đến những thay
đổi sâu sắc trong chuyển hóa muối-nước. Những áp cảm thụ quan tại thất trái,
xoang cảnh và tiểu động mạch đến của thận sẽ giảm hoạt độ trong trường hợp giảm
huyết áp toàn thân, giảm thể tích tống máu, giảm tưới máu thận hay giảm kháng
lực mạch máu ngoại biên. Kết quả là làm tăng trương lực giao cảm đi ra từ hệ
thần kinh trung ương, hoạt hóa hệ thống RAA, tăng phóng thích arginin
vasopressin (không qua cơ chế thẩm thấu) và gây ra khát. (H́nh 1).
Hầu hết những BN suy tim đều có cung lượng tim thấp. Tuy nhiên, dựa trên khái
niệm giảm đổ đầy động mạch mới có thể giải thích được v́ sao trong những t́nh
trạng cung lượng tim cao như cường giáp, beri-beri, và một số hội chứng khác vẫn
có thể gây suy tim. Cơ chế của hiện tượng này là sự giảm đổ đầy động mạch do
giăn mạch quá mức, như vẫn thấy trong xơ gan, ṛ động tĩnh mạch, có thai, hay
khi sử dụng những chất giăn mạch mạnh như minoxidil.
|
Suy tim cung
lượng cao
|
|
|
|
Suy tim cung
lượng thấp
|
|
 
|
|
|
|
|
|
|
- kháng lực mạch máu
ngoại biên
|
|
- cung lượng tim
|
|
|
 
|
|
|
|
|
|
|
|
-
Đổ đầy động mạch
|
|
|
|
  
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
  - phóng thích vasopressin không qua cơ chế
thẩm thấu
|
|
- hoạt tính giao cảm
trung ương
|
|
- kích hoạt hệ thống RAA
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Giảm tuới máu thận và gây
ứ muối và
nước
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
H́nh 1. Nguyên
nhân và hậu quả của hiện tượng giảm đổ đầy động mạch trên bệnh nhân suy tim
V́ vậy, hiện tượng giảm đổ đầy động mạch
được xem như một cơ chế mang tính đầu mối và đồng nhất dẫn đến những rối
loạn sinh lư bệnh trong tất cả các trạng thái lâm sàng của hội chứng suy tim,
bất kể cung lượng tim cao hay thấp.
HỆ THẦN KINH GIAO CẢM TRONG SUY TIM
Sự kích hoạt hệ giao cảm từ những áp cảm
thụ quan trong suy tim sẽ gây ra nhiều hệ quả lâm sàng: tăng co cơ tim, nhịp tim
nhanh, co động mạch và dẫn đến tăng hậu tải, co tĩnh mạch và dẫn đến tăng tiền
tải. Các thụ thể bêta ở tim cũng bị điều ḥa ngược (down-regulated) hay mất song
hành (uncoupling) giữa các thụ thể
b1 và
b2.
Việc kích hoạt giao cảm cũng làm tăng
phóng thích norepinephrin và được xem là một cơ chế bù trừ quan trọng trong suy
tim. Tăng norepinephrin tại chỗ hay trong tuần hoàn sẽ gây ph́ đại cơ tim và gây
kích thích quá mức những thụ thể
a và
b, cũng như kích hoạt
hệ thống RAA. Tuy là một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng, norepinephrin
được ghi nhận là có tính độc cho tế bào cơ tim và là chất khởi động quá tŕnh
chết tế bào theo chương tŕnh (apoptosis). Trên BN suy tim, khi nồng độ
norepinephrin huyết thanh tăng trên 800 pg/ml, tỷ lệ sống sót sau 1 năm là dưới
40%.(4) Những quan sát quan trọng này là tiền đề cho việc sử dụng
những thuốc chẹn bêta không chọn lọc hay những thuốc có thể chẹn cả thụ thể bêta
và alpha trong điều trị suy tim.(5)
Sự kích hoạt hệ thống RAA do kích thích
giao cảm cũng là một nguyên nhân quan trọng gây ứ muối và nước. Trên mô h́nh suy
tim thực nghiệm, có thể giảm sự ứ đọng Na bằng cách cắt bỏ thần kinh giao cảm
của thận.(6)
Trong một thời gian dài, thuốc chẹn bêta
bị chống chỉ định trong suy tim. Tuy nhiên, với cách nh́n nhận mới về tác dụng
có hại của hiện tượng hoạt hóa giao cảm quá mức trên BN suy tim, vấn đề sử dụng
thuốc chẹn bêta không chọn lọc hay những thuốc có thể chẹn cả thụ thể bêta và
alpha đă được xem xét lại. Năm 1997, FDA đă công nhận carvedilol là thuốc chẹn
bêta đầu tiên được chỉ định trong điều trị suy tim thuộc phân nhóm NYHA II và
III. Mặc dù những ưu điểm của carvedilol được qui cho tác dụng chẹn bêta, tính
chất chẹn alpha và chống tăng sinh, chống ôxy-hóa của thuốc cũng quan trọng
không kém. Tính chất chống ôxy-hóa giúp giảm nhẹ những tác dụng độc của các tác
nhân ôxy-hóa, hay qua tác dụng gián tiếp do việc giảm tiêu thụ oxygen1a.
HỆ RENIN-ANGIOTENSIN-ALDOSTERON (RAA)
Trong hầu hết BN suy
tim, hoạt tính của hệ thống RAA tăng và có ư nghĩa tiên lượng như norepinephrin
huyết tương.(8,9) Những BN có hoạt độ renin thấp sẽ có tiên lượng tốt
hơn. Những BN suy tim nhẹ th́ hoạt độ renin huyết tương và aldolteron máu b́nh
thường hay chỉ tăng nhẹ, một phần là do tăng thể tích máu và pha loăng tuần
hoàn. Ở những BN suy tim nặng, cả hoạt độ renin và aldosteron đều tăng.
Không chỉ gia tăng về nồng độ, tác dụng
của aldosteron trên BN suy tim cũng kéo dài hơn so với người b́nh thường. Trên
người b́nh thường, việc sử dụng mine-ralocorticoid liều cao sẽ làm tăng thể tích
dịch ngoại bào từ 1,5-2 lit. Tuy nhiên, sự ứ đọng natri này sẽ tự chấm dứt sau
khi thận tự lập lại cân bằng natri. Điều này giải thích v́ sao ít gặp triệu
chứng phù trên BN cường aldosteron nguyên phát. Hiện tượng tránh thoát tác dụng
giữ muối do mineralocorticoid (escape phenomenon) được giải thích là do tăng
tổng lượng natri được đưa tới vị trí tác động của aldosteron tại ống góp.(10)
Và việc "quá tải" natri tương đối tại vị trí này sẽ làm cho một phần natri thoát
khỏi tác dụng tái hấp thu của aldosteron.
Tuy nhiên, hiện tượng thoát khỏi tác dụng
giữ muối do mineralocorticoid không xảy ra trên BN suy tim. Ngoài ra, những BN
này có đáp ứng tăng natri-niệu với spiro-nolacton, một chất chẹn thụ thể
aldosteron. Cơ chế để giải thích là sự kích thích alpha giao cảm và angiotensin
II làm tăng vận chuyển natri qua ống thận gần, dẫn đến giảm lượng natri qua ống
góp. Trên nền tảng hệ thống RAA đă được kích hoạt, việc giảm natri đến ống góp
sẽ làm hạn chế hiện tượng thoát khỏi tác dụng giữ muối của aldosterone.(11-13)
(H́nh 2)
|
|
Giảm cung lượng tim hay giăn mạch
ngoại biên nguyên phát
|
|
|
   
|
|
|
|
|
|
|
Co mạch thận
|
|
-
áp lực tưới máu thận
|
|
-
hoạt tính
a giao cảm
|
|
- hoạt tính
angiotensin II
|
|
   
|
|
|
|
|
|
|
 
|
-
độ lọc vi cầu thận
|
|
-
tái hấp thu muối và nước ở ống thận gần
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- lượng nước và muối đến
ống thận xa
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Giảm việc thoát ức chế khỏi tác dụng của aldosteron và đề kháng với peptid
lợi niệu natri
|
|
|
 
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Ứ ĐỌNG MUỐI VÀ NƯỚC
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
H́nh 2. Cơ chế hiện tượng thoát ức chế
Vai tṛ của aldosteron trong suy tim lại
được chứng minh rơ ràng hơn qua nghiên cứu Randomized Aldacton Evaluation
Study. Nghiên cứu này trên 1663 BN, cho thấy aldacton với liều thấp 25-50
mg/ngày làm giảm 30% nguy cơ tử vong ở BN suy tim.(14)
Angiotensin II cũng có vai tṛ quan trọng
trong chức năng thận ở BN suy tim. Chất này gây co cả động mạch đến và đi của
thận. Tại vi cầu thận, angiotensin làm co mô kẽ, gây giảm diện tích lọc của vi
cầu. Trên BN suy tim nặng, angiotensin II giúp duy tŕ áp suất mao mạch vi cầu
thận và độ lọc vi cầu qua việc co các động mạch đi.(15) Điều này giải
thích v́ sao trên nhiều BN suy tim nặng, thuốc ức chế men chuyển có thể làm chức
năng thận xấu đi thông qua việc chẹn tác dụng co mạch thận của angiotensin II.
Mới đây, một nghiên cứu so sánh captopril và losartan, một chất đối kháng thụ
thể angiotensin II, đă không cho thấy sự khác biệt về nồng độ creatinin-huyết,
cũng như tăng kali-huyết không phải là biến chứng phổ biến.(16)
Bên cạnh tác dụng làm tăng huyết áp và hậu
tải, angiotensin II c̣n làm tăng phân bào ở cơ tim, là tiền đề của tái cấu trúc
cơ tim. Điều này giải thích v́ sao thuốc ức chế men chuyển có thể ngăn chặn quá
tŕnh tái cấu trúc. Tác dụng của những thuốc chẹn thụ thể angiotensin II dường
như không khác biệt so với những thuốc ức chế men chuyển. Tuy vậy, cần phải xác
định thêm về hiệu quả giảm tử vong của thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên BN
suy tim.
BN suy tim vẫn thấy khát và uống nhiều mặc
dù có áp thẩm máu thấp, đây là một yếu tố ức chế hiện tượng khát. Cơ chế là do
angiotensin II kích thích trung tâm khát trung ương.(17)
Hệ quả lâm sàng cần lưu ư là những BN có natri máu thấp thường có khuynh hướng
dễ loạn nhịp và đáp ứng nhạy hơn với thuốc ức chế men chuyển so với BN có natri
máu b́nh thường.(7)
TĂNG PHÓNG THÍCH ARGININ VASOPRESSIN (AVP) KHÔNG DO TĂNG ÁP THẨM THẤU
Ứ muối và nước trong suy tim có thể dẫn
đến hạ natri máu. Trong thực hành, hạ natri máu là một dấu hiệu chỉ điểm tiên
lượng xấu trong suy tim.(17) Nguyên nhân hạ natri máu một phần là do
hiện tượng uống nhiều. Tuy nhiên, trên người b́nh thường, uống nhiều hiếm khi
đưa đến hạ natri máu v́ khả năng đào thải nước tự do của thận rất lớn (10-15
l/ngày). Trên BN suy tim và có hạ natri máu, việc giảm áp thẩm máu, b́nh thường
sẽ ức chế phóng thích AVP, lại liên quan với sự gia tăng nồng độ AVP một cách
hằng định.(18)
Quan sát này cho thấy vai tṛ quan trọng của AVP trong việc điều chỉnh hạ natri
máu. Do tăng áp suất nhĩ trong suy tim, có thể xảy ra phản xạ Henry Gauer. Phản
xạ này ức chế phóng thích AVP, gây tăng thải nước.(19) Tuy nhiên, sự
kích hoạt các áp cảm thụ quan ở xoang cảnh do giảm đổ đầy động mạch là một yếu
tố làm tăng tiết AVP. Và v́ khả năng đào thải nước tự do giảm ở BN suy tim,
người ta cho rằng sự kích hoạt các áp cảm thụ quan ở xoang cảnh do giảm đổ đầy
động mạch là hiện tượng ưu thế trong suy tim.(20)
Tuy nhiên, các nghiên cứu về vai tṛ của
những chất đối kháng vasopressin trong điều trị suy tim ứ huyết chỉ đang ở trong
giai đoạn thực nghiệm.(7)
PEPTID lợi niệu NATRI (PLNN)
PLNN nhĩ là một peptid có 28 acid amin
được tổng hợp từ nhĩ và một phần nhỏ từ thất, được phóng thích vào tuần hoàn
trong những trường hợp có căng nhĩ. Ngoài ra, c̣n có PLNN tưp B hay PLNN năo là
một peptid có 32 acid amin được tổng hợp từ thất, và cũng tăng phóng thích vào
tuần hoàn trong suy tim. V́ PLNN năo tăng trong suy tim hay suy chức năng thất ở
giai đoạn sớm, người ta hy vọng nó có thể là một chất chỉ điểm nhạy trong chẩn
đoán trong suy tim.(21)
Tại thận, PLNN nhĩ làm tăng độ lọc vi cầu
và làm giảm khả năng tái hấp thu natri tại ống góp. PLNN nhĩ c̣n ức chế phóng
thích renin và aldosteron. PLNN năo có tác dụng tương tự như PLNN nhĩ.(22-23)
Các PLNN là một cơ chế bù trừ quan trọng
về thể dịch trong suy tim. Tuy nhiên, BN suy tim lại đề kháng với PLNN ngoại
sinh. Sự đề kháng này có thể do hiện tượng điều ḥa ngược (down-regulation) của
những thụ thể PLNN ở thận, tăng thoái biến PLNN tại ống lượn xa, hay do giảm
lượng natri đến ống góp v́ giảm độ lọc cầu thận hay do tăng tái hấp thu Na tại
ống lượn gần.(24-25) Tuy vậy, những ứng dụng lâm sàng dựa trên những
hiểu biết mới về vai tṛ sinh lư của PLNN chỉ mới ở giai đoạn bắt đầu.
CÁC yếu tố NỘI MẠC
Prostacyclin và prostaglandin E là những
chất giăn mạch được t́m thấy ở tiểu động mạch đến của cầu thận. Angiotensin II,
norepinephrin và sự kích thích thần kinh giao cảm thận làm tăng tổng hợp những
prostaglandin giăn mạch này. Hậu quả là đối kháng lại hiện tượng co mạch thận do
những kích thích thần kinh-nội tiết trong suy tim.(26) Do đó, những
BN suy tim và sử dụng thuốc kháng viêm không steroid có thể rơi vào t́nh trạng
suy thận cấp do sự ức chế cyclo-oxygenase, enzym chủ chốt trong quá tŕnh tổng
hợp prostaglandin.(27)
Nitric oxid (NO) cũng là một chất giăn
mạch mạnh được tổng hợp từ lớp nội mạc qua trung gian NO synthase. Trong suy
tim, hoạt tính của enzym này giảm đi, do đó, khuynh hướng co mạch do angiotensin
II, norepinephrin và AVP chiếm ưu thế so với tác dụng giăn mạch của NO.
Endothelin là một chất co mạch mạch. Có
mối tương quan giữa nồng độ endothelin và tiên lượng trên BN suy tim thuộc phân
nhóm NYHA III và IV. Chất đối kháng thụ thể endothelin BQ-123 làm tăng tỷ lệ
sống trên chuột bị suy tim.(28)
Nồng độ của yếu tố hoại tử mô (TNF) cũng
tăng trong suy tim. TNF làm giảm chức năng cơ tim và kháng thể chống TNF cải
thiện được chức năng tim ở những BN nhiễm trùng huyết. TNF cũng làm tăng hoạt
tính của NO synthase trên cơ trơn mạch máu.(29-30)
KẾT LUẬN
Khái niệm giảm đổ đầy động mạch giúp giải
thích những rối loạn thần kinh thể dịch trong suy tim, bất kể cung lượng tim cao
hay thấp. Về lâu dài, những rối loạn thần kinh thể dịch sẽ gây ra những hậu quả
xấu như phù phổi, hạ natri máu, tăng tiền tải và hậu tải, và tái cấu trúc cơ
tim.
Cách nh́n hội chứng suy tim dưới góc độ
thần kinh-nội tiết cũng dẫn đến những hệ quả điều trị quan trọng. Qua đó, các
thuốc ức chế men chuyển được xem là một bước ngoặ- quan trọng trong điều trị suy
tim vào thập kỷ 80. Và mới đây, sự trở lại của các thuốc chẹn bêta mà đại diện
là carvedilol trong điều trị suy tim cũng là một sự kiện đáng quan tâm, cả về lư
thuyết lẫn thực hành.
SUMMARY
CURRENT CONCEPTS ON HEART FAILURE SYNDROME AS A SYSTEMIC
NEUROHUMORAL DISORDER AND ITS CLINICAL IMPACTS
For a
long time, heart failure (HF) syndrome has been considered as a haemodynamic
disorder. In recent years, much more has been learned about the pathophysiology
of HF, particularly in the area of fluid and electrolyte metabolism. Arterial
underfilling phenomenon in HF initiates neurohumoral cascades including of the
activation of the sympathetic nervous system and the renin-angiotensin -
aldosterone (RAA) system, and the nonosmotic release of vasopressin, all of
which maintain an effective perfusion to vital organs. Over the long term, these
neurohumoral reflexes may have deleterious effects that include pulmonary edema,
hyponatremia, increased after-load and preload, and myocadial remodeling. The
therapeutic relevance of this complex sequence of events has led to beneficial
treatments- in addition to diuretics and/or digitalis, namely, angiotensin
converting enzyme inhibitors and
b-adrenergic
receptor blockers.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Schrier RW. Pathogenesis of sodium and water
retention in high-output and low-output cardiac failure, nephrotic syndrome,
cirrhosis, and pregnancy. N Engl J Med 1988; 319:1065-72, 1127-34. [Erratum, N
Engl J Med 1989; 320:676.]
2. Schrier RW. Body fluid volume regulation in health
and disease: a unifying hypothesis. Ann Intern Med 1990; 113: 155-9.
3. Schrier RW. A unifying hypothesis of body fluid
volume regulation: the Lilly Lecture 1992. J R Coll Physicians Lond 1992;
26:295-306.
4. Cohn JN, Levine TB, Olivari MT, et al. Plasma
norepinephrine as a guide to prognosis in patients with chronic congestive heart
failure. N Engl J Med 984;311:819-23.
5. Mann DL, Kent RL, Parsons B, Cooper G IV.
Adrenergic effects on the biology of the adult mammalian cardiocyte. Circulation
1992;85:790-804.
6. DiBona GF, Herman PJ, Sawin LL. Neural control of
renal function in edema forming states. Am J Physiol 1988; 254: R1017-R1024.
7. Robert W. Schrier, William T. Abraham, Hormones
and hemodynamics in heart failure N Engl J Med 1999;341:577-85
8. Francis GS, Benedict C, Johnston DE, et al.
Comparison of neuroendocrine activation in patients with left ventricular
dysfunction with and without congestive heart failure: a substudy of the Studies
of Left Ventricular Dysfunction (SOLVD). Circulation 1990; 82:1724-9.
9. Levine TB, Francis GS, Goldsmith SR, Simon AB,
Cohn JN. Activity of the sympathetic nervous system and renin-angiotensin system
assessed by plasma hormone levels and their relation to hemodynamic abnorma
lities in congestive heart failure. Am J Cardiol
1982;49:1659-66.
10. Schrier RW, Better OS. Pathogenesis of ascites
formation: mechanism of impaired aldosterone escape in cirrhosis. Eur J
Gastroenterol Hepatol 1991;3:721-9.
11. Hensen J, Abraham WT, D.rr J, Schrier RW.
Aldosterone in congestive heart failure: analysis of determinants and role in
sodium retention. Am J Nephrol 991;11:441-6.
12. Bell-Reuss E, Trevino DL, Gottschalk CW. Effect
of renal sympathetic nerve stimulation on proximal water and sodium
reabsorption. J Clin Invest 976;57:1104-9.
13. Meyers BD, Deen WM, Brenner BM. Effects of
norepinephrine and angiotensin II on the determinants of glomerular
ultrafiltration and proximal tubule fluid reab-sorption in the rat. Circ Res
1983;37:101-10.
14. Pitt B, Zannad F, Remme WJ, et al. The effect of
spironolactone on morbidity and mortality in patients with severe heart failure.
N Engl J Med (in press).
15. Suki WN. Renal hemodynamic consequences of
angiotensin-converting enzyme inhibition in congestive heart failure. Arch
Intern Med 1989; 149:669-73.
16. Pitt B, Segal R, Martinez FA, et al. Randomised
trial of losartan versus captopril in patients over 65 with heart failure.
Lancet 1997;349:747-52.
17. Lee WH, Packer M. Prognostic importance of serum
sodium concentration and its modification by converting-enzyme inhibition in
patients with severe chronic heart failure. Circulation 1986;73:257-67.
18. Szatalowicz VL, Arnold PE, Chaimovitz C, Bichet
D, Berl T, Schrier RW. Radioimmunoassay of plasma arginine vaso-pressin in
hyponatremic patients with congestive heart failure. N Engl J Med
1981;305:263-6.
19. Gauer OH, Henry JP, Sieker HO, et al. The effect
of negative pressure breathing on urine flow. J Clin Invest 1954; 33:287-96.
20. Seibold A, Rosenthal W, Barberis C, Birnbaumer M.
Cloning of the human type-2 vasopressin receptor gene. Ann N Y Acad Sci
1993;689:570-2.
21. McDonagh TA, Robb SD, Murdoch DR, et al.
Biochemical detection of left-ventricular systolic dysfunction. Lancet 1998;
351:9-13.
22. Kim JK, Summer SN, D.rr J, Schrier RW. Enzymatic
and binding effects of atrial natriuretic factor in glomeruli and nephrons.
Kidney Int 1989;35:799-805.
23. Dunn BR, Ichikawa I, Pfeffer JM, Troy JL, Brenner
BM. Renal and systemic hemodynamic effects of synthetic atrial natriuretic
peptide in the anesthetized rat. Circ Res 1986;59:237-46.
24. Cody RJ, Atlas SA, Laragh JH, et al. Atrial
natriuretic factor in normal subjects and heart failure patients: plasma levels
and renal, hormonal, and hemodynamic responses to peptide infusion. J Clin
Invest 1986;78:1362-74.
25. Abraham WT, Hensen J, Kim JK, et al. Atrial
natriuretic peptide and urinary cyclic guanosine monophosphate in patients with
chronic heart failure. J Am Soc Nephrol 1992; 2:1697-703.
27. Walshe JJ, Venuto RC. Acute oliguric renal
failure by indomethacin: possible mechanism. Ann Intern Med 1979; 91:47-9.
28. Sakai S, Miyauchi T, Kobayashi M, Yamaguchi I,
Goto K, Sugishita Y. Inhibition of myocardial endothelin pathway improves
long-term survival in heart failure. Nature 1996;384:353-5.
29. Levine B, Kalman J, Mayer L, Fillit HM, Packer M.
Elevated circulating levels of tumor necrosis factor in severe chronic heart
failure. N Engl J Med 1990;323:236-41.
30. Boekstegers P, Weidenhofer S, Zell R, et al.
Repeated administration of a F(ab')2 fragment of an anti-tumor necrosis factor
alpha monoclonal antibody in patients with severe sepsis: effects on the
cardiovascular systemand cytokine levels. Shock 1994;1:237-45.