|
Suy thẬn cẤp do bôi
ketoprofen tẠi chỖ
Suy thận cấp đă từng được biết
là một biến chứng của thuốc kháng viêm không steroid (NSAID). Ngược lại, nếu
dùng những thuốc này dưới dạng bôi tại chỗ thường được xem là an toàn v́ mức hấp
thu qua da chỉ từ 5 đến 8%. T. Krummel và cộng sự (Strasbourg, Pháp) đă báo cáo
một trường hợp suy thận cấp sau khi dùng ketoprofen tại chỗ.
Bệnh nhân là một phụ nữ Thổ
Nhĩ Kỳ, 62 tuổi bị suy thận mạn do bệnh thận đa nang, có chức năng thận ổn định
trong nhiều tháng, với nồng độ creatinin-máu là 360
mmol/L, và được điều trị ổn định (với rilmenidin,
furosemin, atenolol, amlodipin, enalapril, aspirin, natri bicarbonat,
simvastatin, ăn kiêng muối). BN vào viện điều trị viêm khớp cổ chân với
colchicin (1 mg/ngày) mà không có triệu chứng không dung nạp ở đng tiêu hóa, và
bôi ketoprofen ngày hai lần trong 5 ngày. Vào ngày điều trị thứ năm, nồng độ
creatinin và urê trong máu, theo thứ tự, tăng từ 390
mmol/L và 25 nmol/L lên 673
mmol/L và 38 nmol/L. Lượng nước tiểu không thay đổi, nhưng lượng natri
trong nước tiểu và sự bài tiết natri theo thời gian giảm, gợi ư suy thận cấp.
Không thấy tăng bạch câu ái toan trong máu hoặc nước tiểu. Ngưng ngay
ketoprofen, enalapril và furosemid th́ chức năng thận của bệnh nhân trở lại như
ban đầu sau 8 ngày. Nồng độ ketoprofen tự do trong máu bệnh nhân là 4.17 mg/L
vào ngày thứ 6 sau khi ngưng dùng ketoprtofen (trị số b́nh thường khi uống
ketoprofen là 5-10 mg/L).
Thuốc NSAID dùng đường toàn
thân có thể dẫn đến suy thận bằng hai cách. Viêm kẽ thận cấp, kèm hoặc không kèm
hội chứng thận hư, tương đối hiếm gặp và được cho là do cơ chế dị ứng độc lập
với liều dùng. Sự ức chế không chọn lọc các enzym cyclo-oxygenase 1 và 2 gây suy
chức năng thận cấp có thể hồi phục được. Các cytokin tiền viêm tại chỗ viêm có
thể gây cảm ứng một cách chọn lọc với cyclo-oxygenase 2, nhưng cyclo-oxygenase 1
lại hiện diện ở nhiều mô, kể cả thận đặc biệt là trong trường hợp sự tưới máu
thận bị suy giảm. Khi ấy, chống chỉ định dùng NSAID bằng đường uống.--
Trên bệnh nhân này, suy thận
mạn được điều trị với thuốc ức chế men chuyển và lợi tiểu, và tuổi tác là những
yếu tố nguy cơ cao cho suy thận cấp. Suy thận cấp có lẽ do dùng ketoprofen, v́
phát hiện thấy tăng nồng độ creatinin huyết thanh và nồng độ cao ketoprofen
trong máu. Trường hợp này cho thấy hấp thu ketoprofen qua da vào máu có thể ở
một nồng độ cao. Suy thận là yếu tố mở đường v́ làm giảm độ thanh thải
ketoprofen. Trước đây, đă có báo cáo suy thận cấp do dùng NSAID tại chỗ; 2
trường hợp sau khi bôi piroxicam và ibuprofen (có lẽ do dị ứng), và một trường
hợp sau khi điều trị với benzydamin 3%. Không có báo cáo nào ghi nhận nồng độ
thuốc trong máu.
Rơ ràng dùng NSAID ngoài da
đôi khi có thể gây ảnh hưởng toàn thân như khi dùng đường uống. Do đó, phải thận
trọng với mọi dạng thuốc khi dùng cho bệnh nhân có nguy cơ cao, đặc biệt là
những đối tượng chuyển hóa thuốc kém như những bệnh nhân suy thận.
Theo T. Krummel và cộng sự. Acute renal failure induced
by topical ketoprofen BMJ 2000; 320:93 (8/1/2000) (NT)
Tại sao có người uống
Viagra lại chết-
Một số ít nam giới chết sau
khi uống Viagra. Phần lớn những trường hợp tử vong này được quy cho bệnh tim
mạch. Cục Quản lư Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và công ty Pfizer nhận
thức được điều này nhưng vẫn tin rằng thuốc an toàn cho bệnh nhân nếu được kê
toa đúng đắn.
Tuy vậy, một số nhà dược dịch
tễ học cho rằng cần xem lại tính an toàn của Viagra (sildenafil), loại thuốc
được chào đón như một liệu pháp mới cho rối loạn cương. Họ bảo rằng việc giám
sát thuốc sau khi bán trên thị trường chưa được chặt chẽ như cần phải làm, và
vẫn c̣n một vấn đề chưa được giải đáp: những người đàn ông chết sau khi dùng
thuốc là do bệnh có sẵn hay là do thuốc------
BS Jerry Avorn, Trưởng khoa
Dược dịch tễ học và Kinh tế Dược học ở bệnh viện Brigham (Boston) nói: "Nếu bạn
thấy một ông già chết v́ cơn đau tim, khó ḷng biết được đó là do tác dụng của
Viagra hay của sinh hoạt t́nh dục. Nhưng điều đó không có nghĩa chúng ta không
t́m ra được."BS Avorn chỉ trích môi trường giám sát sau tiếp thị ở Hoa Kỳ, ông
cho rằng: "Thông thường, các hăng sản xuất không thiết tha ǵ với việc t́m kiếm
những vấn đề, nếu chưa có ǵ rơ ràng, và FDA th́ thường xuyên bất lực trong việc
khái niệm hóa và cưỡng chế việc giám sát sau tiếp thị.
Một người chỉ trích khác là BS
John Urquhart, giáo sư Sinh dược học của đại học California (San Francisco) và
là giáo sư Dược dịch tễ học của đại học Maastrich (Hà Lan). BS Urquhart cho rằng
tỉ lệ nam giới chết sau khi dùng Viagra cao hơn tỉ lệ chết khi dùng các thuốc
trị loạn cương dương alprostadil tại chỗ, thí dụ như Caverject và Muse, và nói
rằng "tỉ lệ chết trên một triệu lần kê toa đối với alprostadil là 1,5-4,5, trong
khi đối với là Viagra là 49.
BS Urquhart nói rằng: "Khi
giữa các sản phẩm chống loạn cương dương tác động tại chỗ và Viagra có sự khá
cách biệt về số liệu như vậy, và tiêu điểm tập trung các tác dụng phụ khá hẹp,
người ta buộc phải nghi ngờ rằng nhiều trường hợp tử vong do tim mạch xảy ra
trong một khoảng thời gian tương đối ngắn sau khi dùng một liều Viagra không
phải là một chuyện t́nh cờ.-----
Viagra được nhiều người biết
như một loại thuốc mới xuất hiện được hiến tặng cho người bệnh để nâng cao lối
sống của những người mắc những bệnh phức tạp. Những bệnh nhân đó có dự hậu không
mấy tốt đẹp, và có lẽ sau khi dùng những thuốc như vậy, thật khó xác định rơ
nguyên nhân của vấn đề là do bệnh của họ hay là do thuốc, như ư kiến của TS.
Herbert
Leufkens, chủ tịch Hội Dược Dịch Tễ Học Quốc Tế. Ông nói thêm: "Hiện nay chúng
ta đang phát triển nhiều thuốc như Viagra, mà việc đánh giá tính an toàn trở nên
rất khó v́ người dùng ở trong một bối cảnh đầy nguy cơ. Nhưng điều đó không có
nghĩa là chúng ta sẽ không đánh giá tính an toàn."-----
Các nhà Dược dịch tễ học như
Avorn và Urquhart vẫn đặt câu hỏi liệu FDA có làm hết ḿnh để theo dơi Viagra
không. Liệu FDA có c̣n duy tŕ sự cảnh giác của họ khi một đạo luật được thông
qua cách đây vài năm cho phép các hăng sản xuất dược phẩm dùng tiền người mua
thuốc trả cho cơ quan cảnh giới về thuốc để đổi lấy một qui tŕnh phê duyệt
thuốc nhanh hơn----
Cơ quan FDA và hăng Pfizer nói
rằng họ đang tiến hành hành theo dơi thuốc sau tiếp thị. Tháng 11/1998, hăng
Pfizer đă cập nhật mẫu nhăn mới cho Viagra sau 8 tháng lưu hành trên thị trường.
Nhăn mới đă ghi những báo cáo sau tiếp thị về nhồi máu cơ tim, đột tử do tim,
cao huyết áp trên bệnh nhân đang dùng Viagra. Pfizer cũng khuyên các thầy thuốc
rằng "không nên dùng thuốc điều trị nhược dương, kể cả Viagra, cho những người
không nên sinh hoạt t́nh dục v́ t́nh trạng tim mạch bất ổn".- -
Bước ngoặt trong nỗ lực giám
sát sau tiếp thị của FDA là hệ thống MEDWATCH, thu thập những báo cáo tự nguyện
về các tác dụng phụ của thuốc. Honig ghi nhận rằng hệ thống đó đă giúp FDA phát
hiện sớm các nguy cơ khi phối hợp Viagra với các thuốc nitrat hữu cơ khác. Và
Honig đă nhận được một số tin tốt lành từ các nhà dược dịch tễ học đa nghi. Mặc
dù không nói cụ thể, ông thông báo rằng một vài nghiên cứu dịch tễ học quốc tế
đang được thiết kế để nghiên cứu Viagra và sẽ sớm được bắt đầu thực hiện.-
Theo Mike Mitka, JAMA, Vol. 283,
No.5, 2/2/2000 (NT)
TƯƠNG TÁC THUỐC:
ALLOPURINOL - AZATHIOPRINE
Mới đây,- ADRAC đă nhận được
nhiều báo cáo về những bệnh nhân bị thiếu máu và giảm bạch cầu đa nhân trung
tính,- biểu thị mối hiểm nguy của việc dùng đồng thời Allopurinol và-
Azathioprin.
Có nhiều tài liệu về sự tương
tác giữa hai loại thuốc này đă từng được ADRAC công bố, nhưng các thầy thuốc cần
được lưu ư một lần nữa v́ tầm quan trọng của nó. Allopurinol (Allohexal,
Allorin-, Capurate-, Progout-, Zaloprim -) làm giảm chuyển hoá mercaptopurin
(Purinethol ), là chất chuyển hoá có hoạt tính của Azathioprin (Azamun-,
Imuran-, Tioprine-- và do đó làm tăng nồng độ mercaptopurin. Từ năm 1980, ADRAC
đă nhận được 10 báo cáo bổ sung vào các hệ quả về huyết học không mong muốn của
sự tương tác này, kể cả một trường hợp gây tử vong cho bệnh nhân.
V́ vậy cần tránh dùng chung
Allopurinol với Azothioprin (hoặc Mercaptopurin). Trường hợp bệnh nhân cần phải
dùng cả hai lại thuốc, nhất thiết phải giảm thật thấp liều b́nh thường của
Azathioprin (hoặc mercaptopurin)
DƯỢC PHẨM GÂY ÁC MỘNG
B́nh thường, ác mộng tương đối
vẫn thường xảy ra, nhưng một số loại thuốc cũng có thể gây ra ác mộng.
Từ năm 1972, Ủy Ban về các
Phản ứng phụ của thuốc ở Úc (ADRAC) đă nhận được gần 900 bản báo cáo về những
cơn ác mộng được cho là do dùng thuốc gây ra. 90% các trường hợp báo cáo chỉ
nghi ngờ một loại thuốc, và 85% trường hợp được phục hồi sau khi ngưng dùng loại
thuốc bị nghi ngờ. Nhóm thuốc được báo cáo gây ác mộng nhiều nhất là chẹn bêta
và được cho là có liên quan đến tác dụng ức chế giai đoạn REM của giấc ngủ (REM
= Rapid eye movement là giai đọan có sự chuyển động nhanh của mắt khi ngủ,
thường gây mộng mị).
Nhóm thuốc khác là các thuốc
ức chế sự thu hồi Serotonin (SSRIs) bao gồn Sertralin, Paroxetin cũng như
Fluoxetin (Prozac-) và Citalopram. Đại diện thường nhất cho nhóm benzodiazepin
là Temazepam (11 b/cáo), Diazepam (10) và Oxazepam (9) và cả Nitrazepam. Thuốc
dán nicotin dùng để cai thuốc lá cũng thường được nêu tên nhưng tác dụng gây ác
mộng có thể liên quan đến sự giảm liều nicotin trong thời gian cai thuốc. Ác
mộng đôi khi cũng có thể là do tác dụng hiếm thấy của nhóm "statins" như
Simvastatin (17 báo cáo) cũng như Pravastatin (10) Fluvastatin (8) và
Atorvastatin.
Các thầy thuốc kê đơn cần cảnh
giác về các nhóm thuốc như chẹn bêta, có thể gây ác mộng nhưng thường có thể hồi
phục sau khi ngưng thuốc.
Những loại thuốc thường được báo
cáo có thể gây ác mộng
|
Loại thuốc
|
Số báo cáo có
liên quan
|
Loại thuốc
|
Số báo cáo có
liên quan
|
|
1. Sertralin
|
41
|
7. Paroxetin
|
23
|
|
2. Propranolol
|
39
|
8. Atenolol
|
20
|
|
3. Metoprolol
|
38
|
9. Simvastatin
|
17
|
|
4. Pindolol
|
33
|
10. Catopril
|
16
|
|
5. dán Nicotin
|
30
|
11. Methyldopa
|
15
|
|
6. Nitrazepan
|
24
|
12. Prazosin
|
15
|
DS.
Huỳnh văn Nhiệm (Theo Australian Adverse Reactions Bulletin V.19, No.1, 2/ 2000
|