GIỚI THIỆU:
Trào ngược dạ dày thực quản (DD-TQ) là do
sự giăn nở thoáng qua hoặc từng hồi của cơ ṿng thực quản dưới không có liên
quan đến động tác nuốt, và xảy ra ở 65% trẻ em lành mạnh.(1) Chẩn
đoán phân biệt ban đầu giữa trào ngược sinh lư và bệnh lư là vấn đề nhiều khó
khăn. Để chẩn đoán, nhiều test đă được sử dụng như đo pH thực quản, chụp dạ dày
thực quản có cản quang, nội soi thực quản, xạ h́nh, đo áp lực cơ ṿng thực quản
dưới và siêu âm. Tuy nhiên, mỗi phương tiện có độ nhạy cảm và độ đặc hiệu khác
nhau chẳng hạn như:(2)
|
Các phương tiện khảo sát
|
Độ nhạy (%)
|
Độ đặc hiệu (%)
|
|
Chụp DD-TQ có cản quang
|
42
|
80
|
|
Chụp xạ h́nh
|
68
|
100
|
|
Đo pH thực quản 12 giờ
|
80
|
100
|
|
Đo pH thực quản 24 giờ
|
92
|
92
|
|
Đo áp lực cơ ṿng thực quản dưới
|
43
|
96
|
|
Nội soi
|
20
|
100
|
Siêu âm đă được sử dụng cách nay 10 năm,
là khám nghiệm có ích trong việc khảo sát trào ngược DD-TQ,- bởi v́ siêu âm- cho
phép quan sát h́nh thể và động học của thực quản bụng- tâm vị. Siêu âm c̣n khảo
sát những cơn trào ngược xảy ra bất chợt sau khi ăn mà đo pH thực quản thường
không nhận biết được, ngoài ra c̣n có lợi là nhanh, rẻ tiền, ít chấn thương và
không bị ăn tia X. Thời gian quan sát của siêu âm khoảng 10 phút.
KHÁM SIÊU ÂM:
1.Phương tiện: Đầu ḍ 5-7.5 MHz,
sector hay rẻ quạt tùy theo tuổi.
2.Cách khám: Bé được nằm ngửa và thăm
khám ngay sau bữa ăn, thường đem theo b́nh sữa. Việc cho bú nước cam tuy dễ dàng
quan sát cơn trào ngược DD-TQ, nhưng dạng bữa ăn test này không phải bữa ăn sinh
lư của nhũ nhi.
Đầu ḍ được đặt ngay hơm thượng vị, mặt
cắt cạnh ức dọc, hơi nghiêng nhẹ theo trục thực quản đoạn bụng, cho phép nh́n
thấy thực quản bụng, cơ hoành cắt ngang và dạ dày.
Trên mặt cắt dọc, thực quản liên hệ với
thùy trái gan ở phiá trước, động mạch chủ và các nhánh ở phía sau, tâm nhĩ phải
ở phía trên c̣n dạ dày ở phía dưới.
Trên mặt cắt ngang, thực quản bụng có h́nh bia, cũng như tất cả những phần khác
của ống tiêu hóa, với phần trung tâm Echo dày (lớp niêm mạc), vùng trung gian
Echo kém (lớp cơ), bao quanh bởi lớp Echo dày (lớp thanh mạc).
Bước I: Khảo sát h́nh thể:
1.Đo chiều dài TQ bụng (từ cơ hoành đến
tâm vị)
B́nh thường: 20-25 mm hoặc theo tuổi:
--- Tối thiểu:---------- >16 mm từ- 0-2
tháng;
------------------ >17 mm từ- 2 tháng - 2
tuổi;
------------------ >18 mm từ- 2-5 tuổi;
------------------ >19 mm- > 5 tuổi.
Ư nghĩa: Khi chiều dài này bị rút
ngắn lại, trẻ có nguy cơ bị trào ngược DD-TQ. Khi rút ngắn đáng kể và hằng định,
gợi ư bệnh lạc chỗ-tâm ph́nh vị, c̣n rút ngắn từng lúc cách hồi gợi ư tâm vị di
động (cardia mobile)---
2. Đo bề dày thực quản bụng: Theo
Pracros,(3) độ dày thực quản bụng b́nh thường 8-10 mm. Khi lớp niêm
mạc có độ tăng thêm quá 4 mm gợi ư viêm thực quản. Theo Le Dosseur,(4)
độ dày TQ bụng là bệnh lư khi:-
--------- >7 mm (0-2 tháng)-
--------- >8 mm (2tháng -2 tuổi)
--------- >9 mm (>2 tuổi).
Ư nghĩa:
Siêu âm gợi ư viêm TQ bởi v́ khi viêm sẽ dẫn đến sự gia tăng bề dày TQ.
3. Việc khảo sát h́nh thể c̣n cho phép
loại trừ một số bệnh ngoại khoa gây nôn ói kéo dài như hẹp ph́ đại cơ môn
vị, thoát vị khe, thực quản to, thực quản đôi, ruột xoay bất toàn, khối u gây
chèn ép (u nội tại như Leimyoma, u bên ngoài chèn ép như u nguyên bào thần
kinh,u quái trung thất, sự bất thường mạch máu (bất thường hồi lưu tĩnh mạch
phổi về tim, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, dăn tĩnh mạch thực quản). Mặt khác sự
tồn tại rối loạn nhu động tiền môn vị, chậm tống xuất dạ dày làm cho trào ngược
DD-TQ dễ xảy ra.
Bước II: Khảo sát động - Quan sát
trong 10 phút
Siêu âm có thể đánh giá nhu động TQ và sự
mở tâm vị cũng như cho phép nh́n thấy được ḍng trào ngược. Đầu ḍ được đặt ở vị
trí giống như khảo sát h́nh thể, giữ vị trí cố định, quan sát và đếm số lần trào
ngược và đánh giá mức quan trọng của trào ngược dựa trên thể tích dịch dạ dày
trào lên thực quản và sự kéo dài của ḍng trào ngược.
Có 3 dạng trào ngược:
1) Trào ngược tối thiểu: trào ngược
ngắn, ít quan trọng và giới hạn ở thực quản tận.
2) Trào ngược rơ: trào ngược quan
trọng và trào ngược lên TQ một cách rơ ràng
3) Trào ngược nặng: trào ngược rất
quan trọng, kéo dài và thể hiện ra ngoài bởi sự ọc sữa. Chỉ những ḍng trào
ngược rơ và mạnh mới được tính. Thời gian quan sát từ 3-20 phút tùy tác giả,
nhưng thực tế, quan sát trong 10 phút là đủ và cần thiết. Số lần trào ngược quan
sát trong 10 phút, thay đổi theo tuổi:
- Theo Le Dosseur,(4) trào
ngược bệnh lư khi:
--------- > 4 lần/10 phút đối với trẻ- 2
tháng;
--------- > 3 lần
----------nt-----------2tháng -2 tuổi
--------- > 2 lần ----------nt-----------2
tuổi - 5tuổi--
--------- > 1 lần ----------nt----------->
5tuổi
- Theo Gommes:(3)-
--------- <1 tuổi: 3 lần/10phút: sinh lư
--------- 3-6 lần: rối loạn chức năng vừa
phải
--------- >6 lần: rối loạn chức năng nặng.
SIÊU ÂM SO VỚI CÁC PHƯƠNG TIỆN CHẨN ĐOÁN KHÁC
1.Phép đo pH thực quản 24 giờ:
Đo pH thực quản không thể chứng minh những
ḍng trào ngược không phải acid, đó chính là những lần trào ngược xảy ra sau ăn,
nhất là trẻ uống sữa. Xạ h́nh và siêu âm cho phép nghiên cưú những lần trào
ngược sau ăn. Siêu âm có thể thấy và đếm được số lần trào ngược sau khi ăn, tuy
nhiên trào ngược sinh lư cũng có thể xảy ra sau ăn, v́ vậy không có giới hạn
chính xác giữa trào ngược sinh lư và bệnh lư.
Tuy nhiên, khảo sát động học của siêu âm
trong 10 phút sẽ bỏ qua tất cả những ǵ xảy ra trong thực quản trong gần 24 giờ
c̣n lại, cũng như những liên quan với hoạt động chức năng, t́nh trạng thức -ngủ
và những khác biệt về tư thế của đứa bé- Hơn nữa, ngoài 10 phút khám, siêu âm
không cho phép khảo sát một chút ǵ về chất lượng bệnh lư trào ngược (không đánh
giá được sự liên quan giữa trào ngược với những triệu chứng quan sát được như
ho, khóc, rối loạn nhịp tim, rối loạn nhịp thở..). Khó mà giữ được một mặt cắt
cố định nhất là trẻ em.
So sánh kết quả siêu âm và phép đo pH thực
quản trong TNDD-TQ rất khó bởi v́ những giai đoạn nghiên cứu, những dữ kiện phân
tích rất khác nhau ví dụ trào ngược sau ăn, trào ngược về đêm là 2 hiện tượng
khác nhau hoàn toàn về cơ chế, bệnh học, pH và những hậu quả trên niêm mạc thực
quản, phế quản, nhịp tim và những hành vi của đứa bé.
Tuy nhiên, theo một công tŕnh nghiên cứu
của các tác giả khoa nhi Đại học Graz-Austria,(5) so sánh siêu âm với
phép đo pH thực quản và phép đo áp lực cơ ṿng thực quản dưới, cho thấy siêu âm
chẩn đoán trào ngược DD-TQ có độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 87.5% (với p <0,001).
Các tác giả gợi ư nên dùng siêu âm trong bước đầu chẩn đoán ở trào ngược DD-TQ.
2. Xạ-h́nh: Cho phép khảo sát sự kéo
dài trào ngược sau ăn, cũng như chứng minh nhiễm trùng phế quản phổi do hít.
Theo Wynchank S.,(6) kết quả chẩn đoán TNDD-TQ của siêu âm và xạ h́nh
tương đương nhau (91/110). Trong khi đó siêu âm có lợi là rẻ tiền, dễ thực hiện,
không ăn tia, khảo sát được h́nh thể học của thực quản bụng, tâm vị và môn vị.
3. Chụp dạ dày thực quản bụng có cản quang:
Cung cấp h́nh ảnh và h́nh dáng thực quản- cũng như nghiên cưú kỹ hơn cùng lúc
thực quản và dạ dày.
4. Nội soi: Khảo sát hệ quả của trào
ngược DD-TQ trên thực quản bụng, bằng nội soi trực tiếp và sinh thiết như viêm
thực quản xuất huyết, chít hẹp thực quản, nhưng độ nhạy thấp. C̣n siêu âm chỉ
thấy được khi viêm thực quản quan trọng.
KẾT LUẬN:
Siêu âm thực quản bụng có lợi trong việc
khảo sát trào ngược DD-TQ bởi v́ nó cho phép quan sát h́nh thể và động học của
thực quản đoạn dưới và tâm vị. Nó c̣n khảo sát được những cơn trào ngược xảy ra
bất chợt sau khi ăn mà thường không nhận biết bằng đo pH. Ngoài ra, siêu âm c̣n
có lợi là nhanh, chi phí rẻ, ít chấn thương, không ăn tia X, cũng như cho phép
định hướng nguyên nhân trào ngược nhờ việc khảo sát giải phẩu học và chức- năng
vùng tâm vị, môn vị, đánh giá độ dài thực quản bụng.
Tuy nhiên, siêu âm chỉ là một khám nghiệm
tham khảo, nên được thực hiện đầu tiên trong chẩn đoán ở bệnh nhân nôn ói kéo
dài.
summary
Sonography approach in the diagnosis of gastroesophageal
reflux in children
Gastroesophageal reflux (GER) in children
can be diagnosed by various investigation techniques with different sentivities
and specificities. In recent years, sonography is considered as a non-invasive
procedure that may be helpful in the early diagnosis of GER in children.
Sonography study of this condition is perfomed to evaluate, in one hand,
morphological features of the abdominal esophagus, and in the other hand, to
assess its motility during a ten-minutes period of invastigation. -- (Xem tiếp trang 139)