NHIỄM TRÙNG NIỆU Ở TRẺ EM và trẺ sơ sinh
Ngô gia hy*
NhiỄm trùng niỆu Ở trẺ em
Tỉ lệ nhiễm trùng niệu ở trẻ em là 1% trên
bé trai, 2,5% trên bé gái, và 10% tại khoa nhi. Em trai nhỏ chưa cắt da bao quy
đầu dễ bị nhiễm trùng niệu. Bệnh thường là biểu hiện của bế tắc đường tiểu hay
ngược ḍng bọng đái - niệu quản mà phải điều trị mới làm tiệt trùng được. Biến
chứng đáng ngại nhất là viêm bồn thận- thận, nhiễm trùng cấp tính trên một cơ
quan c̣n đang phát triển. Vi khuẩn sinh bệnh thường là E. coli,
Klebsiella và Proteus.
Chẩn đoán có nhiễm trùng niệu
Tiêu chuẩn của Kass vẫn áp dụng được trong
khoa nhi. Số lượng vi khuẩn trong nước trên 105/ml là có nhiễm trùng
niệu. Vi khuẩn thường phối hợp với bạch cầu niệu. Triệu chứng này tuy nhiên
không cố định, và vào khoảng 10 - 20% trường hợp nhiễm trùng niệu không có nồng
độ bạch cầu niệu bệnh lư tức trên 2000/phút.
Để chẩn đoán nhanh, có thể xét nghiệm nước
tiểu không ly tâm trên huyết bào kế: 10 vi khuẩn/mm3 tương đương với
105 vi khuẩn/ml nước tiểu đem cấy.
Lấy nước tiểu của trẻ em để đem xét nghiệm
tương đối khó. Giản dị nhất là lấy nước tiểu giữa ḍng sau khi đă rửa sạch da
qui đầu và bao qui đầu nếu là em trai và cửa ḿnh nếu là em gái. Trong trường
hợp, trẻ em chưa biết đi tiểu tự chủ sẽ si đái hoặc dán túi hứng đă khử trùng
vào chung quanh qui đầu.
Để tránh lây trùng từ da, cần rửa sạch
vùng miệng niệu đạo, và lấy nước tiểu ngay khi trẻ em đi tiểu, túi hứng để quá
40 phút mà trẻ em không đi tiểu cũng phải bỏ đi, và đặt túi khác.
Ngoài ra có thể áp dụng phương pháp của
Boem và Haygnes: đặt trẻ em nằm sấp trên ḷng một bàn tay, và lấy ngón trỏ của
bàn tay kia gơ nhẹ vào vùng xương cụt để kích thích trung tâm phản xạ đi tiểu S2
-- S4.
Đặc biệt có thể lấy nước tiểu qua chọc ḍ
hút bọng đái trên trẻ em dưới một tuổi, v́ bọng đái c̣n nằm hoàn toàn trên xương
mu. Tỉ lệ thành công từ 90% (Melson) tới 92% (Succharow). Một vài biến chứng
được ghi nhận là khối máu tụ trong bọng đái, nhọt mủ thành bọng đái, viêm quanh
bọng đái. Nói vậy để xác định chọc hút bọng đái lấy nước tiểu chỉ nên làm sau
khi định vị chính xác bọng đái bằng sờ nắn, gơ nghe, âm vang kư (siêu âm).
Định vị nhiễm trùng niệu
Vùng đường tiểu bị nhiễm trùng có thể xác
định được bằng một số phương pháp như ở người lớn.
Triệu chứng lâm sàng và sinh học
a.
Tổng trạng kém, sốt cao và rét run, đổ mồ hôi, kết hợp với
rối loạn tiêu hóa, đau vùng hông lưng làm sờ nắn khó; tăng bạch cầu huyết với
tăng bạch cầu đa nhân, protein niệu là những dấu hiệu của viêm bồn thận-thận.
b.
Rối loạn đi tiểu, như tiểu khó, tiểu nhiều lần, tiểu buốt mà
tổng trạng b́nh thường, và không có những rối loạn về sinh học, là dấu hiệu của
nhiễm trùng đường tiểu dưới.
Xét nghiệm xạ kư
Triệu chứng về niệu kư nội tĩnh mạch (UIV)
của viêm bồn thận- thận cấp tính rất thất thường, có thể kể: thận thường lớn hơn
thận đối diện, với h́nh ảnh đài thận mờ. Nếu có những tật bẩm sinh của đường
tiểu trên, hoặc sỏi thận, hay ngược ḍng bọng đái- niệu quản, th́ nên nghĩ tới
nhiễm trùng thận. Lấp lánh kư thận bằng 2,3-dimercaptosuccinic acid (DMSA) giúp
phát hiện viêm bồn thận - thận.(1) Xạ kư bọng đái ngược ḍng hay lúc
đái phát hiện dễ dàng ngược ḍng bọng đái - niệu quản (Hellstrom).(2)
Xét nghiệm miễn dịch học
a.
Đo lượng kháng thể huyết thanh đặc hiệu
Lượng kháng thể thấp (dưới 1/1280) phù hợp
với đường tiểu dưới; lượng kháng thể cao (trên 1/2580) là dấu hiệu của nhiễm
trùng thận. Trắc nhiệm này mới chỉ áp dụng được đối với vi khuẩn Gram (-).
b.
Trắc nghiệm A C B: có tỉ lệ âm tính sai đáng kể nhất là ở trẻ
em c̣n đang bú.
c.
Trắc nghiệm N B T: Trắc nghiệm này cũng có một tỉ lệ sai thay
đổi tùy theo tác giả.
Chẩn đoán nguyên nhân nhiễm trùng niệu
Để chẩn đoán nguyên nhân nhiễm trùng niệu
ở trẻ em ngoài những xét nghiệm về nước tiểu và máu, sẽ dựa vào niệu kư nội tĩnh
mạch, xạ kư bọng đái ngược chiều đối với trẻ em trên một tuổi và âm vang kư, CT.
Những nguyên nhân chính của nhiễm trùng
niệu ở trẻ em là sỏi bế tắc đường tiểu (50%), và ngược ḍng bọng đái niệu quản.
1- Sỏi hội nhiều nhân tố để gây nhiễm trùng niệu
là bế tắc, cọ sát, kích thích, chảy máu, viêm. V́ vậy từ 55 - 75% trẻ em có sỏi
niệu bị nhiễm trùng.
Thuyên tắc
huyết mạch (5)
|
|
 
 
H́nh 1: Các
giai đoạn ngược ḍng bọng đái - niệu quản
|
Giai đoạn I: ngược ḍng tới đoạn
sát bọng đái của niệu quản
|
Giai đoạn II: ngược ḍng niệu
quản - bồn thận - đài thận mà không có giăn nở
|
|
Giai đoạn III: ngược ḍng niệu
quản - bồn- đài thận mà có giăn nở
|
Giai đoạn IV: ngược ḍng vào
trong mô thận, cụ thể là ngược ḍng bồn thận - mạch bạch dịch thận.
|
|
|
H́nh 2: Viêm bồn thận- thận: Đường xâm nhập của vi
khuẩn từ bồn thận vào chủ mô thận.
Ứ dọng nước tiểu, tăng áp
lực trong bồn thận gây ngược ḍng: đường máu (1) và (2), đường bạch dịch (3),
đường ống thận (4), đường thuyên tắc huyết mạch (5 và đường mô kẽ (6))
2- Những bế tắc đường tiểu
thường gặp ở trẻ em là:
a- Hẹp khúc nối bồn thận- niệu quản.
----- b- Van
niệu đạo sau, thường nằm ở dưới lồi tinh (u núi), dẫn tới bọng đái chống
chọi, giăn nở hai niệu quản và cuối cùng là ngược ḍng bọng đái- niệu quản và
viêm thận ngược chiều.
c- Tăng dưỡng cổ bọng đái
cũng sớm gây nhiễm trùng và đưa đến bọng đái chống chọi với ngược ḍng
d- Hẹp miệng niệu đạo kết hợp với
bao da qui đầu hẹp, lâu ngày cũng ảnh hưởng tới bọng đái và gây nhiễm
trùng niệu.
3- Ngược ḍng bọng đái - niệu quản
Ngược ḍng có thể bẩm sinh hay hậu đắc.
Hậu đắc là do biến chứng của bọng đái chống chọi như đă nói ở trên. Bẩm sinh là
do niệu quản nội thành quá ngắn (trung b́nh: 15mm). Trong quá tŕnh trẻ sơ sinh
lớn lên, bề dài của đoạn niệu quản này tăng dần nhanh nhất là trong 4 năm đầu.
vào khoảng 60-75%. trường hợp ngược ḍng bọng đái niệu quản ở trẻ em tự nhiên
hết hẳn sau 15 tuổi. Số trường hợp c̣n lại thường phải điều trị bằng cắm lại
niệu quản vào bọng đái theo phương pháp chống ngược ḍng, một số tác giả phân
tích ngược ḍng bọng đái niệu quản thành bốn giai đoạn dựa vào h́nh ảnh xạ kư
bọng đái ngược chiều hay trong lúc đái. (H́nh 1)
Về giải phẫu bệnh học: ngược
ḍng trên trẻ em có bốn đặc điểm:
1.
Tổn thương trên thận không đồng đều và đa dạng: mức độ viêm
bồn thận- thận thay đổi từng vùng.
2.
Ngược ḍng nước tiểu vô trùng phải dài ngày mới ảnh hưởng lên
thận.
3.
Một khi bị nhiễm trùng, ngược ḍng sớm làm viên bồn thận-
thận.
4.
Ngược ḍng là một nhân tố đáng kể gây nhiễm trùng chủ mô thận
nhất là khi đă có ngược ḍng bồn thận mô kẽ và h́nh như có tính chất gia truyền.
Điều trị
-
Về điều
trị nội khoa, sẽ lựa chọn kháng sinh ít độc nhất,
có chỉ định đối với trẻ em và cho đúng hàm lượng. Cụ thể là aminoglycosid,
sulfamethoxazol-trimethoprim, nitrofurantoin, ciprofloxacin đối với chủng kháng
thuốc.(3) Nên dùng hai kháng sinh tiêm tĩnh mạch trong 10 ngày nếu là
viêm bồn thận - thận. c̣n viêm bọng đái chỉ cần một kháng sinh uống trong 3-7
ngày. Xét nghiệm vi khuẩn nước tiểu sẽ làm nhiều lần trong 4 hay 8 tuần nếu c̣n
những triệu chứng gợi ư nhiễm trùng.
-
Can thiệp
ngoại khoa có chỉ định khi nào ngược ḍng đă gây
ảnh hưởng lên thận- giai đoạn II hay IV- trên trẻ em 5 tuổi trở lên v́ bắt đầu
từ tuổi này, ngược ḍng khó hết tự nhiên. Tạo h́nh niệu quản nội thaành qua nội
soi hay cắm lại niệu quản vào bọng đái cũng có chỉ định khi điều trị nội khoa
nhiễm trùng thất bại, hoặc tái phát nhiều lần. Can thiệp sớm để điều trị những
bệnh làm bế tắc đường tiểu dưới, sau khi nhiễm trùng đă bớt, là một cần thiết
như cắt bỏ bao da qui đầu chít hẹp, cắt đốt nội soi van niệu đạo sau, tạo h́nh
cổ bọng đái hẹp bẩm sinh, giúp điều trị nhiễm trùng chóng khỏi và không tái phát
.
NHIỄM TRÙNG NIỆU TRÊN TRẺ
SƠ SINH
Xuất độ nhiễm trùng niệu ở trẻ sơ sinh là
vào khoảng 0,1% hay 14/1000 trẻ sơ sinh (Gonzalez, 1996).(3)
Những yếu tố cơ địa trợ giúp bệnh là nhiễm
trùng niệu ở người mẹ (12%) hoặc sản độc (6%), vỡ ối sớm (7%), hay sinh non
(9%), thiếu cân nặng (30%).
Nhiễm trùng niệu ở trẻ sơ sinh có tỉ lệ ở
trẻ em trai cao hơn là trẻ em gái.
Những bất thường ở hệ niệu sinh dục, hay ở
bộ phận khác như thoát vị tủy- màng tủy, hậu môn không thủng, nhiễm trùng huyết
sơ sinh, đều là yếu tố trợ giúp nhiễm trùng. Riêng ở đường tiểu trên, một số tật
bẩm sinh được ghi nhận như: niệu quản cự đại, thận nước, thận teo, thận đa nang,
niệu quản kép, và nhất là ngược ḍng bọng đái niệu quản. Khác với trẻ em, nhiễm
trùng niệu ở trẻ sơ sinh thường do đường máu hơn là do bế tắc đường tiểu làm
ngược ḍng bọng đái- niệu quản.
Những triệu chứng ban đầu của nhiễm trùng niệu trẻ sơ sinh
có thể chia làm hai loai: loại không đặc trưng và loại đặc trưng.
a.
Loại không đặc trưng
Loại nhiễm trùng niệu không đặc trưng có
những triệu chứng của một nhiễm trùng không hướng vào đường tiểu cụ thể là: sốt
hay hạ thân nhiệt, không lên cân, vàng da, suy hô hấp, tái tím không rơ nguyên
nhân, thiếu máu, tăng bạch cầu huyết, biếng ăn, ói mửa, đi tiêu chảy.
b.
Loại đặc trưng
Loại- nhiễm trùng đặc trưng có những triệu
chứng hướng vào đường tiểu như thận lớn, khối cầu bọng đái, protein niệu, bất
thường cơ quan sinh dục ngoài, suy thận nhất thời, đái máu hay tăng urê huyết,
thặng acid chuyển hóa; hai triệu chứng sau cùng thường chỉ phát hiện được vào
tuần lễ thứ tư sau khi sanh, c̣n những triệu chứng khác có thể phát hiện sớm hơn
vào tuần lễ thứ nhất.
Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm trùng niệu trên
trẻ sơ sinh vẫn là sự hiện diện của vi khuẩn trong nước tiểu với số lượng 105/ml.
Có hai phương pháp lấy nước tiểu là:
1.
Đeo túi hứng vào dương vật và bỏ ra ngay sau khi đi tiểu; sẽ
xét nghiệm ba lần để xác định đúng là nhiễm trùng niệu.
2.
Chọc hút bọng đái trên xương mu vào khoảng 10 hay 60 phút sau
khi cho bú và nếu có thể được dưới sự hường dẫn của siêu âm. Phương pháp thứ hai
này đáng tin cậy hơn là phương pháp lấy nước tiểu qua túi hứng và có chỉ định
khi nào xét nghiệm vi khuẩn qua hứng nước tiểu thấy nghi ngờ có nhiễm trùng
nghĩa là có 103/ml vi khuẩn.
-Vi khuẩn thường gặp là E. coli
(70%-80%). Siêu âm giúp sớm phát hiện giăn nở đường tiểu trên, thận lớn, thận
nước, nhọt mủ thận.(3) Nhưng đừng quên rằng vẫn có kết quả âm tính
sai(4) và không phát hiện được ngược ḍng.(5)
Nguyên tắc điều trị nhiễm trùng niệu trên trẻ sơ
sinh
là tránh những kháng sinh loại sulfamid, tétracyclin.
Cephalosporin chưa chứng minh được là vô hại đối với trẻ sơ sinh; loại quinolon
và thuốc sát trùng cũng vậy. Cũng như ở trẻ em nếu là viêm bồn thận - thận sẽ
cho hai kháng sinh tiêm tĩnh mạch trong 10 ngày, c̣n viêm bọng đái chỉ cần cho
kháng sinh uống trong 4-7 ngày (Brun). (6)
Những tật bẩm sinh khám phá được qua âm vang kư trên người mẹ, nên điều trị sớm
sau khi sanh. Một số tác giả chủ trương cắt da bao quy đầu có hệ thống để dự
pḥng nhiễm trùng niệu (Craig).(7)
summary
Urinary tract infection in children and newborn infants
The prevalence of urinary tract infection
in children is about 2%, and in neonatal infants 0.1%. It's likely that
uncircumcised male infants are usually more susceptible to urinary infection.
The main causative agents of infection are
as in adult: E. coli, Klebsiella and Proteus.
The etiologic factors frequenly seen are:
urinary obstruction, vesico-ureteral reflux (25%) and urinary tract stone.
Urinary obstruction can be detected by
IVP, abdominal ultrasound and the vesico-ureteral reflux by voiding cystography.
The lower urinary tract infection is
diagnosed by mictional disorders and the pyelonephritis by IVP, scintigraphy and
CT.
In medical treatment, one must choose the
nontoxic antibiotics to the kidney, such as sulfame-thoxazol-trimethoprim, or
nitrofurantoin, ciprofloxacin and aminoglycoside.
The surgical treatment consists to
suppress the urinary tract obstruction by open operation or endoscopic
manipulation. The vesico-ureteral reflux can be cured by reimplanation or by
silicone endoscopic injection into the wall of the intramural ureter.
Tài liệu tham khảo
1.
Verboven-M; Ingels-M; Delree-M; Piepsz-A. 99mTc-DMSA scintigraphy in
acute urinary tract infection in children. Pediatr-Radiol. 1990; 20(7): 540-2
2.
Hellstrom-M; Jacobsson-B; Marild-S; Jodal-U. Voiding cystourethrography
as a predictor of reflux nephropathy in children with urinary-tract infection.
AJR-Am-J-Roentgenol. 1989 Apr; 152(4): 801-4
3.
Ricardo Gonzalez. Urinary tract infections. In Nelson textbook of
pediatrics. Behrman R M et al 15th ed. 1996 Saunders Company
4.
Lakhoo-K; Thomas-DF; Fuenfer-M; D'Cruz-AJ. Failure of pre-natal
ultrasonography to prevent urinary infection associated with underlying
urological abnormalities. Br-J-Urol. 1996 Jun; 77(6): 905-8
5.
Stokland-E; Hellstrom-M; Hansson-S; Jodal-U; Oden-A; Jacobsson-B.
Reliability of ultrasonography in identification of reflux nephropathy in
children. BMJ. 1994 Jul 23; 309(6949): 235-9
6.
Brun-P; Mariani-Kurkdjian-P. Treatment of urinary tract infection in
children. Arch-Pediatr. 1996 Jan; 3(1): 81-4
7.
Craig-JC; Knight-JF; Sureshkumar-P; Mantz-E; Roy-LP. Effect of
circumcision on incidence of urinary tract infection in preschool boys.
J-Pediatr. 1996 Jan; 128(1): 23-7

|