BỆNH ÁN
Một bệnh
nhân nam 68 tuổi vào viện vì đau bụng ở vùng thượng vị. Cơn đau xuất hiện trước
đó hai ngày, ban đầu đau từng cơn, về sau đau liên tục, không ói mửa hoặc tiêu
chảy. Bệnh nhân có tiền sử cao huyết áp hơn 10 năm. Cách đây 3 năm đã vào viện
điều trị được chẩn đoán suy mạch vành kèm ngoại tâm thu trên thất. Bệnh nhân
được điều trị bằng Nifedipin và thuốc lợi tiểu nhưng khi xuất viện vẫn còn ngoại
tâm thu.
Lúc vào
viện bệnh nhân tỉnh táo, người to béo. Mạch 100 lần/phút không đều. Huyết áp
180/110 mmHg, nhiệt độ 38o2. Khám thấy thành bụng hơi gồng, đau nhiều ở vùng
thượng vị, không sờ thấy gan lách. Tim: nhịp nhanh không đều, không có tiếng
thổi. Phổi: ran ẩm ở hai bên.
Xét nghiệm
lúc vào: bạch cầu 14000/mm3 (80% đa nhân trung tính); hồng cầu: 4.200.000/mm3.
Ðiện giải đồ bình thường. X-quang lồng ngực: tim to, chủ yếu ở thấp trái, hai
phế trường hơi sung huyết. Ðo điện tim: nhịp nhĩ 120 lần/phút, không đều; trục
điện tim bình thường; ngoại tâm thu nhĩ xuất hiện rải rác, có nhiều ổ khác nhau;
sóng T-đảo ngược ở chuyển đạo I, aVL, V5 và V6; sóng T-thấp ở chuyển đạo II và
III.
Diễn biến:
bệnh nhân được dùng ngay Nifedipin 10 mg/ngày; Furosemide 20 mg/ngày và Risordan
20 mg/ngày. Ðau bụng ngày càng nhiều hơn, lan khắp ổ bụng và thành bụng gồng
cứng. Hội chẩn: chẩn đoán bụng ngoại khoa nghi do viêm ruột thừa, được mổ cấp
cứu tám giờ sau khi nhập viện. Ruột thừa bình thường nhưng được cắt bỏ.
Sau mổ:
huyết áp 180/90 mmHg, mạch 120 không đều. Bụng chướng dần, nước tiểu 1200 ml,
đậm màu. Bệnh nhân được truyền Dextrose 5% và Normal Saline tổng cộng 2000 ml/24
giờ. Tim vẫn còn ngoại tâm thu nhiều ổ. Ðiện giải đồ: Na+ 140 mEq/l; K+:
5,5mEq/L, Cl - 103 mEq/L,- bicarbonat- 22 mEq/L. Tình trạng bệnh nhân xấu dần,
lơ mơ, bụng căng, huyết áp 160/90 mmHg. Ðược cho chuyển viện vào TP Hồ Chí Minh,
12 giờ sau mổ, nhưng bệnh nhân tử vong trên đường chuyển viện.
Xin hỏi:
Có thể
quyết định mổ khi tình trạng tim mạch không hoàn toàn ổn định như trường hợp này
hay không-
Bệnh cảnh
khá điển hình của bụng ngoại khoa như trên, có thể phù hợp với chẩn đoán viêm
tụy cấp không-
Tai biến
tim mạch trên bệnh nhân cao huyết áp và rối loạn nhịp tim có thể gây ra bệnh
cảnh như trên không-
BS Lê C. Thắng (Bình Ðịnh)
TRẢ LỜI VỀ BỆNH ÁN TRÊN
Một số điểm chính của bệnh án:
- Nam, 68
tuổi, cao huyết áp (HA) trên 10 năm
- Tiền sử :
suy động mạch vành, điều trị Nifédipine, lợi tiểu
- Ðau lưng
thượng vị từ 2 ngày từng cơn, sốt 38o, BC = 14 000/mm3 (ÐNTT = 80%)
- Dấu hiệu
bụng ngoại khoa. Không dấu hiệu nhồi máu cơ tim trên điện tâm đồ (ÐTÐ)
- Mổ cắt
viêm ruột thừa dù ruột thừa bình thường
Một số điểm thiếu sót của bệnh án
- Các trắc
nghiệm sinh hóa như men tim (Sgot,
SGPT, MB-CK, LDH, .), Amylase máu, Lipase máu không thấy đề cập đến.
- Ðo ÐTÐ
mấy lần-
- Mổ theo
đường Mac Burney hay đường giữa- Có thám sát ổ bụng không khi thấy ruột thừa
bình thường-
- Không
thấy đề cập đến siêu âm tim và siêu âm bụng.
- Tình
trạng tim mạch như trường hợp này có nên phẫu thuật bụng không- Dựa vào các dữ
kiện có trong bệnh án, có thể phẫu thuật bụng khẩn cấp cho bệnh nhân khi có chỉ
định.
Dù có thiếu
máu cục bộ cơ tim hay nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp, khi có vấn đề khẩn cấp ngoại
khoa (TD: Viêm ruột thừa cấp), vẫn phải mổ cho người bệnh. Ðương nhiên cần các
xử trí nội khoa bảo vệ hệ tim mạch.
Bệnh cảnh
khá điển hình của bụng ngoại khoa như trên, có thể phù hợp với chẩn đoán viêm
tụy cấp hay không-
Các chẩn đoán cần nghĩ đến ngoài viêm tụy cấp ở trường hợp này
(1)
-
-Thiếu máu hay nhồi máu
mạch mạc treo.
-
-Thủng dạ dầy hoặc tá
tràng
-
-Tắc ruột
-
-Cơn đau quặn mật
-
-Nhồi máu cơ tim vùng
hoành
Siêu âm
bụng ngay trong ngày nhập viện giúp hướng dẫn chẩn đoán.
Thử Amylase
máu và Lipase máu (tăng > 3 bình thường) giúp xác định chẩn đoán. Lipase máu
chuyên biệt hơn.
Rối loạn
nhịp tim không thể gây ra bệnh cảnh trên. Tai biến tim mạch trên bệnh nhân cao
HA có thể gây ra bệnh cảnh trên là: NMCT cấp vùng hoành, Nhồi máu hoặc thiếu máu
mạch vành treo. NMCT cấp vùng hoành thường làm giảm HA và mạch chậm. Trường hợp
này ít nghĩ đến. Tuy nhiên ÐTÐ mỗi 3 giờ hoặc 6 giờ rất cần thiết cho chẩn đoán
ngoài các men tim.
TS BS Phạm Nguyễn Vinh
Tài liệu
tham khảo
1- Banks
P.A : Practice Guidelines in Acute Pancreatitis. The American Journal of
Gastroenterology Vol 96 No 3,1997, p. 377-3851.
HỎI ÐÁP VỀ
ÐIỀU TRỊ SỐC SỐT XUẤT HUYẾT
Nếu nghi
ngờ xuất huyết tiêu hóa trên bệnh nhân bị SXH thì ta có đặt sonde dạ dày để theo
dõi tình trạng xuất huyết hay không-
Trong điều
trị SXH có truyền dịch (II,III hoặc IV) không phải bé nào nghi ngờ có xuất huyết
tiêu hóa trên là đặt sonde dạ dày.Nếu bệnh nhân hồng hào, chỉ ói một lần lợn cợn
đen, ta phải loại trừ các trường hợp trước đó chảy máu cam, bệnh nhân nuốt và
bây giờ ói ra. Nếu máu cam nuốt xuống đã loại trừ thì ta đặt vấn đề sonde dạ dày
khi:
1. Bệnh
nhân ói hai ba lần dịch nâu hoặc máu và còn cảm giác nhợn ói
2. Bệnh
nhân có dấu mất máu và bụng (thượng vị căng) kèm theo nhợn ói.
Bệnh nhân
có sốt xuất huyết tiêu hóa khi được đặt sonde dạ dày sẽ hứng được máu, làm bệnh
nhân dễ chịu vì làm bụng bớt căng, ta biết được lượng máu mất và ngăn chặn tình
trạng máu xuống ruột phân hủy làm tăng NH3.
Tuy nhiên
chúng tôi đã gặp có rất nhiều trường hợp đặt sonde dạ dày qua đường mũi làm xuất
huyết mũi thêm và một số trường hợp bệnh nhi không chấp nhận đạt sonde dạ dày
(la hét, vùng vẫy) thường phải dùng sonde đặt đường miệng hoặc đành không đặt
sonde vì muốn cho bệnh nhân nằm được yên.
2. SXH có
XHTH nên đặt sonde dạ dày không- Có ca nghi ngờ là XHTH nhưng không ói máu,
không tiêu máu, nên theo dõi như thế nào-
Xác nhận có
XHTH trong SXH-D là điều rất quan trọng vì trong các ca có XHTH, tiên lượng SXH
II hoặc SXH III và SXH IV đều dè dặt. Tuy nhiên cũng cần phân biệt XHTH nhiều
hay ít vì XHTH xảy ra ở dạ dày và ruột non với số lượng lớn sẽ ảnh hưởng đến sự
hạ thấp cô đặc máu của bệnh lý SXH (vốn có Hct tăng cao) làm bác sĩ điều trị
tưởng rằng mình đang điều trị tốt nếu chỉ dựa trên thay đổi của Hct.
Vì vậy cần
xác định có XHTH trên hay dưới và nên cần biết rõ số lượng XHTH trên là bao
nhiêu. Trong trường hợp XHTH trên nhiều bệnh nhân ói ra máu nhiều lần, bụng vùng
thượng vị căng, M, HA thay đổi, niêm nhợt, Hct giảm ta nên đặt sonde dạ dày
(đường miệng) để giảm áp dạ dày. bệnh nhân bớt khó chịu và BS điều trị biết
chính xác số lượng máu mất.
Tuy nhiên
nếu bệnh nhân chỉ ói một hai lần lợn cợn đen, bụng mềm xẹp, ta kkhông cần đặt
sonde dạ dày mà cần theo dõi sát: M, HA, NT và niêm mạc cũng như Hct. Một số
bệnh nhi phản ứng mạnh khi đặt sonde (đường miệng) đó là chưa nói đặt sonde
đường mũi có nguy cơ làm chảy máu cam, làm tình trạng xuất huyết phức tạp thêm.
3. Trong
SXH có XHTH mà BS lâm sàng dùng Dextran 40 liều 20ml/kg/giờ thường sẽ kéo Hct
xuống thấp. Lúc đó làm sao biết đó là đáp ứng với điều trị tốt hay có XHTH tiếp
diễn-
4. Theo tác
giả John Eliott Rhode40 nghiên cứu điều trị SXH-D thì thấy rằng trong các ca sốc
SXH nếu cho lượng L/R 20 ml/kg/giờ sẽ giảm Hct xuống 2%, trái lại nếu là D40 20
ml/kg/giờ sẽ giảm Hct được 4-5%. Như vậy có ý nghĩa là cùng một lượng dịch, cùng
tốc độ, D40 làm giảm cô đặc máu gấp đôi L/R. Trong sốc SXH có XHTH tình trạng
sốc sẽ nặng hơn vì là sốc thất thoát huyết tương + sốc mất máu. Vì vậy khi máu
còn cô đặc > 40% ta dùng D40, nếu điều trị tốt sẽ có kết quả lâm sàng cải thiện:
- Mạch
chậm, HA dãn ra, thở đều, niêm hồng, tay chân ấm... như chúng ta hy vọng với Hct
giảm.
- Trái lại
nếu Hct giảm mà kèm theo mạch nhanh, HA kẹp hoặc bình thường, niêm nhợt, tiểu ít
kèm theo các biểu hiện như nhợn ói, bụng to dần và tuy XHTH chưa thể hiện ra bên
ngoài ta có thể nghĩ có XHTH.
- Thường
thì sau điều trị 2-4 giờ nếu Hct giảm 10% mà diễn tiến lâm sàng không khá hơn,
chúng tôi nghĩ đến khả năng SXH có XHTH nhiều.
5. Ðiều trị
SXH có XHTH ồ ạt có nên rửa dạ dày bằng nước đá lạnh và bơm Noradrenalin hay
không-
Trong giải
phẫu bệnh lý của SXH-D các tác giả thấy niêm mạc dạ dày (các ca sốc nặng có đông
máu nội mạch lan tỏa) có các chấm xuất huyết kết thành mảng xuất huyết và từ đó
máu thoát khỏi thành mạch21 . Các tác giả không tìm thấy các vết loét như ta
tưởng. Vì vậy điều trị như loét dạ dày tá tràng là không đúng. Nếu đưa bệnh nhi
ra khỏi sốc, lượng fibrinogen không giảm thêm, tiểu cầu không giảm thêm. Vì vậy
nếu có XHTH ồ ạt tốt nhất nên cho truyền máu tươi hoặc plasma giàu yếu tố đông
máu là tốt nhất, giúp ra khỏi sốc và cầm máu).
Trái lại
nếu đặt sonde dạ dày gây khó chịu cho bệnh nhân nặng và rửa sạch nơi vừa cầm máu
chỉ tạo chảy máu thêm. Chúng tôi nghĩ Noradrenaline co mạch tại chỗ trong trường
hợp này không ít lợi gì.
6. Trẻ có
chảy máu mũi, chảy máu chân răng, chưa có sốc, nên truyền dịch sớm. Xin cho biết
liều lượng truyền là bao nhiêu, theo dõi bao lâu mới giảm dịch truyền và bao lâu
mới ngưng dịch truyền.
Cần phân
biệt SXH II có chảy máu mũi và SXH II có chảy máu chân răng. Chúng ta biết rằng
chảy máu mũi có thể xảy ra N1,N2,N3,N4,N5,N6,N7 và khi có chảy máu mũi (có tiền
căn hay không) ta đều phải cầm máu mũi bằng nhét mèche mũi thật chặt (đôi lúc
cần tẩm adrenaline). Vì thế chảy máu mũi nhiều không cầm, bệnh nhi nuốt và và ói
ra sau đó: khó mà phân biệt được với xuất huyết dạ dày sau 12 giờ. Hơn nữa có
nhiều ca chảy máu mũi trầm trọng còn buộc phải truyền máu (Hct # 20%) và nều
chảy ít hơn làm sai lạc Hct khiến bác sĩ điều trị nghĩ rằng không có cô đặc máu.
Trong những trường hợp chảy máu mũi ít, sau khi cầm máu mũi không cần truyền
dịch, nếu chảy nhiều cần truyền dịch trước khi truyền máu.
Trái lại,
chảy máu chân răng thì xử trí có khác. Chúng tôi ghi nhận chảy máu chân răng
xuất hiện vào N5,N6 và đặc biệt trong các ca sốc thì chảy máu chân rằng thường
gặp với một lượng tiểu cầu rất ít. Vì lý do đó khi thấy có chảy máu chân răng
N5,N6 ngoài cách xử trí như đã trình bày ở câu (19) ta nên truyền dịch và ngăn
chặn không cho vào sốc. KHi bắt đầu truyền dịch khoảng 5ml/kg/giờ chúng tôi theo
dõi sát M, HA, NT, Hct và nghĩ rằng SXH có chảy máu chân răng diễn tiến thường
phức tạp. Chúng tôi thường gặp nhiều ca SXH có chảy máu chân răng thường có
triệu chứng thần kinh như la hét, co gồng... sau đó.
TS BS
NGUYỄN TRỌNG LÂN