|
CHẤM DỨT THAI KỲ BẰNG THUỐC
-Hiện nay, có trên 15 quốc gia chính thức
chấp nhận việc chấm dứt thai kỳ bằng thuốc, nhất là sau khi hiệu quả của
mifepriston được chứng minh vào năm 1982. Trong 3 tháng đầu thai kỳ, các thủ
thuật nạo hút sản khoa thường được dùng nhiều hơn, nhưng những thủ thuật này ít
thành công trong những trường hợp thai dưới 7 tuần tuổi. Khi ấy việc dùng thuốc
để chấm dứt thai kỳ tỏ ra an toàn hơn. Ở đây, đề cập một số hiểu biết hiện nay
về việc chấm dứt thai kỳ bằng thuốc trong giai đoạn sớm của ba tháng đầu.
TÁC DỤNG SINH LƯ CỦA THUỐC LÀM SẨY THAI
Sau khi phóng noăn chừng 6-10 ngày, nếu
được thụ tinh, trứng sẽ làm ổ trong nội mạc tử cung. Hiện tượng này cần đến tác
động của progesteron để phiên mă các gen tham gia quá tŕnh làm ổ. Progesteron
cũng ức chế sự co thắt cơ trơn tử cung. Các thuốc được dùng để chấm dứt thai kỳ
tác động bằng cách ức chế tổng hợp progesteron, gây co cơ tử cung, đối kháng tác
dụng progesteron hoặc ức chế sự phát triển dưỡng bào.
- Ức chế tổng hợp progesteron-
Các phân tử steroid được thay đổi cấu
trúc, như epostan, và các chất ức chế cạnh tranh với enzym 3b-hydroxysteroid
dehydrogenase ở buồng trứng và nhau, như trilostan, có tác dụng ức chế tổng hợp
progesteron từ tiền chất của nó là pregnenolon.
- Gây co cơ tử cung
Prostaglandin và oxyocin kích thích co
thắt tử cung bằng cách gắn với thụ thể đặc hiệu trên bề mặt tế bào cơ trơn tử
cung. Tác dụng này làm lưới nội bào tương tăng sản xuất calci, do đó làm tử cung
co thắt.
- Đối kháng tác dụng của progesteron
Chất đối kháng progesteron
(kháng-progestin) được phát triển đầu tiên là mifepriston, c̣n được gọi là RU
486 hoặc RU 38486, có ái tính kết gắn với thụ thể progesteron mạnh gấp 5 lần so
với progesteron. Hợp chất này ức chế sự phiên mă, làm giảm số lượng gen lệ thuộc
progesteron, gây hoại tử màng rụng và bong phôi. Kháng-progestin c̣n tác động
trên mạch máu nội mạc làm hỏng phôi. Những chất này làm tăng co tử cung bằng
cách tăng tính kích thích của tế bào cơ trơn tử cung, và c̣n làm mở cổ tử cung.
- Ức chế sự phát triển dưỡng bào
Methotrexat, chất đối kháng acid folic,
ngăn chận sự tổng hợp DNA. Các tế bào đang tăng sinh đều nhạy cảm với
methotrexat, vốn thường dùng để trị ung thư nhau và thai ngoài tử cung.
SỬ DỤNG THUỐC ĐỂ CHẤM DỨT THAI KỲ
Chấm dứt thai kỳ bằng thuốc chỉ được xem
là thành công khi tống xuất được phôi thai mà không cần can thiệp ngoại khoa.
Phương pháp này không được khuyên dùng sau tuần 9 của thai kỳ v́ dễ thất bại và
gây xuất huyết tử cung. Do đó việc xác định tuổi thai qua siêu âm rất cần thiết.
Ngoài ra, với phương pháp này, sản phụ phải thường đến khám hơn phương pháp nạo
phá thai bằng thủ thuật sản khoa. Dưới đây là các thuốc thường được dùng.
EPOSTAN
Có thể dùng đơn thuần hoặc phối hợp với
prostaglandin E2 (đặt âm đạo) đối với các trường hợp thai dưới 56 ngày. Liều
dùng là 200 mg mỗi 6-8 giờ trong 7 ngày. Tỉ lệ thành công chỉ 84% nhưng gây buồn
nôn ở 86% số sản phụ. V́ thế, epostan không được FDA công nhận sử dụng trong chỉ
định này.
PROSTAGLANDIN-
Hiện nay chỉ sử dụng các hợp chất
prostaglandin E2 tổng hợp như misoprostol và gemeprost. Misoprostol tương đối
rẻ, có thể bảo quản ở nhiệt độ pḥng, và hiện được dùng tại nhiều nước để đề
pḥng và điều trị loét dạ dày do thuốc kháng viêm không-steroid. Trái lại,
gemeprost chỉ có dạng thuốc đặt âm đạo, đắt tiền, cần bảo quản trong tủ lạnh.
Thuốc này không được chấp nhận sử dụng tại Hoa Kỳ.-
Hiệu quả: Thuốc dùng đường uống kém
hiệu quả hơn thuốc đặt âm đạo. Những nghiên cứu với misoprostol khi uống liều
800-2400 mg
cho thấy kết quả gây sẩy thai hoàn toàn đạt từ 22% đến 94%, tỉ lệ thành công
không lệ thuộc liều dùng và tuổi thai. Ngâm ướt viên nén misoprostol để đặt âm
đạo cũng không cải thiện được kết quả.
Gemeprost đặt âm đạo với liều 1 mg (nếu
cần mỗi 3 giờ có thể đặt thêm một liều, tối đa là 5 liều) cho kết quả thành công
ở 97% số sản phụ có thai dưới 56 ngày. Nếu dùng liều 1 mg đặt âm đạo mỗi 6 giờ
(tối đa 3 liều) th́ tỉ lệ thành công chỉ 87%.
Tác dụng phụ: Prostaglandin có nhiều
tác dụng phụ (đau bụng, chóng mặt, buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, rét run và nổi
mẩn). Thường phải giảm đau bằng thuốc giảm đau họ á phiện (53% số BN dùng
gemeprost tổng liều 5 mg phải dùng thuốc giảm đau, so với 16% khi dùng tổng liều
3 mg), nên sản phụ cần ở lại bệnh viện để theo dơi. Khi dùng misoprostol, thời
gian ra huyết trung b́nh là 11 ngày, so với 14 ngày khi dùng gemeprost.
Những trường hợp dùng misoprostol thất bại
có thể gây các dị tật bẩm sinh cho thai (thiếu da đầu hoặc xương sọ, liệt các
dây thần kinh sọ, hoặc dị tật chi dưới) mà nguyên nhân có thể do tăng áp suất
buồng tử cung (v́ co cơ tử cung) hoặc co mạch. V́ có nhiều tác dụng phụ nên
prostaglandin thường được dùng liều thấp và phối hợp với mifepriston hoặc
methotrexat.
METHOTREXAT + PROSTAGLANDIN-
Phối hợp hai thuốc này rất có hiệu quả
trong việc chấm dứt thai kỳ. Methotrexat thường được tiêm bắp với liều 50 mg/m2
diện tích da. Dùng đường uống (liều duy nhất 25 mg hoặc 50 mg) cũng có hiệu quả.
Sau đó 3-7 ngày, đặt âm đạo 800
mg
misoprostol.
Hiệu quả: Nếu tuổi thai dưới 56 ngày,
dùng phối hợp methotrexat và misoprostol có tỉ lệ thành công từ 84-97%, tính từ
khi dùng methotrexat cho đến 24 giờ sau khi đặt misoprostol hoặc muộn hơn.
Khoảng 12-35% số sản phụ bị sẩy thai muộn 20-30 ngày sau khi dùng misoprostol.
Tác dụng phụ: Xuất độ các tác dụng
phụ khi dùng phác đồ này thay đổi tùy nghiên cứu. Thường gặp là các triệu chứng
sốt và rét run (8-60%), tiêu chảy (3-52%), buồn nôn (2-25%). Khoảng 40-90% số
sản phụ báo cáo phải cần đến thuốc giảm đau. Ngoài ra, có 5% số trường hợp bị
viêm loét miệng do methotrexat.
Thời gian trung b́nh ra huyết âm đạo từ
10-17 ngày. Trong một nghiên cứu (Wiebe, 1997), có 4% số sản phụ phải can thiệp
ngoại khoa v́ xuất huyết nhiều. Metho-trexat có thể gây dị dạng trên thai (chi
ngắn, thiếu ngón) và cần theo dơi kỹ bằng siêu âm sau khi dùng thuốc v́ có 1-10%
số thai vẫn phát triển.
KHÁNG-PROGESTIN + PROSTAGLANDIN
Kháng-progestin được nghiên cứu nhiều nhất
là mifepriston (200-600mg). Prostaglandin thường được dùng sau liều mifepriston
48 giờ, với gemeprost (1 mg đặt âm đạo) hoặc với misoprostol (uống liều duy nhất
400-600 mg hoặc dùng liều đầu 400 mg rồi dùng thêm 200 mg sau 2-3 giờ nếu chứa
sẩy thai; hoặc đặt âm đạo 800 mg). Một nghiên cứu (Baird và cs., 1995) cho thấy
tỉ lệ thai tiếp tục phát triển cao hơn khi uống misoprostol so với gemeprost đặt
âm đạo.
Hiệu quả: Đô- với thai
- 7 tuần, tỉ lệ thành công khi dùng phối hợp
mifepriston và prostaglandin là 92-98%. Đối với thai từ 7-9 tuần, tỉ lệ thành
công khi phối hợp với misoprostol dạng uống (77-95%) thấp hơn so với khi phối
hợp với gemeprost hoặc misoprostol đặt âm đạo (94-
97%). Sẩy thai xảy ra trong ṿng 4 giờ sau khi dùng misoprostol được ghi nhận ở
44-77% số sản phụ. Có hai nghiên cứu dùng mifepriston + misoprostol dạng uống
cho thấy xuất độ thai tiếp tục phát triển tăng dần theo tuổi thai (Spitz và cs.,
1998; và Aubeny và cs., 1995), nhưng không thấy sự kết hợp đó khi dùng
mifepriston + gemeprost.-
Tác dụng phụ: Nghiêm trọng nhất là ra
huyết âm đạo nhiều, nhưng chỉ có 0,1% số trường hợp cần truyền máu. Lượng máu
mất từ 84-101 ml, so với 53 ml khi dùng thủ thuật sản khoa. Thời gian ra huyết
khoảng 8-17 ngày. Dùng methotrexat hoặc thuốc ngừa thai không có hiệu quả rút
ngắn thời gian ra huyết.
Tác dụng phụ hay gặp nhất là đau bụng và
g̣ tử cung, nhiều trường hợp phải dùng một hoặc nhiều thuốc giảm đau. Các tác
dụng phụ khác ở đường tiêu hóa do prosta-glandin là buồn nôn (34-72%), ói mửa
(12-41%), tiêu chảy (3-26%). Hiếm gặp hơn là nhức đầu, chóng mặt, đau lưng, mệt
mỏi. Xuất độ viêm nội mạc tử cung thấp hơn khi phá thai bằng thủ thuật sản khoa.
Misoprostol có thể đi kèm với các dị tật bẩm sinh ở người như đă nên ở trên.
Chống chỉ định: Mifepriston và
prostaglandin bị chống chỉ định cho những sản phụ phải dùng liệu pháp corticoid
dài ngày (hen suyễn, suy thượng thận). Phải thận trọng khi dùng những thuốc này
cho BN tiểu đường có biến chứng, thiếu máu nặng, hoặc rối loạn đông máu và BN
dùng thuốc chống đông máu. Sulfoproston (một loại prostaglandin) bị chống chỉ
định cho phụ nữ trên 35 tuổi bị béo ph́, nghiện thuốc lá, hoặc có các yếu tố
nguy cơ tim mạch khác v́ thuốc dễ gây suy tim trên những đối tượng này. Tuy vậy,
đối với mifepriston và gemeprost th́ không chống chỉ định cho những đối tượng
đó. Khi dùng methotrexat cần tránh dùng thuốc có chứa folat.
Theo Christin-Maitre và cs., Medical termination of pregnancy. N Engl J Med
2000; 342:946-956 (N.T.)
THUỐC CHẸN
b LÀM GIẢM TỬ SUẤT VÀ TẦN
SUẤT BIẾN CHỨNG TRONG SUY TIM SUNG HUYẾT
-Vấn đề đặt ra là hiệu quả của chẹn
b ra sao đối với tử vong và
tần suất biến chứng của người bệnh bị suy tim sung huyết- Đây là tổng quan về
các thử nghiệm được rút ra từ việc truy t́m trên Medline (1996 đến tháng 3,
1997) với từ- khoá dùng là thuốc chẹn
b và suy tim. Các nghiên cứu được chọn lọc là
những thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược, so sánh thuốc chẹn
b trên các BN bị suy tim sung huyết với phân suất tống
máu thất trái giảm, đă được điều trị > 1 tháng, việc theo dơi được thực hiện
b
95% trường hợp, phân tích trên cơ sở điều trị theo dự tính.
Dữ liệu trích bao gồm: Thuốc chẹn
b và phân loại NYHA (Hiệp
Hội Tim Mạch New York), tỉ suất chọn ngẫu nhiên, thời gian theo dơi, nguyên nhân
của suy tim sung huyết, tử suất, nhập viện v́ suy tim sung huyết, ghép tim, phân
suất tống máu thất trái, thời gian vận động thể lực tối đa, và các tác dụng
ngoại ư.
Các kết quả chính- T́m thấy 123 bài báo
với 18 thử nghiệm (thời gian theo dơi trung b́nh 13 tháng) bao gồm 2986 BN thỏa
điều kiện nghiên cứu với nhiều nguyên nhân khác nhau của suy tim sung huyết.
Chọn được 7 thử nghiệm dùng metoprolol (n = 562), 4 dùng bucindolol (n = 209), 2
dùng carvedilol (n = 1059), 2 dùng nebivolol (n = 36), 1 dùng bisoprolol (n =
641), 1 dùng acebutolol (n = 17), và 1 dùng labetalol (n = 12). Nguy cơ tương
đối được tính dựa trên mô h́nh các hiệu quả cố định. So với giả dược, BN được
điều trị với thuốc chẹn
b có giảm nguy cơ tương đối
về tử vong [P=0.008]* (10 thử nghiệm), về nhập viện v́ suy tim sung huyết
[P<0.001]* (5 thử nghiệm) và về ghép tim [P=0.016]* (6 thử nghiệm) (Bảng 1); cải
thiện phân suất tống máu thất trái [P<0.001] (11 thử nghiệm); nhưng lại có tỉ lệ
bị nhịp tim chậm, HA thấp và chóng mặt cao hơn [P<0.001] (13 thử nghiệm); và
giảm tỉ lệ t́nh trạng suy tim xấu đi [P<0.001] (13 nghiên cứu). Trong 9 thử
nghiệm, không thấy có sự khác biệt giữa thuốc thuốc chẹn
b
so với giả dược về thời gian vận động thể lực tối đa.
Bảng 1: Thuốc
chẹn b so với giả dược trên BN suy tim sung huyết
|
Kết quả (thời gian theo dơi trung
b́nh)
|
Thuốc chẹn
b đă hiệu chỉnh
|
Nhóm chứng đă hiệu chỉnh
|
RRR (95%CI)
|
NNT (95%CI)
|
|
Tử suất
(13 tháng)
|
8,2%
|
12.6%
|
25%
(7-40)
|
32
(19-93)
|
|
Nhập viện
(20 tháng)
|
18,1%
|
28,8%
|
37%
(24-48)
|
11
(8-18)
|
|
Ghép tim
(10 tháng)
|
1,1%
|
2,7%
|
54%
(13-75)
|
115
(53-580)
|
Ghi chú: RRR: độ giảm nguy cơ tương đối
(relative risk reduction), NNT: số người cần điều trị (number needed to treat).
Kết luận: Thuốc chẹn
b
giảm tử suất, giảm số lần phải nhập viện, số lần ghép tim và cải thiện phân suất
tống máu thất trái.
Từ nhiều năm nay, có sự quan tâm đến cái
gọi là nghịch lư trong việc điều trị suy tim sung huyết bằng thuốc chẹn
b. Các nghiên cứu gần đây đă
dẫn đến việc FDA Hoa Kỳ chấp thuận cho dùng carvedilol điều trị suy tim sung
huyết. Tổng phân tích này cho thấy việc sử dụng thuốc chẹn
b trên BN suy tim sung huyết
làm giảm tử suất và cải thiện các hệ quả khác.
Ngoài ra, rơ ràng là có bằng chứng hỗ trợ
cho việc dùng thuốc chẹn b
trong điều trị bệnh tim do thiếu máu, ngay cả trong các t́nh huống "nguy cơ cao"
như phân suất tống máu thất trái kém sau nhồi máu cơ tim; đặc tính chống thiếu
máu và các tác dụng có lợi của chúng trong việc ngăn ngừa xảy ra đột tử. BN với
rối loạn chức năng thất trái sẽ có lợi khi dùng thuốc chẹn
b do các thuốc này có tác dụng điều hoà các cơ chế
giao cảm trên tim và ở ngoại vi.
Theo ACP Journal Club Jan/Feb 1999: Revew:
b-blockers reduce mortality and morbidity
in congestive heart failure (NVP)
CAO HUYẾT ÁP
VÀ TRỊ LIỆU CAO HUYẾT ÁP NHƯ LÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG TƯP II
-Các nghiên cứu trước đây cho thấy lợi
tiểu thiazid và chẹn b
có thể gây nên tiểu đường tưp II. Tuy nhiên,- kết quả của các nghiên cứu này
không hằng định, và nhiều nghiên cứu bị giới hạn bởi sự thiếu các dữ kiện về hệ
quả và tiềm tàng nhiều yếu tố gây nhiễu.
Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu tiến
hành trên 12.550 người, từ 45 đến 60 tuổi, không mắc bệnh tiểu đường. Một khảo
sát ban đầu đánh giá tỷ mỉ sức khỏe, bao gồm việc sử dụng thuốc và đo huyết áp
(HA) bằng một HA kế thủy ngân với số đo chọn lựa ngẫu nhiên. Tần suất tiểu đường
mới mắc được đánh giá sau 3 năm và sau 6 năm bằng nồng độ glucose trong huyết
tương lúc đói.
Kết quả: Sau khi đồng thời hiệu chỉnh
theo tuổi, phái tính, chủng tộc, giáo dục, t́nh trạng béo ph́, tiền sử gia đ́nh
có liên quan đến tiểu đường, mức độ hoạt động thể lực, các hành vi khác có liên
quan đến sức khỏe, và các bệnh đi kèm, cho thấy BN cao HA dùng lợi tiểu thiazid
không có nguy cơ cao hơn người không dùng bất kỳ thuốc hạ áp nào trong việc xuất
hiện bệnh tiểu đường sau đó (nguy cơ tương đối, 0,91; KTC 95%, 0,73-1,13. Tương
tự như vậy, những người dùng ức chế men chuyển và đối kháng Ca không có nguy cơ
cao hơn người không dùng thuốc nào. Ngược lại, những người bị cao HA dùng chẹn
b có 28% nguy cơ cao hơn mắc tiểu đường sau đó (nguy
cơ tương đối, 1,28; KTC 95%, 1,04-1,57)
Kết luận: Mối lo ngại về nguy cơ bệnh
tiểu đường không nên làm thầy thuốc nản ḷng khi cho người lớn cao HA không mắc
bệnh tiểu đường dùng lợi tiểu thiazid. Việc sử dụng chẹn
b dường như gia tăng nguy cơ
mắc bệnh tiểu đường, nhưng tác dụng bất lợi này nên được cân nhắc so với các lợi
ích đă được chứng minh của chẹn
b
trong việc làm giảm nguy cơ các biến cố tim mạch.
Theo N Engl J Med 2000; 342:969-70 (NVP)
NUÔI BỆNH NHÂN UNG THƯ DẠ DÀY-RUỘT TRƯỚC VÀ SAU MỔ HOÀN
TOÀN BẰNG ĐƯỜNG TĨNH MẠCH
-Các thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu những
lợi ích tiềm năng của việc nuôi dưỡng hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch trước và
sau mổ để giảm các nguy cơ của phẫu thuật trên bệnh nhân ung thư suy dinh dưỡng
cho những kết quả nhau. V́ thế, trong một thử nghiệm lâm sàng mới đây, F.
Bozzetti và cộng sự (Milan, Italy) đă t́m hiểu tác động của biện pháp nuôi dưỡng
này trên tỉ lệ biến chứng sau mổ của bệnh nhân ung thư dạ dày-ruột kèm t́nh
trạng suy dinh dưỡng.
Có 90 bệnh nhân có khối u dạ dày hoặc khối
u đại-trực tràng, giảm
- 10% thể trọng so với
b́nh thường, đủ tiêu chuẩn nhận vào nghiên cứu này. Các đối tượng được phân ngẫu
nhiên vào hai nhóm: một nhóm được nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch trong 10 ngày
trước mổ và 9 ngày sau mổ và một nhóm chứng. Phác đồ nuôi bằng đường tĩnh mạch,
tính theo kg thể trọng mỗi ngày, là 34.6
-
7.3 kcal bằng dung dịch không chứa protein và 0.25
- 0.04 nitrogen/kg trong một thể tích là 42.6
- 7.3 mL dịch truyền. Bệnh
nhân ở nhóm chứng không được truyền dung dịch nuôi dưỡng trước mổ, nhưng sau mổ
được truyền 940 kcal bằng dung dịch không có protein và 85 g acid amin mỗi ngày.
Các biến chứng sau mổ xảy ra ở 37% số bệnh
nhân được nuôi dưỡng hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch theo phác đồ trên, so với
57% ở nhóm chứng (p= 0.03). Chiếm- phần lớn trong sự khác biệt đó là những biến
chứng không nhiễm trùng, theo thứ tự ở hai nhóm là 12% và 34% (p=0.02). Trong
nhóm chứng có 5 trường hợp tử vong (p=0.05). Tổng thời gian nằm việ- của bệnh
nhân được nuôi hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch dài hơn so với nhóm chứng
(p=0.00), trong khi đó số ngày nằm viện sau mổ của hai nhóm khác nhau không có ư
nghĩa.
Qua nghiên cứu này, các tác giả kết luận
rằng việc nuôi dưỡng hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch trong 10 ngày trước mổ và
tiếp tục sau mổ-có thể giảm được xấp xỉ một phần ba tỉ lệ biến chứng, và ngăn
ngừa được tử vong trên bệnh nhân ung thư dạ dày-ruột suy dinh dưỡng nặng.
Theo Bozzetti F. và cs. Perioperative total nutrition in
malnourished, gastrointestinal cancer patients: a ran-domized trials. J Parenter
Enteral Nutr 2000; 24(1) (NT)
FDA CHẤP THUẬN SỬ DỤNG MOBIC TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM XƯƠNG -
KHỚP
-Theo tin từ Cơ quan Quản lư Dược phẩm và
Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA), ngày 14/4/200, thuốc MOBIC (meloxicam) được chấp thuận
sử dụng trong điều trị viêm xương khớp tại Hoa Kỳ.
Tính an toàn và hiệu quả của meloxicam đă
được thử nghiệm lâm sàng trên 22.000 BN trên thế giới. Thử nghiệm SELECT
(Rheumatol 1998; 37(9):946-51) so sánh meloxicam 7,5 mg (4320 BN) với piroxicam
20 mg (4336 BN) uống 1 lần/ngày trong 28 ngày. Trong khi hiệu quả của hai thuốc
tương đương nhau, tần suất tác dụng ngoại ư của nhóm meloxicam (22,5%) thấp hơn
nhóm piroxicam (27,9%; P<0,001), chủ yếu là do ít bị tác dụng phụ ở đường tiêu
hóa hơn: nôn mửa (2,5% so với 3,4%; P < 0,05) và đau bụng (2,1% so với 3,6%; P <
0,001). Kết quả thử nghiệm này cũng giống như thử nghiệm MELISSA (Br J Rheumatol
1998;37(9):937-45) so sánh meloxicam 7,5 mg với diclofenac 100 mg phóng thích
chậm để điều trị triệu chứng viêm xương - khớp trong 28 ngày. Tổng cộng có 9323
BN (4635 meloxicam và 4688 diclofenac). Kết quả cho thấy nhóm meloxicam bị tác
dụng phụ ít hơn (13%) so với nhóm diclofenac (19%; P<0,001). Những kết quả trên
phản ánh tính ức chế chọn lọc ưu thế trên COX-2 của meloxicam.
Quan niệm về COX khởi sự từ năm 1971, Van
J cho rằng thuốc kháng viêm không steroid (KVKS) tác động bằng cách ức chế tổng
hợp prostaglandin. Tất cả KVKS ức chế cyclooxygenase (COX), đây là enzym chuyển
đổi arachidonic acid thành prostaglandin, ức chế COX là tạo ra tác dụng điều trị
và tác dụng phụ của thuốc KVKS.
Trong quá khứ, người ta chưa thể cải thiện
được tỷ suất nguy hại/lợi ích của thuốc KVKS v́ làm giảm tác dụng phụ th́ đồng
thời giảm hiệu quả của thuốc. Tuy nhiên, COX tồn tại dưới hai dạng với chức năng
khác nhau là COX-1 và COX-2. Điều này giúp thiết kế sản xuất thuốc KVKS an toàn
hơn mà không mất hiệu quả. Hiệu quả điều trị của KVKS chủ yếu là do ức chế COX-2
để làm giảm đau và chống viêm. Tác dụng phụ của KVKS trên hệ tiêu hóa và thận là
do ức chế COX-1.
COX-1 liên tục được biểu hiện trong mô
(tiểu cầu, tế bào nội mạc, dạ dày và thận) và có chức năng tổng hợp
prostaglandin để điều ḥa hoạt động b́nh thường tế bào. Ngược lại, COX-2 được
biểu hiện bởi những chất trung gian của hiện tượng viêm như interleukin-1 hoặc
endotoxin, tạo ra prostaglandin gây đau và viêm.
Sự khác biệt về phương diện tác dụng phụ
của nhiều loại KVKS là do khác biệt về tính chọn lọc COX-1 hoặc COX-2. Ức chế
COX-1 sẽ dẫn đến tác dụng ngoại ư ở dạ dày và thận, trong khi đó ức chế COX-2
làm giảm đáp ứng viêm. Người ta thường diễn tả tính chọn lọc COX-1 hoặc COX-2
bằng tỷ suất: IC50 COX-2 / IC50 COX-1. Tỷ suất càng cao, th́ càng nhiều tính
chọn lọc COX-1. Tỷ suất càng thấp, càng chọn lọc cho COX-2. Một hợp chất với tỷ
suất này thấp sẽ được dung nạp tốt mà vẫn duy tŕ được tác dụng kháng viêm. Tuy
nhiên, những nghiên cứu tiền lâm sàng mới đây cho thấy, chất ức chế chọn lọc
COX-2 chỉ cải thiện hiện tượng viêm khi ức chế cả COX-1 và COX-2. Thí nghiệm ở
chuột thiếu COX-2 vẫn có đáp ứng viêm so với chuột b́nh thường (Wallace JL,
1998), trong khi đó chuột thiếu COX-1 lại giảm đáp ứng viêm (Langenbach R,
1995). Những phát hiện này gợi ư rằng tính kháng viêm cần ức chế mức độ nào đó
COX-1, cũng như ức chế COX-2.
COX-2 được xem như là enzym tiền-viêm và
là đích để điều trị bệnh lư viêm. Trong thí nghiệm gây viêm, người ta nhận thấy
biểu hiện COX-2 sau 2 giờ là enzym tiền-viêm nhưng sau khi hết viêm 48 giờ lại
thấy một lượng COX-2 lớn hơn xuất hiện. Ở dạ dày, COX-1 chịu trách nhiệm sự
nguyên vẹn niêm mạc, lượng COX-2 không đáng kể ở thành dạ dày b́nh thường. Tuy
nhiên, có sự gia tăng hoạt tính COX-2 trong giai đoạn cấp của loét dạ dày và
COX-2 tích tụ ở vùng -àn gắn vết loét tối đa (Schmassmann A 1998). Điều này cho
thấy COX-2 có thể đóng vai tṛ quan trọng trong quá tŕnh làm lành vết loét. Ở
súc vật thí nghiệm, những chất ức chế chọn lọc cao COX-2 cũng ức chế luôn cả quá
tŕnh chữa lành vết loét. Suy rộng ra, những chất ức chế chọn lọc cao COX-2 có
lợi là làm giảm độc tính ở dạ dày nhưng có thể tạo ra những phản ứng phụ không
mong muốn ở cơ quan khác. Đó là trường hợp của thuốc flosulide (một ức chế chọn
lọc cao COX-2) bị ngưng sử dụng v́ độc tính trên thận (Furst DE, 1998). Do vậy,
cho đến khi có đủ những thử nghiệm lâm sàng và những dữ liệu theo dơi sau khi
thuốc được tung ra thị trường mới có thể đánh giá hết lợi ích và nguy hại của
thuốc ức chế chọn lọc cao COX-2.
Chất ức chế chọn lọc COX-2 có bước tiến
quan trọng trong liệu pháp kháng viêm v́ nó có hiệu quả tương đương với KVKS cũ
mà lại an toàn và dung nạp tốt hơn. Đă có nhiều bằng chứng lâm sàng ủng hộ cho
meloxicam, một chất ức chế chọn lọc COX-2 với tác dụng tối thiểu trên COX-1, là
thuốc được dung nạp tốt hơn KVKS cũ (Wolf MM, 1999). (LAB)
HIỆU QUẢ
CỦA LIỆU PHÁP 5 NGÀY CEFUROXIM ACETIL TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM TAI GIỮA CẤP
Trong những năm gần đây, có nhiều ư kiến
quan tâm đến việc rút ngắn thời gian điều trị kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm
khuẩn thông thường. Gooch WM III và cộng sự ở Đại học Y khoa Utah (Salt Lake
City, Hoa Kỳ) đă thực hiện hai thử nghiệm lâm sàng độc lập, đa trung tâm, mù
đơn, ngẫu nhiên; trong đó có một nghiên cứu đánh giá vi sinh học dịch tai giữa
được hút qua rạch màng nhĩ để so sánh hiệu quả và tính an toàn của điều trị bằng
hỗn dịch cefuroxim acetil (CAE) 5 ngày hoặc 10 ngày so với 10 ngày bằng hỗn dịch
amoxillin/clavulanat (AMX/CL) trên trẻ em bị viêm tai giữa cấp.
Tổng cộng có 719 bệnh nhi từ 3 tháng tuổi
đến 12 tuổi được nhận vào 2 nghiên cứu trên. Bệnh nhi được dùng CAE 5 ngày hoặc
10 ngày với liều 30 mg/kg/ngày chia 2 lần (theo thứ tự, n = 242 và n = 235) hoặc
dùng AMX/CL trong 10 ngày với liều 40 mg/kg/ngày chia 3 lần (n = 242). Nhóm trẻ
dùng CAE (5 ngày) được dùng giả dược từ ngày 6 đến ngày 10. Trong nghiên cứu có
rạch màng nhĩ, đánh giá vi sinh học dựa vào kết quả cấy dịch tai giữa được lấy
trước khi điều trị, và nếu có thể cả sau khi điều trị đối với trẻ có kết quả lâm
sàng không thỏa đáng.
Kết quả cho thấy phân lập được vi khuẩn từ
dịch tai giữa trước điều trị trên 177/244 bệnh nhân (73%) được rạch màng nhĩ,
chủ yếu là Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae
và Moraxella catarrhalis (theo thứ tự chiếm 37, 35 và 12% số vi khuẩn
phân lập). Trên số trẻ có thể đánh giá được về vi khuẩn học và được điều trị
bằng CAE trong 5 hoặc 10 ngày hoặc bằng AMX/CL, tỉ lệ thanh toán được (hoặc được
xem như đă thanh toán) tác nhân gây bệnh, theo thứ tự là 92% (24/26), 84%
(32/38) và 95% (36/38) số bệnh nhân mỗi nhóm.
Kết quả lâm sàng khả quan (chữa khỏi hoặc
có cải thiện) được ghi nhận ở 69% (101/147), 70% (121/173) và 74% (131/177) số
bệnh nhân của các nhóm, theo thứ tự, dùng CAE (5 ngày), CAE (10 ngày) và AMX/CL.
Điều trị AMX/CL đi kèm với một xuất độ tác dụng phụ cao hơn một cách có ư nghĩa
so với điều trị CAE 5 hoặc 10 ngày, phản ánh chủ yếu xuất độ cao tác dụng phụ
tiêu hóa có liên quan với thuốc (34% so với 17% và 12%, theo thứ tự, p <0.001),
nhiều nhất là tiêu chảy.
Các tác giả kết luận rằng điều trị bằng
CAE ngày 2 lần trong 5 ngày tương đương như điều trị bằng CAE 10 ngày dùng như
trên hoặc bằng AMX/CL ngày- 3 lần trên trẻ bị viêm tai giữa cấp.
Theo Gooch WM 3rd và cộng sự. Effectiveness of five days of therapy with
cefuroxime acetil suspension for treatment of acute otitis media. Pediatr Infect
Dis J 1996;15(2):157-164 (N.T.)-
HIỆU QUẢ CỦA IPRATROPIUM BROMID XÔNG KHÍ DUNG PHỐI HỢP
VỚI LIỀU CAO salbutamol TRONG ĐIỀU TRỊ SUYỄN NẶNG Ở TRẺ EM
Thuốc chủ vận-
b2
dạng khí dung và corticosteroid đă được dùng nhiều trong điều trị cơn suyễn kịch
phát. Tuy nhiên có nhiều bệnh nhi đáp ứng không thích đáng với phác đồ này, nên
tại châu Âu và Canada, ipratropium bromid, một thuốc đối kháng acetylcholin, đă
được dùng như một liệu pháp bổ trợ cho chủ vận
b2.
Trên trẻ em bị suyễn nặng, Suzanne Schuh
và cộng sự đă nghiên cứu t́m hiểu hiệu quả của việc thường xuyên xông khí dung
ipratropium thêm vào điều trị salbutamol (albuterol) liều cao.
Đối tượng nghiên cứu gồm 120 trẻ (từ 5 đến
17 tuổi) bị suyễn nặng, có thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1)
<50% trị số dự kiến. Những bệnh nhân này được phân ngẫu nhiên vào 3 nhóm trong
một thiết kế so sánh có đối chứng với giả dược: nhóm 1 được dùng ba liều
ipratropium bromid xông khí dung (250
mg/liều) trong ṿng 60 phút;
nhóm 2 được dùng một liều ipratropium; nhóm 3 không dùng ipratropium. Cả ba nhóm
c̣n được điều trị ba liều salbutamol xông khí dung (0.15 mg/kg/liều) trong ṿng
60 phút. Các thông số về chức năng phổi và lâm sàng được đánh giá mỗi 20 phút
một lần trong khoảng thời gian 120 phút.-
Kết quả cho thấy trước khi điều trị, các
đặc điểm lâm sàng của cả ba nhóm đều tương tự nhau. Đến phút thứ 120, tỉ lệ phần
trăm trung b́nh của FEV1 dự kiến được cải thiện từ 33.4% lên 56.7% ở
nhóm 1, từ 34.2% lên 52.3% ở nhóm 2, và từ 35.4% lên 48.4% ở nhóm 3 (p=0.0001).
Sự khác biệt giữa các nhóm thể hiện rơ nhất ở những trẻ có trị số FEV1
ban đầu
- 30% của FEV1 dự
kiến: FEV1
tăng từ 24.5% lên 50.9% ở nhóm 1, từ 25.0% lên 39.8% ở nhóm 2, và từ- 25.9% lên
36.5% ở nhóm 3 (p=0.0001).
Trong nhóm 1, có 38% bệnh nhân phải nhập
viện sau nghiên cứu, nhóm 2 có 44% và nhóm 3 có 46% (trị số p không có ư nghĩa).
Tuy vậy, trên bệnh nhân có FEV1
-30%, tỉ lệ nhập viện là 27% ở nhóm 1, 56% ở
nhóm 2, và 83% ở nhóm 3 (p=0.027). Qua nghiên cứu không phát hiện thấy tác dụng
độc có thể quy cho ipratropium.
Các tác giả kết luận rằng việc dùng thêm
ipratropium dạng xông khí dung nhiều liều lặp lại với việc dùng liều cao
salbutamol nhiều lần trên bệnh nhân có cơn suyễn nặng cấp tỏ ra an toàn và hữu
hiệu hơn dùng salbutamol đơn thuần. Việc sử dụng thuốc phối hợp như vậy trên
bệnh nhân có cơn suyễn nặng có thể giảm bớt khả năng nhập viện.
Theo Suzanne S. và cộng sự. Efficacy of frequent nebulized ipratropium bromide
added to frequent high-dose albuterol therapy in severe chilhood asthma, J
Pediatr 1995;126:639-45 (N.T.)
Cơ chế tác dụng của vinpocetin
Cavinton là thuốc đă được sử dụng trên lâm
sàng hơn hai mươi năm nay nhằm điều trị các rối loạn về mạch máu năo và các
triệu chứng có liên quan. Từ khi ra đời đến nay, hoạt chất của thuốc,
vinpocetin, ngoài việc được sử dụng trong trị liệu c̣n là một hợp chất được dùng
làm chất đối chiếu trong các nghiên cứu dược lư học về các khiếm khuyết nhận
thức do nguyên nhân thiếu oxygen và thiếu máu cục bộ ở năo, cũng như trong các
nghiên cứu tế bào và sinh hóa liên quan đến các nucleotid ṿng.
Trong một bài tổng quan gần đây, các nhà
nghiên cứu Hungary đă tập hợp các số liệu thực nghiệm của vinpocetin và nêu lên
những điểm chính trong cơ chế tác động của thuốc. Các thí nghiệm đầu tiên với
vinpocetin cho thấy có năm tác động dược lư và sinh hóa chủ yếu: (1) tăng cường
tuần hoàn năo bộ và sự sử dụng oxygen một cách chọn lọc mà không ảnh hưởng có ư
nghĩa đến các thông số tuần hoàn toàn thân, (2) tăng sức chịu đựng của năo đối
với t́nh trạng thiếu oxygen và thiếu máu cục bộ, (3) có hoạt tính chống co giật,
(4) có tác dụng ức chế enzym phosphodiesterase (PDE) và (5) cải thiện các tính
chất lưu biến học của máu và ức chế sự kết tập tiểu cầu.
Những nghiên cứu sau đó tại nhiều pḥng
thí nghiệm khác nhau đă khẳng định những tác dụng trên và chứng minh rơ ràng
rằng vinpocetin cung cấp một sự bảo vệ thần kinh trực tiếp và có ư nghĩa trong
điều kiện in vitro cũng như in vivo. Các bằng chứng thu thập được
về tác dụng bảo vệ thần kinh của vinpocetin đều liên quan với sự ức chế hoạt
động của các kênh Na+ lệ thuộc điện thế ở nơ-ron thần kinh, ức chế
gián tiếp một số phản ứng phân tử kiểu dây chuyền được khởi phát do tăng nồng độ
Ca++
nội bào, và trong một mức độ thấp hơn là ức chế sự tái thu giữ adenosin.
Vinpocetin được chứng minh là chất ức chế
chọn lọc đối với PDE-cGMP lệ thuộc Ca++-calmodulin. Sự ức chế này
được cho là sẽ làm tăng nồng độ GMP nội bào trong cơ trơn mạch máu, dẫn đến giảm
kháng lực của mạch máu năo và tăng lưu lượng máu qua năo. Tác động này có thể
c̣n góp phần hữu ích vào tác dụng bảo vệ thần kinh.
Theo Kiss B, Karpati E. Acta Pharm Hung. 1996; 66(5):
213-24 (N.T.)
Hiệu quả và khả năng dung nạp tolperison hydrochlorid khi
uống liều lặp lại để trị co thắt cơ phản xạ gây đau
Hiệu quả và tính an toàn của tolperison
hydrochlorid (Mydocalm) trong điều trị co thắt cơ phản xạ gây đau đă được một
nhóm tác giả người Đức đánh giá trong một nghiên cứu tiền cứu, ngẫu nhiên, mù
đôi, đối chứng với giả dược. Tổng cộng có 138 bệnh nhân, từ 20 đến 75 tuổi, được
nhận vào nghiên cứu. Những đối tượng này bị co thắt cơ phản xạ gây đau đi kèm
với các bệnh ở cột sống hoặc ở các khớp gần, được điều trị tại tám trung tâm
phục hồi chức năng khác nhau. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để dùng 300 mg
tolperisone hydrochloride hoặc giả dược trong thời gian 21 ngày.
Cả hai nhóm điều trị đều khỏi bệnh trong
thời gian 3 tuần điều trị phục hồi chức năng. Tuy nhiên, tolperison hydrochlorid
được chứng minh là có tác dụng hơn hẳn giả dược một cách có ư nghĩa: sự thay đổi
điểm số của ngưỡng cảm giác đau khi đè ép (được dùng làm thông số chủ yếu đánh
giá kết quả) gia tăng một cách rơ rệt trong khi điều trị với tolperison
hydrochlorid (P = 0.03, phân tích các trường hợp hợp lệ) so với kết quả
thu được ở nhóm điều trị bằng giả dược. Đánh giá chung về hiệu quả do bệnh nhân
tự thực hiện cũng cho thấy sự khác biệt có ư nghĩa thuận lợi cho tolperison
hydrochlorid. Những kết quả tốt nhất được ghi nhận trên những bệnh nhân từ 40
đến 60 tuổi, có bệnh sử đau kéo dài chưa tới một năm và đồng thời được điều trị
bằng lư liệu pháp. Đánh giá các thông số về độ an toàn, tức các tác dụng phụ,
các thông số xét nghiệm sinh hóa và huyết học, chứng minh không có sự khác biệt
nào giữa tolperison hydrochlorid và giả dược.
Các tác giả thực hiện nghiên cứu này kết
luận rằng tolperison hydrochlorid là một điều trị có hiệu quả và an toàn, không
có các tác dụng phụ điển h́nh của các thuốc giăn cơ tác động trên thần kinh
trung ương.
Theo Pratzel HG; Alken RG, Ramm S. Efficacy and tolerance of repeated oral doses
of tolperisone hydrochloride in the treatment of painful reflex muscle spasm.
Pain 1996; 67(2-3): 417-25 (N.T.).--
|