|
ChẤm dỨt thai kỲ bẰng thuỐc
Hiện nay, có trên 15 quốc gia chính thức chấp nhận
việc chấm dứt thai kỳ bằng thuốc, nhất là sau khi hiệu quả của mifepriston được
chứng minh vào năm 1982. Trong 3 tháng đầu thai kỳ, các thủ thuật nạo hút sản
khoa thường được dùng nhiều hơn, nhưng những thủ thuật này ít thành công trong
những trường hợp thai dưới 7 tuần tuổi. Khi ấy việc dùng thuốc để chấm dứt thai
kỳ tỏ ra an toàn hơn. Ở đây, đề cập một số hiểu biết hiện nay về việc chấm dứt
thai kỳ bằng thuốc trong giai đoạn sớm của ba tháng đầu.
TÁC DỤNG SINH LƯ CỦA THUỐC LÀM SẨY THAI
Sau khi phóng noăn chừng 6-10 ngày, nếu được thụ tinh, trứng
sẽ làm ổ trong nội mạc tử cung. Hiện tượng này cần đến tác động của progesteron
để phiên mă các gen tham gia quá tŕnh làm ổ. Progesteron cũng ức chế sự co thắt
cơ trơn tử cung. Các thuốc được dùng để chấm dứt thai kỳ tác động bằng cách ức
chế tổng hợp progesteron, gây co cơ tử cung, đối kháng tác dụng progesteron hoặc
ức chế sự phát triển dưỡng bào.
- Ức chế tổng hợp progesteron-
Các phân tử steroid được thay đổi cấu trúc, như epostan, và
các chất ức chế cạnh tranh với enzym 3b-hydroxysteroid dehydrogenase ở buồng
trứng và nhau, như trilostan, có tác dụng ức chế tổng hợp progesteron từ tiền
chất của nó là pregnenolon.
- Gây co cơ tử cung
Prostaglandin và oxyocin kích thích co thắt tử cung bằng cách
gắn với thụ thể đặc hiệu trên bề mặt tế bào cơ trơn tử cung. Tác dụng này làm
lưới nội bào tương tăng sản xuất calci, do đó làm tử cung co thắt.
Đối kháng tác dụng của progesteron
Chất đối kháng progesteron (kháng-progestin) được phát triển
đầu tiên là mifepriston, c̣n được gọi là RU 486 hoặc RU 38486, có ái tính kết
gắn với thụ thể progesteron mạnh gấp 5 lần so với progesteron. Hợp chất này ức
chế sự phiên mă, làm giảm số lượng gen lệ thuộc progesteron, gây hoại tử màng
rụng và bong phôi. Kháng-progestin c̣n tác động trên mạch máu nội mạc làm hỏng
phôi. Những chất này làm tăng co tử cung bằng cách tăng tính kích thích của tế
bào cơ trơn tử cung, và c̣n làm mở cổ tử cung.
- Ức chế sự phát triển dưỡng bào
Methotrexat, chất đối kháng acid folic, ngăn chận sự tổng hợp
DNA. Các tế bào đang tăng sinh đều nhạy cảm với methotrexat, vốn thường dùng để
trị ung thư nhau và thai ngoài tử cung.
SỬ DỤNG THUỐC ĐỂ CHẤM DỨT THAI KỲ
Chấm dứt thai kỳ bằng thuốc chỉ được xem là thành công khi
tống xuất được phôi thai mà không cần can thiệp ngoại khoa. Phương pháp này
không được khuyên dùng sau tuần 9 của thai kỳ v́ dễ thất bại và gây xuất huyết
tử cung. Do đó việc xác định tuổi thai qua siêu âm rất cần thiết. Ngoài ra, với
phương pháp này, sản phụ phải thường đến khám hơn phương pháp nạo phá thai bằng
thủ thuật sản khoa. Dưới đây là các thuốc thường được dùng.
Epostan
Có thể dùng đơn thuần hoặc phối hợp với prostaglandin E2
(đặt âm đạo) đối với các trường hợp thai dưới 56 ngày. Liều dùng là 200 mg mỗi
6-8 giờ trong 7 ngày. Tỉ lệ thành công chỉ 84% nhưng gây buồn nôn ở 86% số sản
phụ. V́ thế, epostan không được FDA công nhận sử dụng trong chỉ định này.
Prostaglandin-
Hiện nay chỉ sử dụng các hợp chất prostaglandin E2
tổng hợp như misoprostol và gemeprost. Misoprostol tương đối rẻ, có thể bảo quản
ở nhiệt độ pḥng, và hiện được dùng tại nhiều nước để đề pḥng và điều trị loét
dạ dày do thuốc kháng viêm không-steroid. Trái lại, gemeprost chỉ có dạng thuốc
đặt âm đạo, đắt tiền, cần bảo quản trong tủ lạnh. Thuốc này không được chấp nhận
sử dụng tại Hoa Kỳ.-
Hiệu quả:
Thuốc dùng đường uống kém hiệu quả hơn thuốc đặt âm đạo. Những nghiên cứu với
misoprostol khi uống liều 800 - 2400 mg cho thấy kết quả gây sẩy thai hoàn toàn
đạt từ 22% đến 94%, tỉ lệ thành công không lệ thuộc liều dùng và tuổi thai. Ngâm
ướt viên nén misoprostol để đặt âm đạo cũng không cải thiện được kết quả.
Gemeprost đặt âm đạo với liều 1 mg (nếu cần mỗi 3 giờ có thể
đặt thêm một liều, tối đa là 5 liều) cho kết quả thành công ở 97% số sản phụ có
thai dưới 56 ngày. Nếu dùng liều 1 mg đặt âm đạo mỗi 6 giờ (tối đa 3 liều) th́
tỉ lệ thành công chỉ 87%.
Tác dụng phụ: Prostaglandin có nhiều tác dụng
phụ (đau bụng, chóng mặt, buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, rét run và nổi mẩn).
Thường phải giảm đau bằng thuốc giảm đau họ á phiện (53% số BN dùng gemeprost
tổng liều 5 mg phải dùng thuốc giảm đau, so với 16% khi dùng tổng liều 3 mg),
nên sản phụ cần ở lại bệnh viện để theo dơi. Khi dùng misoprostol, thời gian ra
huyết trung b́nh là 11 ngày, so với 14 ngày khi dùng gemeprost.
Những trường hợp dùng misoprostol thất bại có thể gây các dị
tật bẩm sinh cho thai (thiếu da đầu hoặc xương sọ, liệt các dây thần kinh sọ,
hoặc dị tật chi dưới) mà nguyên nhân có thể do tăng áp suất buồng tử cung (v́ co
cơ tử cung) hoặc co mạch. V́ có nhiều tác dụng phụ nên prostaglandin thường được
dùng liều thấp và phối hợp với mifepriston hoặc methotrexat.
Methotrexat + Prostaglandin-
Phối hợp hai thuốc này rất có hiệu quả trong việc chấm dứt
thai kỳ. Methotrexat thường được tiêm bắp với liều 50 mg/m2
diện tích da. Dùng đường uống (liều duy nhất 25 mg hoặc 50 mg) cũng có hiệu quả.
Sau đó 3-7 ngày, đặt âm đạo 800 mg misoprostol.
Hiệu quả:
Nếu tuổi thai dưới 56 ngày, dùng phối hợp methotrexat và misoprostol có tỉ lệ
thành công từ 84-97%, tính từ khi dùng methotrexat cho đến 24 giờ sau khi đặt
misoprostol hoặc muộn hơn. Khoảng 12-35% số sản phụ bị sẩy thai muộn 20-30 ngày
sau khi dùng misoprostol.
Tác dụng phụ:
Xuất độ các tác dụng phụ khi dùng phác đồ này thay đổi tùy nghiên cứu. Thường
gặp là các triệu chứng sốt và rét run (8-60%), tiêu chảy (3-52%), buồn nôn
(2-25%). Khoảng 40-90% số sản phụ báo cáo phải cần đến thuốc giảm đau. Ngoài ra,
có 5% số trường hợp bị viêm loét miệng do methotrexat.
Thời gian trung b́nh ra huyết âm đạo từ 10-17 ngày. Trong một
nghiên cứu (Wiebe, 1997), có 4% số sản phụ phải can thiệp ngoại khoa v́ xuất
huyết nhiều. Methotrexat có thể gây dị dạng trên thai (chi ngắn, thiếu ngón) và
cần theo dơi kỹ bằng siêu âm sau khi dùng thuốc v́ có 1-10% số thai vẫn phát
triển.
Kháng-progestin + Prostaglandin
Kháng-progestin được nghiên cứu nhiều nhất là
mifepriston (200-600mg). Prostaglandin thường được dùng sau liều mifepriston 48
giờ, với gemeprost (1 mg đặt âm đạo) hoặc với misoprostol (uống liều duy nhất
400-600 mg hoặc dùng liều đầu 400 mg rồi dùng thêm 200 mg sau 2-3 giờ nếu chứa
sẩy thai; hoặc đặt âm đạo 800 mg). Một nghiên cứu (Baird và cs., 1995) cho thấy
tỉ lệ thai tiếp tục phát triển cao hơn khi uống misoprostol so với gemeprost đặt
âm đạo.
Hiệu quả:
Đô- với thai - 7 tuần, tỉ lệ thành công khi dùng phối hợp mifepriston và
prostaglandin là 92-98%. Đối với thai từ 7-9 tuần, tỉ lệ thành công khi phối hợp
với misoprostol dạng uống (77-95%) thấp hơn so với khi phối hợp với gemeprost
hoặc misoprostol đặt âm đạo (94-97%). Sẩy thai xảy ra trong ṿng 4 giờ sau khi
dùng misoprostol được ghi nhận ở 44-77% số sản phụ. Có hai nghiên cứu dùng
mifepriston + misoprostol dạng uống cho thấy xuất độ thai tiếp tục phát triển
tăng dần theo tuổi thai (Spitz và cs., 1998; và Aubeny và cs., 1995), nhưng
không thấy sự kết hợp đó khi dùng mifepriston + gemeprost.-
Tác dụng phụ:
Nghiêm trọng nhất là ra huyết âm đạo nhiều, nhưng chỉ có 0,1% số trường hợp cần
truyền máu. Lượng máu mất từ 84-101 ml, so với 53 ml khi dùng thủ thuật sản
khoa. Thời gian ra huyết khoảng 8-17 ngày. Dùng methotrexat hoặc thuốc ngừa thai
không có hiệu quả rút ngắn thời gian ra huyết.
Tác dụng phụ hay gặp nhất là đau bụng và g̣ tử cung, nhiều
trường hợp phải dùng một hoặc nhiều thuốc giảm đau. Các tác dụng phụ khác ở
đường tiêu hóa do prostaglandin là buồn nôn (34-72%), ói mửa (12-41%), tiêu chảy
(3-26%). Hiếm gặp hơn là nhức đầu, chóng mặt, đau lưng, mệt mỏi. Xuất độ viêm
nội mạc tử cung thấp hơn khi phá thai bằng các thủ thuật sản khoa. Misoprostol
có thể đi kèm với các dị tật bẩm sinh ở người như đă nên ở trên.
Chống chỉ định:
Mifepriston và prostaglandin bị chống chỉ định cho những sản phụ phải dùng liệu
pháp corticoid dài ngày (hen suyễn, suy thượng thận). Phải thận trọng khi dùng
những thuốc này cho BN tiểu đường có biến chứng, thiếu máu nặng, hoặc rối loạn
đông máu và BN dùng thuốc chống đông máu. Sulfoproston (một loại prostaglandin)
bị chống chỉ định cho phụ nữ trên 35 tuổi bị béo ph́, nghiện thuốc lá, hoặc có
các yếu tố nguy cơ tim mạch khác v́ thuốc dễ gây suy tim trên những đối tượng
này. Tuy vậy, đối với mifepriston và gemeprost th́ không chống chỉ định cho
những đối tượng đó. Khi dùng methotrexat cần tránh dùng thuốc có chứa folat.
Theo Christin-Maitre
và cs., Medical termination of pregnancy. N Engl J Med 2000; 342:946-956 (N.T.)
CAO HUYẾT ÁP VÀ TRỊ LIỆU CAO HUYẾT ÁP NHƯ LÀ CÁC YẾU TỐ
NGUY CƠ CỦA BỆNH TIỂU ĐƯỜNG TƯP II
Các nghiên cứu trước đây cho thấy lợi tiểu thiazid và chẹn b
có thể gây nên tiểu đường tưp II. Tuy nhiên,- kết quả của các nghiên cứu này
không hằng định, và nhiều nghiên cứu bị giới hạn bởi sự thiếu các dữ kiện về hệ
quả và tiềm tàng nhiều yếu tố gây nhiễu.
Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu tiến hành trên 12.550
người, từ 45 đến 60 tuổi, không mắc bệnh tiểu đường. Một khảo sát ban đầu đánh
giá tỷ mỉ sức khỏe, bao gồm việc sử dụng thuốc và đo huyết áp (HA) bằng một HA
kế thủy ngân với số đo chọn lựa ngẫu nhiên. Tần suất tiểu đường mới mắc được
đánh giá sau 3 năm và sau 6 năm bằng nồng độ glucose trong huyết tương lúc đói.
Kết quả: Sau khi đồng thời hiệu chỉnh theo tuổi, phái
tính, chủng tộc, giáo dục, t́nh trạng béo ph́, tiền sử gia đ́nh có liên quan đến
tiểu đường, mức độ hoạt động thể lực, các hành vi khác có liên quan đến sức
khỏe, và các bệnh đi kèm, cho thấy BN cao HA dùng lợi tiểu thiazid không có nguy
cơ cao hơn người không dùng bất kỳ thuốc hạ áp nào trong việc xuất hiện bệnh
tiểu đường sau đó (nguy cơ tương đối, 0,91; KTC 95%, 0,73-1,13. Tương tự như
vậy, những người dùng ức chế men chuyển và đối kháng Ca không có nguy cơ cao hơn
người không dùng thuốc nào. Ngược lại, những người bị cao HA dùng chẹn b có 28%
nguy cơ cao hơn mắc tiểu đường sau đó (nguy cơ tương đối, 1,28; KTC 95%,
1,04-1,57)
Kết luận: Mối lo ngại về nguy cơ bệnh tiểu đường không
nên làm thầy thuốc nản ḷng khi cho người lớn cao HA không mắc bệnh tiểu đường
dùng lợi tiểu thiazid. Việc sử dụng chẹn b dường như gia tăng nguy cơ mắc bệnh
tiểu đường, nhưng tác dụng bất lợi này nên được cân nhắc so với các lợi ích đă
được chứng minh của chẹn b trong việc làm giảm nguy cơ các biến cố tim mạch
(N Engl J Med 2000; 342:905-12)
THUỐC CHẸN b LÀM GIẢM TỬ suất VÀ TẦN SUẤT BIẾN CHỨNG
trong SUY TIM sung HUYẾT
Vấn đề đặt ra là hiệu quả của chẹn b ra sao đối với tử vong
và tần suất biến chứng của người bệnh bị suy tim sung huyết- Đây là tổng quan về
các thử nghiệm được rút ra từ việc truy t́m trên Medline (1996 đến tháng 3,
1997) với từ- khoá dùng là thuốc chẹn b và suy tim. Các nghiên cứu được chọn lọc
là những thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược, so sánh thuốc chẹn b
trên các BN bị suy tim sung huyết với phân suất tống máu thất trái giảm, đă được
điều trị > 1 tháng, việc theo dơi được thực hiện - 95% trường hợp, phân tích
trên cơ sở điều trị theo dự tính.
Dữ liệu trích bao gồm: Thuốc chẹn b và phân loại NYHA
(Hiệp Hội Tim Mạch New York), tỉ suất chọn ngẫu nhiên, thời gian theo dơi,
nguyên nhân của suy tim sung huyết, tử suất, nhập viện v́ suy tim sung huyết,
ghép tim, phân suất tống máu thất trái, thời gian vận động thể lực tối đa, và
các tác dụng ngoại ư.
Các kết quả chính- T́m thấy 123 bài báo với 18 thử
nghiệm (thời gian theo dơi trung b́nh 13 tháng) bao gồm 2986 BN thỏa điều kiện
nghiên cứu với nhiều nguyên nhân khác nhau của suy tim sung huyết. Chọn được 7
thử nghiệm dùng metoprolol (n = 562), 4 dùng bucindolol (n = 209), 2 dùng
carvedilol (n = 1059), 2 dùng nebivolol (n = 36), 1 dùng bisoprolol (n = 641), 1
dùng acebutolol (n = 17), và 1 dùng labetalol (n = 12). Nguy cơ tương đối được
tính dựa trên mô h́nh các hiệu quả cố định. So với giả dược, BN được điều trị
với thuốc chẹn b có giảm nguy cơ tương đối về tử vong [P=0.008]* (10 thử
nghiệm), về nhập viện v́ suy tim sung huyết [P<0.001]* (5 thử nghiệm) và về ghép
tim [P=0.016]* (6 thử nghiệm) (Bảng 1); cải thiện phân suất tống máu thất trái
[P<0.001] (11 thử nghiệm); nhưng lại có tỉ lệ bị nhịp tim chậm, HA thấp và chóng
mặt cao hơn [P<0.001] (13 thử nghiệm); và giảm tỉ lệ t́nh trạng suy tim xấu đi
[P<0.001] (13 nghiên cứu). Trong 9 thử nghiệm, không thấy có sự khác biệt giữa
thuốc thuốc chẹn b so với giả dược về thời gian vận động thể lực tối đa.
Bảng 1: Thuốc chẹn b so với giả dược trên BN suy tim sung huyết
|
Kết quả
(thời gian theo dơi trung b́nh)
|
Thuốc chẹn b đă
hiệu chỉnh
|
Nhóm chứng đă
hiệu chỉnh
|
RRR (95%CI)
|
NNT (95%CI)
|
|
Tử suất
(13 tháng)
|
8,2%
|
12.6%
|
25%
(7-40)
|
32
(19-93)
|
|
Nhập viện
(20 tháng)
|
18,1%
|
28,8%
|
37%
(24-48)
|
11
(8-18)
|
|
Ghép tim
(10 tháng)
|
1,1%
|
2,7%
|
54%
(13-75)
|
115
(53-580)
|
Ghi chú: RRR: độ giảm nguy cơ tương đối (relative risk reduction), NNT: số
người cần điều trị (number needed to treat).
Kết luận: Thuốc chẹn b giảm tử suất, giảm số lần phải
nhập viện, số lần ghép tim và cải thiện phân suất tống máu thất trái.
Từ nhiều năm nay, có sự quan tâm đến cái gọi là nghịch lư
trong việc điều trị suy tim sung huyết bằng thuốc chẹn b. Các nghiên cứu gần đây
đă dẫn đến việc FDA Hoa kỳ (Food And Drug Association) chấp thuận cho dùng
carvedilol điều trị suy tim sung huyết. Tổng phân tích này cho thấy việc sử dụng
thuốc chẹn b trên BN suy tim sung huyết làm giảm tử suất và cải thiện các hệ quả
khác.
Ngoài ra, rơ ràng là có bằng chứng hỗ trợ cho việc dùng thuốc
chẹn b trong điều trị bệnh tim do thiếu máu, ngay cả trong các t́nh huống "nguy
cơ cao" như phân suất tống máu thất trái kém sau nhồi máu cơ tim; đặc tính chống
thiếu máu và các tác dụng có lợi của chúng trong việc ngăn ngừa xảy ra đột tử.
BN với rối loạn chức năng thất trái sẽ có lợi khi dùng thuốc chẹn b do các thuốc
này có tác dụng điều hoà các cơ chế giao cảm trên tim và ở ngoại vi.
Theo ACP Journal Club Jan/Feb 1999: Revew: b-blockers reduce
mortality and morbidity in congestive heart failure
FDA chẤp thuẬn sử dụng mobic trong điều trị viêm xương -
khớp
Theo tin từ Cơ quan Quản lư Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ
(FDA), ngày 14/4/200, thuốc MOBIC (meloxicam) được chấp thuận sử dụng trong điều
trị viêm xương khớp tại Hoa Kỳ.
Tính an toàn và hiệu quả của meloxicam đă được thử nghiệm lâm
sàng trên 22.000 BN trên thế giới. Thử nghiệm SELECT (Rheumatol
1998; 37(9):946-51) so sánh meloxicam 7,5 mg (4320 BN) với piroxicam 20 mg (4336
BN) uống 1 lần/ngày trong 28 ngày. Trong khi hiệu quả của hai thuốc tương đương
nhau, tần suất tác dụng ngoại ư của nhóm meloxicam (22,5%) thấp hơn nhóm
piroxicam (27,9%; P<0,001), chủ yếu là do ít bị tác dụng phụ ở đường tiêu hóa
hơn: nôn mửa (2,5% so với 3,4%; P < 0,05) và đau bụng (2,1% so với 3,6%; P <
0,001). Kết quả thử nghiệm này cũng giống như thử nghiệm MELISSA (Br J
Rheumatol
1998;37(9):937-45) so sánh meloxicam 7,5 mg với diclofenac 100 mg phóng thích
chậm để điều trị triệu chứng viêm xương - khớp trong 28 ngày. Tổng cộng có 9323
BN (4635 meloxicam và 4688 diclofenac). Kết quả cho thấy nhóm meloxicam bị tác
dụng phụ ít hơn (13%) so với nhóm diclofenac (19%; P<0,001). Những kết quả trên
phản ánh tính ức chế chọn lọc ưu thế trên COX-2 của meloxicam.
Quan niệm về COX khởi sự từ năm 1971, Van J cho rằng thuốc
kháng viêm không steroid (KVKS) tác động bằng cách ức chế tổng hợp
prostaglandin. Tất cả KVKS ức chế cyclooxygenase (COX), đây là enzym chuyển đổi
arachidonic acid thành prostaglandin, ức chế COX là tạo ra tác dụng điều trị và
tác dụng phụ của thuốc KVKS. Trong quá khứ, người ta chưa thể cải thiện được tỷ
suất nguy hại/lợi ích của thuốc KVKS v́ làm giảm tác dụng phụ th́ đồng thời giảm
hiệu quả của thuốc. Tuy nhiên, COX tồn tại dưới hai dạng với chức năng khác nhau
là COX-1 và COX-2. Điều này giúp thiết kế sản xuất thuốc KVKS an toàn hơn mà
không mất hiệu quả. Hiệu quả điều trị của KVKS chủ yếu là do ức chế COX-2 để làm
giảm đau và chống viêm. Tác dụng phụ của KVKS trên hệ tiêu hóa và thận là do ức
chế COX-1.
COX-1 liên tục được biểu hiện trong mô (tiểu cầu, tế bào nội
mạc, dạ dày và thận) và có chức năng tổng hợp prostaglandin để điều ḥa hoạt
động b́nh thường tế bào. Ngược lại, COX-2 được biểu hiện bởi những chất trung
gian của hiện tượng viêm như interleukin-1 hoặc endotoxin, tạo ra prostaglandin
gây đau và viêm.
Sự khác biệt về phương diện tác dụng phụ của nhiều loại KVKS
là do khác biệt về tính chọn lọc COX-1 hoặc COX-2. Ức chế COX-1 sẽ dẫn đến tác
dụng ngoại ư ở dạ dày và thận, trong khi đó ức chế COX-2 làm giảm đáp ứng viêm.
Người ta thường diễn tả tính chọn lọc COX-1 hoặc COX-2 bằng
tỷ suất: IC50 COX-2 / IC50 COX-1. Tỷ suất càng cao, th́
càng nhiều tính chọn lọc COX-1. Tỷ suất càng thấp, càng chọn lọc cho COX-2. Ví
dụ tỷ suất này là 1/100 nghĩa là cùng một nồng độ sẽ ức chế COX-2 gấp 100 lần
COX-1. Một hợp chất với tỷ suất này thấp sẽ được dung nạp tốt mà vẫn duy tŕ
được tác dụng kháng viêm. Như vậy, thuốc KVKS với tính chọn lọc COX-2
(meloxicam) sẽ ít độc hơn. (LAB)
Nuôi bỆnh nhân ung thư dẠ dày-ruột trưỚc và sau mỔ hoàn
toàn bẰng đưỜng tĩnh mẠCh
Các thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu những lợi ích tiềm năng
của việc nuôi dưỡng hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch trước và sau mổ để giảm các
nguy cơ của phẫu thuật trên bệnh nhân ung thư suy dinh dưỡng cho những kết quả
nhau. V́ thế, trong một thử nghiệm lâm sàng mới đây, F. Bozzetti và cộng sự
(Milan, Italy) đă t́m hiểu tác động của biện pháp nuôi dưỡng này trên tỉ lệ biến
chứng sau mổ của bệnh nhân ung thư dạ dày-ruột kèm t́nh trạng suy dinh dưỡng.
Có 90 bệnh nhân có khối u dạ dày hoặc khối u đại-trực tràng,
giảm - 10% thể trọng so với b́nh thường, đủ tiêu chuẩn nhận vào nghiên cứu này.
Các đối tượng được phân ngẫu nhiên vào hai nhóm: một nhóm được nuôi dưỡng bằng
đường tĩnh mạch trong 10 ngày trước mổ và 9 ngày sau mổ và một nhóm chứng. Phác
đồ nuôi bằng đường tĩnh mạch, tính theo kg thể trọng mỗi ngày, là 34.6 - 7.3
kcal bằng dung dịch không chứa protein và 0.25 - 0.04 nitrogen/kg trong một thể
tích là 42.6 - 7.3 mL dịch truyền. Bệnh nhân ở nhóm chứng không được truyền dung
dịch nuôi dưỡng trước mổ, nhưng sau mổ được truyền 940 kcal bằng dung dịch không
có protein và 85 g acid amin mỗi ngày.
Các biến chứng sau mổ xảy ra ở 37% số bệnh nhân được nuôi
dưỡng hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch theo phác đồ trên, so với 57% ở nhóm chứng
(p= 0.03). Chiềm phần lớn trong sự khác biệt đó là những biến chứng không nhiễm
trùng, theo thứ tự ở hai nhóm là 12% và 34% (p=0.02). Trong nhóm chứng có 5
trường hợp tử vong (p=0.05). Tổng thời gian nằm viên của bệnh nhân được nuôi
hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch dài hơn so với nhóm chứng (p=0.00), trong khi đó
số ngày nằm viện sau mổ của hai nhóm khác nhau không có ư nghĩa.
Qua nghiên cứu này, các tác giả kết luận rằng việc nuôi dưỡng
hoàn toàn bằng đường tĩnh mạch trong 10 ngày trước mổ và tiếp tục sau mổ-có thể
giảm được xấp xỉ một phần ba tỉ lệ biến chứng, và ngăn ngừa được tử vong trên
bệnh nhân ung thư dạ dày-ruột suy dinh dưỡng nặng.
Theo Bozzetti F. và cs. Perioperative total nutrition in
malnourished, gastrointestinal cancer patients: a randomized trials. J Parenter
Enteral Nutr 2000; 24(1):7-14 (NT)
HiỆu quẢ cỦa ipratropium bRomid xông khí dung phỐi hỢp
vỚi liỀu cao albuterol trong điỀu trỊ suyỄn nẶng Ở trẺ em
Thuốc chủ vận- b2
dạng khí dung và corticosteroid đă được dùng nhiều trong điều trị cơn suyễn kịch
phát. Tuy nhiên có nhiều bệnh nhi đáp ứng không thích đáng với phác đồ này, nên
tại châu Âu và Canada, ipratropium bromid, một thuốc đối kháng acetylcholin, đă
được dùng như một liệu pháp bổ trợ cho chủ vận b2.
Trên trẻ em bị suyễn nặng, Suzanne Schuh và cộng sự đă nghiên
cứu t́m hiểu hiệu quả của việc thường xuyên xông khí dung ipratropium thêm vào
điều trị albuterol liều cao.
Đối tượng nghiên cứu gồm 120 trẻ (từ 5 đến 17 tuổi) bị suyễn
nặng, có thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) <50% trị
số dự kiến. Những bệnh nhân này được phân ngẫu nhiên vào 3 nhóm trong một thiết
kế so sánh có đối chứng với giả dược: nhóm 1 được dùng ba liều ipratropium
bromide xông khí dung (250 mg/liều) trong ṿng 60 phút; nhóm 2 được dùng một
liều ipratropium; nhóm 3 không dùng ipratropium. Cả ba nhóm c̣n được điều trị ba
liều albuterol xông khí dung (0.15 mg/kg/liều) trong ṿng 60 phút. Các thông số
về chức năng phổi và lâm sàng được đánh giá mỗi 20 phút một lần trong khoảng
thời gian 120 phút.-
Kết quả cho thấy trước khi điều trị, các đặc điểm lâm sàng
của cả ba nhóm đều tương tự nhau. Đến phút thứ 120, tỉ lệ phần trăm trung b́nh
của FEV1 dự kiến được cải thiện từ 33.4% lên 56.7% ở nhóm 1, từ 34.2%
lên 52.3% ở nhóm 2, và từ 35.4% lên 48.4% ở nhóm 3 (p=0.0001). Sự khác
biệt giữa các nhóm thể hiện rơ nhất ở những trẻ có trị số FEV1 ban
đầu -30% của FEV1 dự kiến: FEV1
tăng từ 24.5% lên 50.9% ở nhóm 1, từ 25.0% lên 39.8% ở nhóm 2, và từ 25.9% lên
36.5% ở nhóm 3 (p=0.0001).
Trong nhóm 1, có 38% bệnh nhân phải nhập viện sau nghiên cứu,
nhóm 2 có 44% và nhóm 3 có 46% (trị số p không có ư nghĩa). Tuy vậy, trên
bệnh nhân có FEV1 -30%, tỉ lệ nhập viện là 27% ở nhóm 1, 56% ở nhóm
2, và 83% ở nhóm 3 (p=0.027). Qua nghiên cứu không phát hiện thấy tác
dụng độc có thể quy cho ipratropium.
Các tác giả kết luận rằng việc dùng thêm ipratropium dạng
xông khí dung nhiều liều lặp lại với việc dùng liều cao albuterol nhiều lần trên
bệnh nhân có cơn suyễn cấp tỏ ra an toàn và hữu hiệu hơn dùng albuterol đơn
thuần. Việc sử dụng thuốc phối hợp như vậy trên bệnh nhân có cơn suyễn nặng có
thể giảm bớt khả năng nhập viện.
Theo Suzanne S. và cộng sự. Efficacy of frequent
nebulized ipratropium bromide added to frequent high-dose albuterol
therapy in severe chilhood asthma, J Pediatr
1995;126:639-45 (N.T.)
hiệu quả của liệu pháp 5 ngày cefurotaxim acetil trong
điều trị viêM tai giữa cấp
Trong những năm gần đây, có nhiều ư kiến quan tâm đến việc
rút ngắn thới gian điều trị kháng sinh trên bệnh nhân nhiễm khuẩn thông thường.
Gooch WM III và cộng sự ở Đại học Y khoa Utah (Salt Lake City, Hoa Kỳ) đă thực
hiện hai thử nghiệm lâm sàng độc lập, đa trung tâm, mù đơn, ngẫu nhiên; trong đó
có một nghiên cứu đánh giá vi sinh học dịch tai giữa được hút qua rạch màng nhĩ
để so sánh hiệu quả và tính an toàn của điều trị bằng hỗn dịch cefuroxim acetil
(CAE) 5 ngày hoặc 10 ngày so với điều trị 10 ngày bằng hỗn dịch amoxillin
clavulanic/ clavulanat (AMX/CL) trên trẻ em bị viêm tai giữa cấp.
Tổng cộng có 719 bệnh nhi từ 3 tháng tuổi đến 12 tuổi được
nhận vào 2 nghiên cứu trên. Bệnh nhi được dùng CAE 5 ngày hoặc 10 ngày với liều
30 mg/kg/ngày chia 2 lần (theo thứ tự, n = 242 và n = 235) hoặc
dùng AMX/CL trong 10 ngày với liều 40 mg/kg/ngày chia 3 lần (n = 242).
Nhóm trẻ dùng CAE (5 ngày) được dùng giả dược từ ngày 6 đến ngày 10. Trong
nghiên cứu có rạch màng nhĩ, đánh giá vi sinh học dựa vào kết quả cấy dịch tai
giữa được lấy trước khi điều trị, và nếu có thể cả sau khi điều trị đối với trẻ
có kết quả lâm sàng không thỏa đáng.
Kết quả cho thấy phân lập được vi khuẩn từ dịch tai giữa
trước điều trị trên 177244 bệnh nhân (73%) được rạch màng nhĩ, chủ yếu là
Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae và Moraxella catarrhalis
(theo thứ tự chiếm 37, 35 và 12% số vi khuần phân lập). Trên số trẻ có thể đánh
giá được về vi khuẩn học và được điều trị bằng CAE trong 5 hoặc 10 ngày hoặc
bằng AMX/CL, tỉ lệ thanh toán được (hoặc được xem như đă thanh toán) tác nhân
gây bệnh, theo thứ tự là 92% (24/26), 84% (32/38) và 95% (36/38) số bệnh nhân
mỗi nhóm.
Kết quả lâm sàng khả quan (chữa khỏi hoặc có cải thiện) được
ghi nhận ở 69% (101/147), 70% (121/173) và 74% (131/177) số bệnh nhân của các
nhóm, theo thứ tự, dùng CAE (5 ngày), CAE (10 ngày) và AMX/CL. Điều trị AMX/CL
đi kèm với một xuất độ tác dụng phụ cao hơn một cách có ư nghĩa so với điều trị
CAE 5 hoặc 10 ngày, phản ánh chủ yếu xuất độ cao tác dụng phụ tiêu hóa có liên
quan với thuốc (34% so với 17% và 12%, theo thứ tự, p <0.001), nhiều nhất
là tiêu chảy.
Các tác giả kết luận rằng điều trị bằng CAE ngày 2 lần trong
5 ngày tương đương như điều trị 10 ngày bằng CAE dùng như trên hoặc bằng AMX/CL
ngày- 3 lần trên trẻ bị viêm tai giữa cấp.
Theo Gooch WM 3rd và cộng sự. Effectiveness
of five days of therapy with cefuroxime acetil suspension for treatment of acute
otitis media. Pediatr Infect Dis J 1996;15(2):157-164 (N.T.)-
ĐIỀU TRỊ viêm gan B mạn tính BẰNG
lamivudin: Hướng dẫn điều trị của Nhóm tư vấn quốc tế về viêm gan
Làm ǵ khi nghi ngỜ mỘt trưỜng hỢp viêm
gan siêu vi B?
Một BN nghi ngờ bị viêm gan siêu vi B nên được đánh giá đầy
đủ bằng cách:
- Hỏi kỹ bệnh sử và t́m các dấu hiệu thực thể, tập trung vào
các bệnh gan và các biểu hiện ngoài gan,
- Xét nghiệm cận lâm sàng, chủ yếu là HBsAg, HBeAg, ALT
(alanin transaminase), albumin và số lượng tiểu cầu. Nếu có điều kiện, có thể
xét nghiệm thêm HBV DNA (kỹ thuật lai tạo dung dịch), alpha-fetoprotein (AFP),
aspartat transaminase (AST) và các chức năng gan khác,
- Siêu âm gan: tầm soát xơ gan và ung thư tế bào gan.
- Trong trường hợp cần phải xác định mức độ tổn thương gan,
nhất là khi ALT tăng cao, mới làm sinh thiết gan.
Bệnh nhân nào cần
điều trị-
Những trường hợp nhiễm HBV, nghĩa là có các dấu ấn huyết
thanh như tŕnh bày ở Bảng 1, và thuộc một trong những diện sau đây cần được
điều trị:
- Có bằng chứng bệnh gan (lâm sàng và/hoặc cận lâm sàng).
- Có nguy cơ bệnh tiến triển (ví dụ siêu vi nhân đôi).
- Có biểu hiện ngoài gan của nhiễm HBV (hội chứng thận hư
hoặc viêm mạch).
- Bệnh sử có nhiều đợt bùng phát nặng.
- Bệnh tiến triển xa (bệnh gan mất bù hoặc xơ gan).
- Nhiễm HBV sau ghép gan đồng loại
Thuốc điều trị viêm gan B mạn tính hiện được dùng là
lamivudin, ở nhiều nước trên thế giới và trong hai năm tới sẽ được dùng rộng răi
hơn nữa v́ hiệu quả và an toàn hơn.
Bảng 1. Các dấu ấn huyết thanh
trong viêm gan B mạn tính
|
Xét nghiệm huyết thanh
|
Ư nghĩa
khi
dương tính
|
Bằng chứng siêu vi
nhân đôi
|
Lui bệnh sau chuyển đổi huyết thanh HBeAg
|
Nhiễm precore đột biến
|
|
HBsAg*
HBeAg
HBV DNA
Anti-HBe
|
Nhiễm HBV mạn
Siêu vi nhân đôi
Siêu vi nhân đôi
Chấm dứt nhân đôi
|
+
+
+
-
|
+
-
-
+
|
+
-
+
+
|
|
* tồn tại ít nhất 6 tháng mới có thể chẩn đoán
viêm gan B mạn
|
dùng lamivudin trong trường hợp nào-
Có thể chọn BN theo sơ đồ 1 để điều trị bằng lamivudin. Đó là
những trường hợp nhiễm HBV mạn tính có bằng chứng HBV đang nhân đôi [HBeAg (+)
và/hoặc HBV DNA (+)] và có bệnh ở gan (ALT tăng và/hoặc tổn thương mô học).
Nếu HBeAg (-) mà có bằng chứng bệnh gan, BN cần được khám kỹ
xem có khả năng nhiễm HBV thể đột biến precore hay không và vẫn có thể dùng
lamivudin.
Sơ đồ 1: Chọn BN để điều trị bằng lamivudin
|
BN có bị nhiễm HBV mạn
tính-
|
|
|
|
|

|
|
|
|
|
|
HBsAg (+)
|
HBsAg (-)
|
|
Không điều trị
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
 Có bằng chứng siêu vi nhân đôi-
|
|
ALT
b́nh thường
|
|
|
Xem xét các khả năng sau:
- Đang
chuyển đổi huyết thanh
- Giai đoạn đầu của
nhiễm HBV cấp
- HBsAg dương tính giả
- Các nguyên nhân khác:
-
Ÿ Viêm gan siêu vi loại
khác
-
Ÿ Nghiện rượu
-
Ÿ Viêm gan tự miễn
-
Ÿ Bệnh gan ứ mật
-
Ÿ Độc tính gan của thuốc
hoặc hóa chất
-
Ÿ Rối loạn miễn dịch di
truyền
-
Ÿ Sung huyết gan do suy
tim.
|
|
|
|
|
|
|
---- Co
HBeAg (+)
|
-HBeAg (-)
|
|
ALT tăng
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Có bằng chứng bệnh gan-
|
|
Xét nghiệm Anti-HBe và HBV
DNA
|
|
   
|
|
|
|
|
|
---- Co
|
Không
|
|
|
|
|
 
|
|
Anti-HBe (+) và HBV DNA (+)
|
Anti-HBe (-) và
HBV DNA (-)
|
|
|
Chưa khẳng định được lợi ích điều trị
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Bắt đầu điều trị nếu không
có chống chỉ định
|
|
Có thể nhiễm HBV đột biến
precore
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Sơ đồ 2: Hướng dẫn theo dơi điều trị dành cho bác sĩ tuyến
cơ sở
|
Theo dơi
|
|
Ÿ ALT huyết thanh ít nhất
mỗi 3 tháng một lần
Ÿ HBeAg, và anti-HBe (nếu có
thể), mỗi 6 tháng một lần
|
|
|

|
|
|
|
|
Thường xảy ra
|
Ít khả năng xảy ra
|
|
|
   Kết
quả
|
HBeAg
Anti-HBe
ALT
|
+
-
b́nh thường
|
-
+
b́nh thường
|
+
-
tăng*
|
-
+
tăng*
|
-
-
b́nh thường
|
-
-
tăng*
|
|
|
 
|
|
|
  Thái
độ
xử
trí
|
|
Tiếp tục điều trị
|
Ngưng điều trị
|
Nếu BN đă tuân thủ tốt, gửi
cho BS chuyên khoa
|
Gửi cho BS chuyên khoa
|
Có thể ngưng điều trị
|
Có thể gửi cho BS chuyên
khoa
|
|
|
|
|
Theo dơi tiếp
|
|
Tiếp tục xét nghiệm theo
dơi
|
Theo dơi trong
6 tháng
|
|
|
Theo dơi trong 6 tháng
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
NB- *tăng
đến mức có ư nghĩa lâm sàng (nghĩa là từ 1,3 lần so với giới hạn trên của khoảng
trị b́nh thường trong - 2 lần
xét nghiệm trong ṿng 6 tháng).
Bảng 2. Ư nghĩa
các kết quả xét nghiệm trong Sơ đồ 2
|
Kết quả xét nghiệm
|
Ư
nghĩa
|
|
HBeAg
|
Anti-HBe
|
ALT
|
|
+
|
-
|
b́nh thường
|
Ngăn chặn hữu hiệu sự nhân đôi của HBV và kiểm
soát được bệnh gan
|
|
-
|
+
|
b́nh thường
|
Đă xảy ra chuyển đổi huyết
thanh HBeAg
|
|
+
|
-
|
tăng
|
Khả năng có HBV đột biến
thể YMDD nếu đă điều trị > 6 tháng, nhưng cũng có thể tăng ALT do các nguyên
nhân khác như sắp chuyển đổi huyết thanh, đồng nhiễm HAV, uống rượu.
|
|
-
|
+
|
tăng
|
Có thể chỉ điểm sự xuất
hiện đột biến precore của HBV (nhất là khi HBV DNA [+]), nhưng cũng có thể
do nguyên nhân khác như đồng nhiễm HAV, nghiện rượu.
|
|
-
|
-
|
b́nh thường
|
Tuy không hẳn có chuyển đổi
huyết thanh, nhưng đă ngăn chặn hữu hiệu sự nhân đôi HBV và kiểm soát được
bệnh gan
|
|
-
|
-
|
tăng
|
Có thể đang chuyển đổi
huyết thanh HBeAg, nhưng cần t́m những nguyên nhân khác giải thích sự gia
tăng dai dẳng của ALT
|
Nếu HBeAg (-), ALT tăng mà Anti-HBe và/hoặc HBV DNA âm tính,
cần xem xét khả năng bệnh gan khác (xem Sơ đồ 1) và chưa đặt vấn đề điều trị
lamivudin.
Đối với thầy
thuốc tuyến cơ sở, để dễ nhớ, đối tượng cần điều trị lamivudin là
những BN có HBsAg (+), HBeAg (+) và ALT tăng cao. Liều thường dùng là uống 100
mg/ |