WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

Bình luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái Bình

ĐH Y Tế Công Cộng

 

Thông tin mỚi vỀ lamivudin trong điỀu trỊ viêm gan B mẠn tính


Ngày 10/4/2000, công ty GlaxoWellcome phối hợp với Hội Gan Mật TP.HCM tổ chức hội nghị khoa học về Lamivudin trong điều trị viêm gan siêu vi B mạn tính do TS Julie Dent trình bày.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, viêm gan siêu vi B mạn tính là vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm vì hiện có 350 triệu người mang siêu vi B mạn tính trên toàn cầu, 75% trong số họ sống trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và 25 - 40 % bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn tính sẽ bị xơ gan hoặc ung thư gan.

Hiện nay, lamivudin (Zeffix) là loại thuốc mới kháng siêu vi đầu tiên đặc trị viêm gan siêu vi B mạn tính. Lamivudin ức chế mạnh sự sao chép siêu vi HBV bằng cách ức chế DNA polymerase của siêu vi. Thuốc có độc tính thấp do ít tác động trên DNA người, không kết hợp vào trong DNA của ty thể và hầu như không tác động lên tủy xương, tế bào gan, thần kinh và cơ. Liều điều trị tối ưu là 100 mg/ngày, thuốc hấp thu nhanh, chuyển hóa qua gan rất ít, bài tiết dưới dạng nguyên vẹn trong nước tiểu, không tương tác thuốc đáng kể.

Thử nghiệm lâm sàng điều trị lamivudin trong một năm cho thấy ức chế HBV DNA huyết thanh và dẫn đến chuyển đổi huyết thanh như HBeAg (-) và xuất hiện antiHBe [HbeAb (+)]. Về gan, cải thiện tình trạng viêm- hoại tử tế bào gan, giảm tiến triển xơ gan, bình thường hóa enzym gan.

Thử nghiệm lâm sàng dài hạn kéo dài 4 năm trên 58 bệnh nhân ở Trung Quốc (Chang et al 2000, Atlanta, số liệu 4 năm) cho thấy tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh tăng theo thời gian điều trị. Tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh [HBeAg (-) và HbeAb (+)] theo thứ tự sau 1, 2, 3, và 4 năm là 22%, 29%, 40%, và 47%. Tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh [HBeAg (-) và HbeAb (+)] cũng tăng theo thời gian điều trị ở bệnh nhân có ALT ban đầu cao: 38%, 42%, 65% và- 73% theo thứ tự sau điều trị 1, 2, 3, 4 năm.

Theo Chang et al . 2000, lamivudin được dung nạp tốt, chỉ có một bệnh nhân bệnh gan mất bù đồng phát với xuất hiện biến thể YMDD. Các bệnh nhân còn lại vẫn tiếp tục điều trị và kết quả ở tuần thứ 208 cho thấy mất HBV DNA, chuyển đổi huyết thanh HbeAg và enzym ALT huyết thanh bằng 1,3 giá trị trên của giới hạn bình thường.

Về tính an toàn của lamivudin: Lamivudin được dung nạp tốt, qua các thử nghiệm lâm sàng cho thấy tác dụng phụ tương đương với giả dược và dung nạp tốt hơn so với a-IFN (Lai et al, Dientag et al, Schiff et al 1998). Không tương tác thuốc đáng kể trên lâm sàng. Ngưng điều trị lamivudin trưóc khi có đáp ứng chuyển đổi huyết thanh thường kèm theo tăng enzym gan.hầu hết các trường hợp tự hồi phục mà không cần can thiệp. Ðiều trị lamivudin liên tục trong 3 năm vẫn dung nạp tốt.

Trên bệnh nhân viêm gan B mạn mất bù, lamivudin cải thiện tình trạng viêm hoại tử tế bào gan (giảm ALT), giảm nồng độ bilirubin và làm thay đổi albumin huyết tương (Perrillo et al 1999).

BS Lê Anh Bá-


SINH HOẠT KHKT LẦN THỨ 13 CỦA HỘI THẦN KINH HỌC TP HCM


Ðể thực hiện mục đích gắn kết giữa các hội viên qua công tác và cùng nhau cập nhật kiến thức trong những buổi sinh hoạt KHKT, Hội Thần Kinh đã đề ra một chương trình sinh hoạt KHKT và đào tạo liên tục mỗi 3 tháng / lần, với nội dung gồm các báo cáo tổng quan, nghiên cứu khoa học, một số trường hợp lâm sàng đặc biệt hiếm gặp.

Ngày 17/3/2000, Hội Thần Kinh đã tổ chức sinh hoạt đầu tiên của năm 2000, kết hợp báo cáo một số đề tài khoa học, với sự tham dự của gần 200 hội viên. Trong buổi sinh hoạt này, Hội đã vạch ra những công tác khá cụ thể về những hoạt động quản lý và nâng đỡ hội viên, hoạt động báo chí, đào tạo bồi dưỡng, công at1c xã hội từ thiện . Bên cạnh đó, GS Lê Văn Thành, Chủ tịch Hội, cũng đã phổ biến đến các hội viên tinh thần Nghị quyết liên tịch giữa Bộ Y Tế - Tổng Hội Y Dược Học Việt Nam trong việc kết hợp quản lý hành nghề y dược tư nhân.

Có 4 báo cáo được trình bày tại buổi sinh hoạt này, trong đó có một đề tài nghiên cứu khoa học "Giá trị chẩn đoán điện trong chẩn đoán và theo dõi hội chứng Guilan - Barré ở trẻ em". Theo BS Lê Tự Quốc Tuấn, Hội chứng Guilan-Barré ở trẻ em có thể liên quan đến yếu tố thời tiết. Diễn biến lâm sàng với dấu chứng yếu cơ hô hấp thường xảy ra sớm vào ngày thứ- 2 - 5- ở trẻ suy hô hấp. Chẩn đoán điện có thể phát hiện sớm và nhạy hơn so với hiện tượng phân ly đạm tế bào của DNT. Do các dấu hiệu chẩn đoán điện cải thiện chậm hơn so với lâm sàng, nên có thể sử dụng chẩn đoán hồi cứu trong những trường hợp cần thiết.

BS Lê Thiện Anh Tuấn



Hội thảo về liệu pháp hữu hiệu trong điều trị hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính


Ngày 16/5/2000, Trung tâm Lao và Bệnh phổi Phạm Ngọc Thạch phối hợp với công ty Boehringer Ingelheim tổ chức hội thảo về Liệu pháp hữu hiệu trong điều trị hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, đồng thời giới thiệu những thuốc mới Combivent- berotec- inflammide- do TS Manuel Distel trình bày.

Nhiều nghiên cứu chứng tỏ bệnh học của đường dẫn khí ở bệnh nhân hen là quá trình bệnh lý viêm. Ðáp ứng viêm gây ra do một nhóm tế bào lymphô T tạo ra nhiều IL-4, IL-5 và những cytokin khác, làm gia tăng thâm nhiễm eosinophil và tăng sản sinh IgE. Những thay đổi cấu trúc bởi quá trình viêm đưa đến hệ quả dầy thành của đường dẫn khí, thay đổi trong biểu mô, đặc biệt trong nền mô kẽ tăng collagen, tăng sinh mạch máu, cơ trơn và tuyến nhày. Co cơ trơn đường dẫn khí làm hẹp khẩu kính đặc biệt là các phế quản nhỏ là nơi toàn do cơ trơn bao bọc. Mô thành dày càng làm cho khẩu kính đường dẫn khí hẹp hơn. Mô hình điện toán và đo đạc trực tiếp cho thấy đường dẫn khí nhỏ ở bệnh nhân hen là nơi có sức đề kháng tăng mạnh nhất. Những dữ liệu mới này đã làm thay đổi quan niệm trước đó cho rằng chức năng bất thường của cơ trơn đường dẫn khí gây nên hen, sang giả thuyết mới là quá trình viêm ở thành đường dẫn khí tác động hàng loạt lên cơ trơn bình thường gây co thắt phế- quản. Sự hiểu biết rõ hơn về vai trò của quá trình viêm là căn cứ cho điều trị hen bằng những thuốc kháng viêm.

Nhiều nghiên cứu chứng tỏ có hai pha đáp ứng với dị ứng nguyên. Ðáp ứng xảy ra sau 10 đến 15 phút, phế quản co thắt có thể hồi phục và ngắn hạn. Ðáp ứng muộn hơn, xảy ra sau 6-8 giờ, phản ứng gây tắc nghẽn đường dẫn khí kéo dài từ 16 - 24 giờ hoặc có thể lâu hơn. Về phương diện thực hành, triệu chứng hen giống với phản ứng muộn hơn và thường kèm theo tăng hoạt tính phế- quản, một hiện tượng mà đường dẫn khí phản ứng với nhiều kích thích khác nhau một cách mạnh mẽ.

Do vậy trong xử trí bệnh hen, co thắt phế quản được điều trị bằng thuốc giãn phế quản như chất chủ vận b2, nhưng không giải quyết được tăng đáp ứng phế- quản.- Glucocorticosteroid hiệu quả trong việc ngăn ngừa viêm và đáp ứng phế- quản. Hiện nay, việc sử dụng sớm thuốc kháng viêm glucocorticosteroid dạng hít được xem là bước tiến trong điều trị hen.

Fenoterol (Berotec-) là thuốc chủ vận b2 chọn lọc, đã được sử dụng trên lâm sàng qua nhiều năm. Fenoterol có đặc điểm dược lý tương đương như terbutaline hoặc salbutamol. Ngoài tác dụng trực tiếp gây giãn phế- quản, fenoterol còn ức chế sự phóng thích các chất trung gian từ tế bào viêm, giảm tính thấm mạch máu và tăng thanh thải chất nhày. Thời gian tác động nhanh 3-5 phút nên hữu ích trong cơn kịch phát hen, hiệu quả tối đa sau 60 phút và thời gian tác dụng kéo dài 3-4 giờ. Fenoterol dạng hít giảm được tác dụng phụ của đường toàn thân. Rối loạn nhịp tim ít khi xảy ra khi dùng ở liều điều trị. Hiệu ứng trên tim của fenoterol gia tăng khi dùng chung với thuốc chủ vận b2 khác, methylxanthin, kháng cholinergic.

Budesonid (Inflammide-) là glucocorticosteroid thế hệ 2 có tác dụng kháng viêm đường dẫn khí. Nhiều nghiên cứu chứng tỏ budesonid 200 mcg/ngày tương đương với fluticason propionat 100 mcg/ngày về tính an toàn và hiệu quả. So với beclomethason dipro-pionat, budesonid có hoạt lực mạnh hơn từ 1,6-3 lần. Sau khi hít, nồng độ huyết tương đạt mức đỉnh sau 1 giờ và là 3 giờ sau khi uống. Tác dụng phụ thường gặp là kích thích họng, ho và khan tiếng có thể hồi phục. Hiệu quả và tác dụng phụ có thể gia tăng khi sử dụng đồng thời corticosteroid uống hoặc tiêm.

Combivent-chứa ipratropium bromid và salbutamol sulphat có tác dụng kép: ipratropium là chất kháng cholinergic, ngăn chận co thắt phế quản bằng cách giảm hoạt tính hệ thần kinh đối giao cảm; salbutamol là chất chủ vận b2 làm giãn nở phế- quản. Sử dụng đồng thời hai chất này cho hiệu quả mạnh hơn từng chất riêng rẽ. Salbutamol dạng muối sulphat không những có tác dụng tương đương như salbutamol cơ chất mà còn tăng độ ổn định salbutamol trong chế phẩm.

Combivent MDI (loại xịt định liều), một liều xịt chứa 21 mcg ipratropium bromid và 120 mcg salbu-tamol sulphat.

Combivent UDV (ống đơn liều 2,5 mL), dùng trong dung dịch xông khí dung, chứa ipratropium bromid 0,5 mg và salbutamol 2,5 mg.

-Một nghiên cứu thực hiện ở 25 trung tâm đã so sánh tính an toàn và hiệu quả lâu dài khi dùng dung dịch xông khí dung phối hợp ipratropium bromid (IB) và salbutamol (SALB) với việc dùng riêng từng thuốc mỗi ngày 3 lần. Kết quả cho thấy trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, điều trị duy trì bằng khí dung thể tích nhỏ với IB và SALB có tác dụng giãn khí quản tốt hơn so với điều trị chỉ bằng một thuốc mà không tăng tác dụng phụ (Chest 1997;112 (6):1514-21).

BS Lê Anh Bá

[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net