|
Thông tin mỚi vỀ lamivudin trong điỀu trỊ viêm gan B mẠn
tính
Ngày 10/4/2000, công ty GlaxoWellcome phối
hợp với Hội Gan Mật TP.HCM tổ chức hội nghị khoa học về Lamivudin trong điều trị
viêm gan siêu vi B mạn tính do TS Julie Dent trình bày.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, viêm gan siêu
vi B mạn tính là vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm vì hiện có 350 triệu
người mang siêu vi B mạn tính trên toàn cầu, 75% trong số họ sống trong khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương và 25 - 40 % bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn tính sẽ
bị xơ gan hoặc ung thư gan.
Hiện nay, lamivudin (Zeffix) là loại thuốc
mới kháng siêu vi đầu tiên đặc trị viêm gan siêu vi B mạn tính. Lamivudin ức chế
mạnh sự sao chép siêu vi HBV bằng cách ức chế DNA polymerase của siêu vi. Thuốc
có độc tính thấp do ít tác động trên DNA người, không kết hợp vào trong DNA của
ty thể và hầu như không tác động lên tủy xương, tế bào gan, thần kinh và cơ.
Liều điều trị tối ưu là 100 mg/ngày, thuốc hấp thu nhanh, chuyển hóa qua gan rất
ít, bài tiết dưới dạng nguyên vẹn trong nước tiểu, không tương tác thuốc đáng
kể.
Thử nghiệm lâm sàng điều trị lamivudin
trong một năm cho thấy ức chế HBV DNA huyết thanh và dẫn đến chuyển đổi huyết
thanh như HBeAg (-)
và xuất hiện antiHBe [HbeAb (+)]. Về gan, cải thiện tình trạng viêm- hoại tử tế
bào gan, giảm tiến triển xơ gan, bình thường hóa enzym gan.
Thử nghiệm lâm sàng dài hạn kéo dài 4 năm
trên 58 bệnh nhân ở Trung Quốc (Chang et al 2000, Atlanta, số liệu 4 năm)
cho thấy tỉ lệ chuyển đổi huyết thanh tăng theo thời gian điều trị. Tỉ lệ chuyển
đổi huyết thanh [HBeAg (-)
và HbeAb (+)] theo thứ tự sau 1, 2, 3, và 4 năm là 22%, 29%, 40%, và 47%. Tỉ lệ
chuyển đổi huyết thanh [HBeAg (-)
và HbeAb (+)] cũng tăng theo thời gian điều trị ở bệnh nhân có ALT ban đầu cao:
38%, 42%, 65% và- 73% theo thứ tự sau điều trị 1, 2, 3, 4 năm.
Theo Chang et al . 2000, lamivudin
được dung nạp tốt, chỉ có một bệnh nhân bệnh gan mất bù đồng phát với xuất hiện
biến thể YMDD. Các bệnh nhân còn lại vẫn tiếp tục điều trị và kết quả ở tuần thứ
208 cho thấy mất HBV DNA, chuyển đổi huyết thanh HbeAg và enzym ALT huyết thanh
bằng 1,3 giá trị trên của giới hạn bình thường.
Về tính an toàn của lamivudin:
Lamivudin được dung nạp tốt, qua các thử nghiệm lâm sàng cho thấy tác dụng phụ
tương đương với giả dược và dung nạp tốt hơn so với
a-IFN (Lai et al,
Dientag et al, Schiff et al 1998). Không tương tác thuốc đáng kể
trên lâm sàng. Ngưng điều trị lamivudin trưóc khi có đáp ứng chuyển đổi huyết
thanh thường kèm theo tăng enzym gan.hầu hết các trường hợp tự hồi phục mà không
cần can thiệp. Ðiều trị lamivudin liên tục trong 3 năm vẫn dung nạp tốt.
Trên bệnh nhân viêm gan B mạn mất bù,
lamivudin cải thiện tình trạng viêm hoại tử tế bào gan (giảm ALT), giảm nồng độ
bilirubin và làm thay đổi albumin huyết tương (Perrillo et al 1999).
BS Lê Anh Bá-
SINH HOẠT KHKT LẦN THỨ 13 CỦA HỘI THẦN KINH HỌC TP HCM
Ðể thực hiện mục đích gắn kết giữa các hội
viên qua công tác và cùng nhau cập nhật kiến thức trong những buổi sinh hoạt
KHKT, Hội Thần Kinh đã đề ra một chương trình sinh hoạt KHKT và đào tạo liên tục
mỗi 3 tháng / lần, với nội dung gồm các báo cáo tổng quan, nghiên cứu khoa học,
một số trường hợp lâm sàng đặc biệt hiếm gặp.
Ngày 17/3/2000, Hội Thần Kinh đã tổ chức
sinh hoạt đầu tiên của năm 2000, kết hợp báo cáo một số đề tài khoa học, với sự
tham dự của gần 200 hội viên. Trong buổi sinh hoạt này, Hội đã vạch ra những
công tác khá cụ thể về những hoạt động quản lý và nâng đỡ hội viên, hoạt động
báo chí, đào tạo bồi dưỡng, công at1c xã hội từ thiện . Bên cạnh đó, GS Lê Văn
Thành, Chủ tịch Hội, cũng đã phổ biến đến các hội viên tinh thần Nghị quyết liên
tịch giữa Bộ Y Tế - Tổng Hội Y Dược Học Việt Nam trong việc kết hợp quản lý hành
nghề y dược tư nhân.
Có 4 báo cáo được trình bày tại buổi sinh
hoạt này, trong đó có một đề tài nghiên cứu khoa học "Giá trị chẩn đoán điện
trong chẩn đoán và theo dõi hội chứng Guilan - Barré ở trẻ em". Theo BS Lê Tự
Quốc Tuấn, Hội chứng Guilan-Barré ở trẻ em có thể liên quan đến yếu tố thời
tiết. Diễn biến lâm sàng với dấu chứng yếu cơ hô hấp thường xảy ra sớm vào ngày
thứ- 2 - 5- ở trẻ suy hô hấp. Chẩn đoán điện có thể phát hiện sớm và nhạy hơn so
với hiện tượng phân ly đạm tế bào của DNT. Do các dấu hiệu chẩn đoán điện cải
thiện chậm hơn so với lâm sàng, nên có thể sử dụng chẩn đoán hồi cứu trong những
trường hợp cần thiết.
BS
Lê Thiện Anh Tuấn
Hội thảo về liệu pháp hữu hiệu trong điều trị hen phế
quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Ngày 16/5/2000, Trung tâm Lao và Bệnh phổi
Phạm Ngọc Thạch phối hợp với công ty Boehringer Ingelheim tổ chức hội thảo về
Liệu pháp hữu hiệu trong điều trị hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính,
đồng thời giới thiệu những thuốc mới Combivent- berotec- inflammide-
do TS Manuel Distel trình bày.
Nhiều nghiên cứu chứng tỏ bệnh học của
đường dẫn khí ở bệnh nhân hen là quá trình bệnh lý viêm. Ðáp ứng viêm gây ra do
một nhóm tế bào lymphô T tạo ra nhiều IL-4, IL-5 và những cytokin khác, làm gia
tăng thâm nhiễm eosinophil và tăng sản sinh IgE. Những thay đổi cấu trúc bởi quá
trình viêm đưa đến hệ quả dầy thành của đường dẫn khí, thay đổi trong biểu mô,
đặc biệt trong nền mô kẽ tăng collagen, tăng sinh mạch máu, cơ trơn và tuyến
nhày. Co cơ trơn đường dẫn khí làm hẹp khẩu kính đặc biệt là các phế quản nhỏ là
nơi toàn do cơ trơn bao bọc. Mô thành dày càng làm cho khẩu kính đường dẫn khí
hẹp hơn. Mô hình điện toán và đo đạc trực tiếp cho thấy đường dẫn khí nhỏ ở bệnh
nhân hen là nơi có sức đề kháng tăng mạnh nhất. Những dữ liệu mới này đã làm
thay đổi quan niệm trước đó cho rằng chức năng bất thường của cơ trơn đường dẫn
khí gây nên hen, sang giả thuyết mới là quá trình viêm ở thành đường dẫn khí tác
động hàng loạt lên cơ trơn bình thường gây co thắt phế- quản. Sự hiểu biết rõ
hơn về vai trò của quá trình viêm là căn cứ cho điều trị hen bằng những thuốc
kháng viêm.
Nhiều nghiên cứu chứng tỏ có hai pha đáp
ứng với dị ứng nguyên. Ðáp ứng xảy ra sau 10 đến 15 phút, phế quản co thắt có
thể hồi phục và ngắn hạn. Ðáp ứng muộn hơn, xảy ra sau 6-8 giờ, phản ứng gây tắc
nghẽn đường dẫn khí kéo dài từ 16 - 24 giờ hoặc có thể lâu hơn. Về phương diện
thực hành, triệu chứng hen giống với phản ứng muộn hơn và thường kèm theo tăng
hoạt tính phế- quản, một hiện tượng mà đường dẫn khí phản ứng với nhiều kích
thích khác nhau một cách mạnh mẽ.
Do vậy trong xử trí bệnh hen, co thắt phế
quản được điều trị bằng thuốc giãn phế quản như chất chủ vận
b2, nhưng không
giải quyết được tăng đáp ứng phế- quản.- Glucocorticosteroid hiệu quả trong việc
ngăn ngừa viêm và đáp ứng phế- quản. Hiện nay, việc sử dụng sớm thuốc kháng viêm
glucocorticosteroid dạng hít được xem là bước tiến trong điều trị hen.
Fenoterol (Berotec-) là thuốc
chủ vận
b2 chọn lọc, đã
được sử dụng trên lâm sàng qua nhiều năm. Fenoterol có đặc điểm dược lý tương
đương như terbutaline hoặc salbutamol. Ngoài tác dụng trực tiếp gây giãn phế-
quản, fenoterol còn ức chế sự phóng thích các chất trung gian từ tế bào viêm,
giảm tính thấm mạch máu và tăng thanh thải chất nhày. Thời gian tác động nhanh
3-5 phút nên hữu ích trong cơn kịch phát hen, hiệu quả tối đa sau 60 phút và
thời gian tác dụng kéo dài 3-4 giờ. Fenoterol dạng hít giảm được tác dụng phụ
của đường toàn thân. Rối loạn nhịp tim ít khi xảy ra khi dùng ở liều điều trị.
Hiệu ứng trên tim của fenoterol gia tăng khi dùng chung với thuốc chủ vận
b2 khác,
methylxanthin, kháng cholinergic.
Budesonid (Inflammide-) là
glucocorticosteroid thế hệ 2 có tác dụng kháng viêm đường dẫn khí. Nhiều nghiên
cứu chứng tỏ budesonid 200 mcg/ngày tương đương với fluticason propionat 100
mcg/ngày về tính an toàn và hiệu quả. So với beclomethason dipro-pionat,
budesonid có hoạt lực mạnh hơn từ 1,6-3 lần. Sau khi hít, nồng độ huyết tương
đạt mức đỉnh sau 1 giờ và là 3 giờ sau khi uống. Tác dụng phụ thường gặp là kích
thích họng, ho và khan tiếng có thể hồi phục. Hiệu quả và tác dụng phụ có thể
gia tăng khi sử dụng đồng thời corticosteroid uống hoặc tiêm.
Combivent-chứa ipratropium
bromid và salbutamol sulphat có tác dụng kép: ipratropium là chất kháng
cholinergic, ngăn chận co thắt phế quản bằng cách giảm hoạt tính hệ thần kinh
đối giao cảm; salbutamol là chất chủ vận
b2
làm giãn nở phế- quản. Sử dụng đồng thời hai chất này cho hiệu quả mạnh hơn từng
chất riêng rẽ. Salbutamol dạng muối sulphat không những có tác dụng tương đương
như salbutamol cơ chất mà còn tăng độ ổn định salbutamol trong chế phẩm.
Combivent MDI (loại xịt định liều), một
liều xịt chứa 21 mcg ipratropium bromid và 120 mcg salbu-tamol sulphat.
Combivent UDV (ống đơn liều 2,5 mL), dùng
trong dung dịch xông khí dung, chứa ipratropium bromid 0,5 mg và salbutamol 2,5
mg.
-Một nghiên cứu thực hiện ở 25 trung tâm
đã so sánh tính an toàn và hiệu quả lâu dài khi dùng dung dịch xông khí dung
phối hợp ipratropium bromid (IB) và salbutamol (SALB) với việc dùng riêng từng
thuốc mỗi ngày 3 lần. Kết quả cho thấy trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính, điều trị duy trì bằng khí dung thể tích nhỏ với IB và SALB có tác dụng
giãn khí quản tốt hơn so với điều trị chỉ bằng một thuốc mà không tăng tác dụng
phụ (Chest 1997;112 (6):1514-21).
BS
Lê Anh Bá
|