CHỈNH HÌNH NHI 15 NĂM QUA:
- Chỉnh hình Nhi (Pediatric Orthopaedics)
đã có mặt từ xa xưa trong y văn nhưng khái niệm "phòng ngừa" biến dạng thân thể
trẻ em được Nicolas Andry lần đầu nêu lên năm 1741. Ðến những năm 60, công tác
điều trị về cơ xương khớp trẻ em tiếp tục phát triển, nhưng vẫn còn trong ngoại
khoa vì những vẫn đề gãy xương trật khớp, phẫu thuật. Sau đó các Hội Chỉnh hình
Nhi ở các nước lần lượt hình thành từ thập niên 70 của thế kỷ XX, tách dần ra
khỏi các hội ngoại khoa truyền thống.
- Tại Việt Nam, từ chủ trương xây dựng các
trung tâm chuyên khoa của TPHCM, Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình được khánh
thành tháng 05 năm 1985, cũng trong tháng này, Khoa Chỉnh hình Nhi ra đời, có 45
giường điều trị nội trú chuyên về cơ xương khớp trẻ em dưới 16 tuổi.
- Tháng 6 năm 1994 Hội Chỉnh hình Nhi được
khai sinh, là thành viên của Hội Y Dược học TP.HCM.
- Từ 1985 đến nay, đã 15 năm, song song
với việc tiếp thu các tiến bộ trong nước và thế giới, Chỉnh hình Nhi TP.HCM đang
đặt trọng tâm phục vụ là tuyến cơ sở, chăm lo các cháu mới sanh đến trưởng
thành, ở tuyến xã, huyện với kiến thức cập nhựt như ở thành phố. Như vậy, 15 năm
qua, TP.HCM đã có 2 cơ cấu đầu tiên chuyên trách Hệ vận động, cơ xương khớp trẻ
em là Khoa Chỉnh hình Nhi, Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình (1985) và Hội Chỉnh
hình Nhi TP.HCM (1994)
SÁU VẤN ÐỀ VỀ CƠ XƯƠNG KHỚP TRẺ EM
1) Chấn thương: như ở người lớn, trẻ
em bị tai nạn đủ loại, từ té ngả đến thể dục thể thao, xe cộ, hỏa khí...Về chẩn
đoán và xử trí có rất nhiều đặc điểm vì phải căn cứ vào lứa tuổi và những bệnh
lý chung của hệ vận động. Riêng về chấn thương, các gãy xương vùng khuỷu thường
xảy ra, làm cả thầy thuốc đa khoa và chuyên khoa gặp không ít khó khăn.
2) Nhiễm trùng xương khớp: đây là vấn
đề vừa nội, vừa ngoại khoa; vi trùng thường, vi trùng lao tiếp tục là thời sự-
dù đã có nhiều tiến bộ về các loại thuốc kháng sinh. Di chứng, biến dạng, tật
nguyền, là mối nguy cơ lớn nếu không được xử trí đúng mức và kịp thời; cách điều
trị phải nhanh chóng, chạy đua với thời gian, vì biến dạng lúc nhỏ tuổi sẽ có dị
tật nhiều hơn- khi bé lớn lên.
3) Rối loạn phát
triển: xương khớp khi mới sanh thấy bình thường,
nhưng lần lần xuất hiện một chi có triệu chứng không bình thường; thầy thuốc
phải vừa tìm cách chống lại sự mất cân đối trong phát triển giữa xương và các
phần mềm bị co rút; đồng thời nhiều khi phải dùng biện pháp phẫu thuật, dù bé
còn ở lứa tuổi sơ sanh.
4) Các khối u: nhiều bướu xương và
phần mềm phải được phân biệt giữa ác và lành tính; có dạng tổn thương di căn vào
xương của một bệnh lý ác tính khác ngoài xương.
5) Bệnh khớp: Có loại viêm khớp
thoáng qua nhưng nguy cơ cao ở tim. Kế bên là các viêm, mủ, lao; ngoài ra rất
nhiều kiểu dạng thấp rất khó xử trí, bệnh lý khớp và hoạt mạc, đau dai dẳng,
hiện còn trong nghiên cứu; riêng về chỉnh hình cấp bách nhứt là phòng chống các
co rút gân cơ, ngay từ đầu cuộc điều trị.
6) Dị tật bẩm sinh: Nhiều hội chứng
đã được định hình, nhưng cách điều trị vẫn là "chữa ngọn"; chẩn đoán nhiều khi
không khó lắm, nhưng điều trị chỉnh hình đặt ra nhiều vấn đề phải hội chẩn liên
chuyên khoa, thí dụ vẹo cột sống do "tật nữa đốt" ở một hay nhiều đốt xương
sống. Ngoài còn rất nhiều dị tật vừa phải chỉnh hình xương, vừa phải tạo hình
các phần mềm.
CHỈNH-- HÌNH-- NHI,- MỘT- CHUYÊN- KHOA- TRONG- VÒNG- TAY- CỦA- NHIỀU CHUYÊN
KHOA KHÁC:
Thầy thuốc chỉnh hình Nhi dù đã chuyên
sâu, vẫn phải biết sử dụng thuốc chống đau trẻ em, phải học ở khoa gây mê hồi
sức; tiền mê tiểu phẫu cần có bác sĩ gây mê "nhi" hội chẩn; nhưng phẫu thuật
viên phải quan tâm, không phó thác hoàn toàn vào đồng nghiệp gây mê hồi sức, . .
.
Chỉnh hình khớp gối ở bệnh ưa chảy máu có
cái cần phải mổ; trong vấn đề tiền phẫu phải có sự tham gia trực tiếp của đồng
nghiệp chuyên về huyết học; nhưng thầy thuốc chỉnh hình vẫn phải biết về ảnh
hưởng của rối loạn đông máu ở cơ xương khớp trẻ em.
Nói chung, cơ quan vận động trẻ em không
chỉ có cơ xương khớp, rất nhiều mối liên quan với hệ-tạo máu, hệ thần kinh, hệ
nội tiết, vấn đề dinh dưỡng, còi xương, . . .
Nhiều ngành khác cũng có các mối quan hệ
chằng chịt không kém, quan hệ liên chuyên khoa phải là một sự hợp tác thiết yếu
thường xuyên, cái học của người làm chuyên khoa "càng sâu, càng phải rộng" với
nhiều mối liên kết, không biệt lập được.
KHOA CHỈNH HÌNH NHI TTCTCH (1985-2000)
- Năm 1985, nồng cốt là các bác sĩ thuộc
bộ môn Phẫu thuật Nhi trường Ðại học Y Dược TPHCM, dưới sự hướng dẫn của BS Võ
Thành Phụng (phó chủ nhiệm bộ môn).
- Cơ sở vật chất trước đây của Khoa Chỉnh
hình Nhi là khoa nội nhi 30 giường, 2 bác sĩ, 9 điều dưỡng, 2 hộ lý. Bộ môn Phẫu
thuật Nhi cử luân phiên mỗi 6 tháng một bác sĩ trẻ đến Khoa Chỉnh hình Nhi làm
công tác điều trị, học tập và giảng dạy sinh viên.
- 1985, Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình
chính thức được thành lập, Khoa Chỉnh hình Nhi nhận thêm 10 bác sĩ từ năm 1987
đến năm 1998.
|
Năm
|
Giường bệnh
|
Bác sĩ
|
Ðiều dưỡng
|
Hộ lý
|
Số trường hợp mổ/ tuần
|
|
1985-1987
|
30
|
2
BS nội nhi, 3 BS phẫu nhi
|
9
|
3
|
5
|
|
1988-1994
|
40
|
6
|
10
|
4
|
15
|
|
1995-1997
|
44
|
6
|
11
|
4
|
20
|
|
1998-2000
|
52
|
7
|
11
|
5
|
24
|
- 1994, Jean-Pierre-Gil (quốc tịch Bỉ)
thuộc Hội trẻ em đường phố Việt Nam (Poussière de vie, amie des Enfants du Viet
Nam) tài trợ tu bổ khoa Nhi, xây thêm phòng, vẽ tranh lên tường.
* Hiện nay (2000) khoa có PGS làm tham vấn
chuyên môn, một trưởng khoa, một Phó khoa và chín bác sĩ điều trị. Nhìn chung
có- 7 bác sĩ- chuyên khoa cấp 1; 4 bác sĩ đang học chuyên khoa cấp 2; 6 bác sĩ
đã tu nghiệp ở Pháp, Mỹ, Úc, Nhật, Hồng Kông.
- Ðặc biệt trong khoa có một Ðơn vị vi
phẫu (3 bác sĩ), nghiên cứu và triển khai các ca mổ có vi phẫu ở trẻ em. Khoa
Nhi rất coi trọng các mối quan hệ hợp tác mật thiết với các khoa bạn: Cột sống,
Vi phẫu, Bệnh học, Chi dưới..
* Sinh- hoạt khoa học hàng năm: 4-5 đề tài
báo cáo trong các buổi chuyên đề của TTCTCH, và trong các Hội nghị khoa học của
Hội Chỉnh hình Nhi.
* Hoạt động đào tạo: Giảng dạy sinh viên
Y3, Y5, Y6, Thạc sĩ, CK1, CK2, Cao học, BS tuyến cơ sở, Cử nhân điều dưỡng,
ngoại tổng quát, kỹ thuật viên bột, vật lý trị liệu.
- Học tập, đọc tư liệu Chỉnh hình Nhi mỗi
ngày (6 giờ 30 sáng); đến nay được 500 buổi.
* Quan hệ quốc tế:
- Từ 1989 hợp tác trao đổi kinh nghiệm,
học tập với chương trình I-Espoir en Marche (Chaine de I-Espoir, Médecins du
Monde), với các hội viên của Groupe d-Etude en Orthopédie Pédiatrique (Pháp), và
các bác sĩ Chỉnh hình Nhi Hoa Kỳ, Úc, Thái Lan, Hồng Kông, Nhật.
- 1997 bắt đầu quan hệ với Hội Chấn thương
Chỉnh hình Tây Thái Bình Dương (WPOA)
- 1998 các bác sĩ Chỉnh hình Nhi gia nhập
Liên đoàn các Hội Chỉnh hình Nhi Quốc tế (IFPOS, International Federation of
Pediatric Orthopaedic Societies)