WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

GiẢm 80% giá thuỐc chỮa bỆnh AIDS cho các nưỚc nghèo

Năm công ty dược phẩm đă thỏa thuận cắt giảm giá thuốc chữa bệnh AIDS bán cho châu Phi và các nước nghèo. Đó là kết quả đàm phán giữa các công ty Glaxo Wellcome, Boehringer Ingelheim, Bristol-Myers Squibb, Merck & Company, Hoffman La Roche với Tổ chức Y tế Thế giới và một số tổ chức quốc tế pḥng chống AIDS.

BS Peter Piot, giám đốc điều hành UNAIDS (một tổ chức của Liên Hiệp Quốc), nói :"Đây là một bước hứa hẹn trong một quá tŕnh lâu dài. Tuy nhiên, việc hạ giá thuốc chỉ là một yếu tố quan trọng trong số những nỗ lực rộng lớn và cấp bách hơn". Theo một viên chức của Glaxo Wellcome, giá bán của Combivir- (AZT + 3TC) cho các nước nghèo từ 16 USD giảm c̣n 2 USD/viên. Theo BS Rolf Krebs, phó chủ tịch công ty Boehringer Ingelheim, đây là lần đầu tiên mà hai hệ thống công lập và tư nhân phối hợp nỗ lực nhằm tạo ra một sự chuyển biến to lớn trong chăm sóc bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại các nước đang phát triển.

Tại các hội nghị thương mại thế giới, nhiều công ty dược phẩm đă bị chỉ trích v́ đă thu lợi nhuận một cách kỷ lục bằng cách tập trung vào các thuốc chữa những bệnh tương đối không phải là hiểm họa cho loài người như béo ph́, hói đầu, và nhược dương để bán tại các nước giàu có tại châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật (chiếm 80% thị phần dược phẩm) mà phớt lờ những nơi nhiều dịch bệnh như châu Phi, vốn chỉ tiêu thụ 1% lượng dược phẩm toàn cầu. Trong cuộc phỏng vấn nhân ngày công bố hạ giá thuốc, Tổng thư kư TCYTTG, bà Gro Harlem Bruntland, nói rằng: "Các công ty dược phẩm lớn gần đây đă phân tích sâu rộng hơn về vai tṛ của họ. Thực tế nghèo đói và không đủ khả năng về kỹ thuật y khoa đă khiến các công ty suy nghĩ về sách lược và thái độ của họ". Giảm giá thuốc, trong một ư nghĩa nào đó, là sự nhượng bộ táo bạo của các công ty dược phẩm, v́ sẽ hạn chế chi phí dành cho nghiên cứu, và do đó không thể nhanh chóng phát triển những thuốc mới, có giá trị. Tuy nhiên, sự lo ngại của năm công ty trên là t́nh trạng khủng hoảng tại các nước nghèo có thể làm cho hàng triệu viên thuốc giảm giá của họ "bốc hơi" ở nước sở tại và xuất hiện trên thị trường chợ đen ở các nước giàu đề cạnh tranh với thuốc giá cao ở đó. Trong khi đó, tiền thuốc điều trị một trường hợp nhiễm HIV/AIDS tại Hoa Kỳ là từ 15000 - 17000 USD/năm. Chỉ riêng Combivir- trong năm 1999 đă đem lại cho Glaxo Wellcome 454 triệu đô-la doanh thu, trong đó chỉ có 10% là doanh thu ở ngoài Hoa Kỳ và châu Âu. Do vậy, James Cuiverwell, một nhà phân tích kinh tế ở London, cho rằng "tác động kinh tế (của việc giảm giá thuốc cho các nước nghèo) không có ư nghĩa lớn lắm đối với các hăng dược phẩm".

Theo New York Times, 12/5/2000 (N.T.)

Một báo cáo hoài nghi về các chất chống ôxy-hóa

Theo một báo cáo về Nhu cầu Thức ăn Tham chiếu (DRI) của Viện Y học Hoa Kỳ hiện chưa có đủ bằng chứng cho rằng dùng liều thật cao vitamin C và vitamin E, các carotenoid hoặc các chất chống ôxy-hóa khác có thể đề pḥng được các bệnh mạn tính. Báo cáo c̣n ấn định giới hạn cao nhất của những chất dinh dưỡng nói trên cần dùng trong ngày nhằm giảm thiểu nguy cơ tác dụng phụ. Theo Robert Jacob, một thành viên của ủy ban DRI thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, "chúng ta có nhiều nghiên cứu gợi ư rằng có sự liên kết giữa các chất chống ôxy-hóa với bệnh mạn tính, nhưng không chỉ ra bao nhiêu là thừa và cần dự trữ để dành. Khi ăn, chúng ta đă có một số chất chống ôxy-hóa, và không có một chất duy nhất nào là chiếc ch́a khóa thần kỳ ngăn ngừa quá tŕnh ôxy-hóa nguy hại cho cơ thể và làm giảm nguy cơ bệnh mạn tính. Cho đến nay, những nghiên cứu lâm sàng về vitamin C c̣n có những kết quả lộn xộn. Nhiều nhà khoa học vẫn c̣n hoài nghi cho đến khi có được những kết quả tích cực hơn.

Trong một bài báo, Joel Simon (Đại học California, San Francisco, CA, Hoa Kỳ) cho rằng nồng độ thấp của acid ascorbic trong máu có thể là một yếu tố nguy cơ h́nh thành sỏi mật ở phụ nữ. Đó là kết luận khi tác giả phân tích số liệu của 7042 phụ nữ và 6086 người đàn ông tham gia Cuộc điều tra sức khỏe và dinh dưỡng toàn quốc lần thứ ba tại Mỹ. Tăng nồng độ acid ascorbic (0.5 mg/dL hay là 27 mmol/L) kết hợp với giảm 13% tỉ lệ bệnh sỏi mật lâm sàng và sỏi mật không triệu chứng (Arch Intern Med 2000; 160:931-36). Tác giả cho rằng liều vitamin C từ 250 đến 500 mg là quá đủ để giảm nguy cơ tiềm năng và liều đó có lẽ chỉ cần cung cấp bởi thức ăn. Theo Robert Jacob, "kết quả nghiên cứu đó có tính chất gợi ư chứ chưa xác quyết". Ở nam giới, không thấy sự kết hợp như vậy.

Báo cáo DRI khuyến nghị liều vitamin C tăng thêm hàng ngày để đạt mức băo ḥa trong cơ thể là 75 mg đối với phụ nữ và 90 mg đối với nam giới. Người nghiện thuốc lá cần thêm 35 mg mỗi ngày v́ tiếp xúc với nguy cơ tổn hại do ôxy-hóa cao hơn. Để tránh tiêu chảy, liều tối đa trong ngày chỉ là 2 g. Liều khuyến nghị đối với vitamin E trong thức ăn hàng ngày nên tăng lên 15 mg cho cả nam lẫn nữ. Có thể bổ sung tương đương bằng 22 IU d-alpha-tocopherol (vitamin E tự nhiên) hoặc 33 IU dl-alpha-tocopherol (dạng tổng hợp). Liều tối đa là 1 g alpha-tocopherol (khoảng 1500 IU vitamin E tự nhiên hoặc 1100 IU dạng tổng hợp). Selenium, một vi chất dinh dưỡng, được khuyến nghị dùng với liều 55 mg/ngày, tối đa là 400 mg. Không khuyến nghị dùng thêm b-caroten hoặc các carotenoid ví số liệu về nguy cơ và lợi ích c̣n trái ngược nhau.

Việc bổ sung b-caroten chỉ được khuyến nghị để dự pḥng và điều trị hội chứng thiếu vitamin A, nhưng phải thận trọng khi dùng liều cao.

(Theo Lancet 2000; 355: 1433-1440).--

Dehydroepiandrosteron cải thiện một số hiệu ứng lăo hóa ở nam giới

Theo một công tŕnh nghiên cứu tại Pháp mới được công bố trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences (Hoa Kỳ), có thể giảm một vài tác dụng của quá tŕnh lăo hóa - như tăng chu chuyển xương và giảm chất lượng gia và giảm ham muốn - bằng cách uống dehydroepiandrosteron (DHEA), một steroid của thượng thận. V́ nồng độ DHEA và ester sulphat của nó (DHEAS) trong máu giảm dần khi lăo hóa, nên nhiều người tin rằng đó sẽ là thuốc làm trẻ lại.

Etienne-Emile Baulieu (Inserm, Kremlin-Bicêtre, Pháp) và cộng sự đă nghiên cứu xem liệu có đáng bù sự thiếu hụt DHEA trong khi lăo hóa hay không, và nếu có th́ nên làm trong những điều kiện nào. Các tác giả đă thực hiện một nghiên cứu mù đôi, đối chứng với giả dược trên 280 đối tượng nam nữ khỏe mạnh, từ 60-79 tuổi, được uống 50 mg DHEA hoặc giả dược trong một năm. Sau 6 tháng điều trị, nồng độ DHEAS trở lại mức b́nh thường của người trưởng thành c̣n trẻ. Mặc dù không thấy những tác dụng có lợi trên nam giới, nhưng số liệu trên nữ giới từ 70 tuổi trở lên cho thấy gợi ra một sự cải thiện về chu chuyển xương, đi kèm với một tác dụng chống hủy xương của DHEA. Hơn nữa, t́nh trạng da cũng có một vài cải thiện, và một sự gia tăng có ư nghĩa ở hầu hết các thông số về ham muốn được nghiên cứu trên đối tượng nữ cao tuổi.

E.-E. Beaulieu cho rằng "những kết quả này sẽ góp phần cải thiện t́nh trạng sung măn cho người già. Bà hy vọng DHEA sẽ được các cơ quan y tế châu Âu nhanh chóng chấp nhận và sẽ là "biện pháp chống lại sự lưu hành trái phép các sản phẩm DHEA qua Internet, mà không kiểm soát được liều lượng và chất lượng khi không có chỉ định y khoa và giám sát y tế".

(Theo Proc Natl Acad Sci 2000; 97:4279-84)

Tử vong do nhiễm amip

Sự trỗi dậy của bệnh nhiễm khuẩn và đề kháng kháng sinh là những chủ đề chính được báo cáo trong Hội nghị quốc tế về bệnh nhiễm (10-14/4/2000, Buenos Aires, Argentina). Tuy vẫn hiếm thấy, nhưng nhiễm amip Balamuthia mandrillaris sống tự do là một bệnh được quan tâm nhiều v́ có thể lây nhiễm trên người khỏe mạnh c̣n trẻ và hầu như tất cả đều tử vong. BS Eduardo Gotuzzo (Lima, Peru) đă báo cáo 32 trường hợp nhiễm B. mandrillaris gây viêm năo do u hạt. Bệnh nhân thường có một tổn thương mạn tính dạng mảng trên da ở quanh mũi (nhưng cũng có thể thấy ở vị trí khác); sau 2-30 tháng, amip xâm nhập hệ thần kinh trung ương gây viêm năo-màng năo và tử vong trong ṿng 2-8 tuần. Gotuzzo báo cáo tỉ lệ tử vong là 100% mặc dù được điều trị bằng amphotericin, pentamidin, itraconazole và metronidazole. Phối hợp albendazole với itraconazole có thể có hiệu quả nếu được dùng từ thời kỳ tổn thương ngoài da.

Trên thế giới có khoảng 70 trường hợp nhiễm B. mandrillaris đă được báo cáo. Người ta c̣n ít biết về phân bố địa lư, tuy rằng giống như amip Naegleria fowleri thường gây viêm năo-màng năo cấp, bệnh nhiễm amip này thường liên quan với việc đi bơi ở sông, suối, ao hồ nước ngọt. Gotuzzo kết luận rằng một liệu pháp hữu hiệu để điều trị bệnh này đang là một nhu cầu cấp thiết.-

(Theo Lancet 2000; 355: 1433-1440)

Kẽm, tiêu chảy và sưng phổi ở trẻ em

Kẽm là một vi chất dinh dưỡng có nhiều tác dụng và phổ biến trong sinh vật. Chất này tham gia vào nhiều quá tŕnh sinh học cơ bản trong sự sinh sản và biệt hóa tế bào với nhiều vai tṛ khác nhau. Kẽm tham gia vào việc duy tŕ tính toàn vẹn các kênh ion ở các màng sinh học và trong cấu tạo và hoạt động của các thụ thể hormon steroid, nó c̣n giữ vai tṛ chủ chốt trong hoạt động của nhiều loại enzym khác nhau. Chính v́ thế, đối với cơ thể đang tăng trưởng, nhất là trẻ nhỏ, khi thiếu kẽm dễ gây nên những hiệu ứng bất lợi cho cơ thể. Tương tự, những mô tế bào có tốc độ sinh sản nhanh, nhất là tế bào thuộc hệ miễn dịch và hệ tiêu hóa, dễ tổn thương và phân hủy khi thiếu kẽm.

Khác với biểu hiện lâm sàng khi thiếu những vi chất dinh dưỡng khác, triệu chứng lâm sàng của thiếu kẽm không có tính đặc trưng và gợi ư, đôi khi rất mơ hồ, nhưng lại có ư nghĩa quan trọng và ảnh hưởng mọi cơ quan. Thêm vào đó, về mặt cận lâm sàng cũng không có những dấu hiệu chỉ điểm đặc hiệu cho t́nh trạng thiếu kẽm. Đo nồng độ kẽm trong máu cũng khó phát hiện được t́nh trạng cơ thể thiếu dự trữ kẽm khả dụng sinh học.

V́ những lư do đó, cần có những nghiên cứu lâm sàng tỉ mỉ, ngẫu nhiên, có đối chứng về việc bổ sung kẽm, không những- để xác minh những lợi ích của việc can thiệp này mà c̣n khẳng định giả thiết về vai tṛ bệnh căn của thiếu kẽm. Trong ṿng mười năm qua đă có những nghiên cứu can thiệp trên qui mô lớn và kết quả đă dẫn đến sự quan tâm nhiều hơn về vai tṛ quan trọng của vi chất này trong sức khỏe cộng đồng. Những nghiên cứu gần đây chủ yếu được thực hiện ở những nước đang phát triển, đặc biệt chú ư vào những bệnh có tỉ lệ mắc và chết cao nhất ở trẻ em, tức tiêu chảy và sưng phổi, và những đặc điểm lâm sàng đi kèm. Trong số đó, được lưu ư nhiều nhất là chậm tăng trưởng thể chất và rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương. Sốt rét là bệnh truyền nhiễm được lưu ư nhiều nhất v́ có những bằng chứng sơ bộ cho thấy tác dụng lợi ích của kẽm trên bệnh này.---

Mới đây, Nhóm Hợp tác Nghiên cứu Kẽm , do BS R.E. Black (Baltimore, Hoa Kỳ) đứng đầu, đă tổng hợp các nghiên cứu về tác dụng của bổ sung kẽm trên xuất độ và tỉ lệ lưu hành tiêu chảy và sưng phổi và đi đến những kết luận dứt khoát. Số liệu của công tŕnh tổng hợp này đă cung cấp những bằng chứng thuyết phục về tính hiệu quả của kẽm trong việc đề pḥng tiêu chảy và sưng phổi ở trẻ em trên toàn thế giới. Có thể tóm tắt những ư chính trong báo cáo nghiên cứu như sau:

Những thử nghiệm lâm sàng bổ sung kẽm được phân tích là những thử nghiệm trên trẻ dưới 5 tuổi, được cho uống kẽm nguyên tố với liều ít nhất cũng bằng - liều khuyến nghị hàng ngày của Hoa Kỳ (RDA). Có 7 nghiên cứu "liên tục", dùng kẽm nguyên tố với liều 1-2 RDA- uống 5-7 lần/tuần trong t thời gian theo dơi, và nghiên cứu "ngắn hạn" dùng liều 2-4 RDA- trong 2 tuần rồi theo dơi tiếp 2-3 tháng. Tác dụng trên tiêu chảy và sưng phổi được phân tích chung và phân nhóm theo tuổi, theo nồng độ kẽm huyết thanh lúc đầu, theo t́nh trạng dinh dưỡng và theo giới tính. Phương pháp được sử dụng để phân tích là mô h́nh thứ bậc hiệu ứng ngẩu nhiên, từ đó tính ra tỉ suất chênh (OR) và khoảng tin cậy (KTC) 95%. Kết quả cho thấy, trong các thử nghiệm liên tục, tỉ suất chênh của xuất độ và tỉ lệ lưu hành tiêu chảy ở trẻ được bổ sung kẽm so với nhóm chứng lần lượt là 0.82 (KTC 95%: 0.72-0.93) và 0.75 (KTC 95%: 0.63-0.88). Đối với xuất độ sưng phổi ở trẻ được bổ sung kẽm, tỉ suất chênh là 0.59 (KTC 95%: 0.41-0.83). Kkhi phân tích theo phân nhóm, không thấy sự khác biệt có ư nghĩa giữa các nhóm về tác dụng của bổ sung kẽm trên tiêu chảy lẫn sưng phổi. Trong các thử nghiện ngắn hạn, tỉ suất chênh đối với tác dụng của kẽm trên xuất độ tiêu chảy (OR=0.89; KTC 9%%: 0.62-1.28) và tỉ lệ mắc (OR=0.66; KTC 95%: 0.52-0.83), và xuất độ sưng phổi (OR=0.74; KTC 95%: 0.40-1.37) đều tương tự như trong các thử nghiệm liên tục.

Qua đó, Nhóm Hợp tác Nghiên cứu Kẽm kết luận rằng việc bổ sung kẽm cho trẻ em ở các nước đang phát triển đi kèm với giảm tỉ lệ tiêu chảy và sưng phổi, vốn là hai nguyên nhân tử vong hàng đầu ở những nước này.

Theo J Pediatr 1999, Vol. 173, No 6 (N.T.)


[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net