GiẢm 80% giá thuỐc chỮa bỆnh AIDS cho các nưỚc nghèo
Năm công ty dược phẩm đă thỏa thuận cắt giảm giá thuốc chữa
bệnh AIDS bán cho châu Phi và các nước nghèo. Đó là kết quả đàm phán giữa các
công ty Glaxo Wellcome, Boehringer Ingelheim, Bristol-Myers Squibb, Merck &
Company, Hoffman La Roche với Tổ chức Y tế Thế giới và một số tổ chức quốc tế
pḥng chống AIDS.
BS Peter Piot, giám đốc điều hành UNAIDS (một tổ chức của
Liên Hiệp Quốc), nói :"Đây là một bước hứa hẹn trong một quá tŕnh lâu dài. Tuy
nhiên, việc hạ giá thuốc chỉ là một yếu tố quan trọng trong số những nỗ lực rộng
lớn và cấp bách hơn". Theo một viên chức của Glaxo Wellcome, giá bán của
Combivir- (AZT + 3TC) cho các nước nghèo từ 16 USD giảm c̣n 2
USD/viên. Theo BS Rolf Krebs, phó chủ tịch công ty Boehringer Ingelheim, đây là
lần đầu tiên mà hai hệ thống công lập và tư nhân phối hợp nỗ lực nhằm tạo ra một
sự chuyển biến to lớn trong chăm sóc bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại các nước đang
phát triển.
Tại các hội nghị thương mại thế giới, nhiều công ty dược phẩm
đă bị chỉ trích v́ đă thu lợi nhuận một cách kỷ lục bằng cách tập trung vào các
thuốc chữa những bệnh tương đối không phải là hiểm họa cho loài người như béo
ph́, hói đầu, và nhược dương để bán tại các nước giàu có tại châu Âu, Bắc Mỹ và
Nhật (chiếm 80% thị phần dược phẩm) mà phớt lờ những nơi nhiều dịch bệnh như
châu Phi, vốn chỉ tiêu thụ 1% lượng dược phẩm toàn cầu. Trong cuộc phỏng vấn
nhân ngày công bố hạ giá thuốc, Tổng thư kư TCYTTG, bà Gro Harlem Bruntland, nói
rằng: "Các công ty dược phẩm lớn gần đây đă phân tích sâu rộng hơn về vai tṛ
của họ. Thực tế nghèo đói và không đủ khả năng về kỹ thuật y khoa đă khiến các
công ty suy nghĩ về sách lược và thái độ của họ". Giảm giá thuốc, trong một ư
nghĩa nào đó, là sự nhượng bộ táo bạo của các công ty dược phẩm, v́ sẽ hạn chế
chi phí dành cho nghiên cứu, và do đó không thể nhanh chóng phát triển những
thuốc mới, có giá trị. Tuy nhiên, sự lo ngại của năm công ty trên là t́nh trạng
khủng hoảng tại các nước nghèo có thể làm cho hàng triệu viên thuốc giảm giá của
họ "bốc hơi" ở nước sở tại và xuất hiện trên thị trường chợ đen ở các nước giàu
đề cạnh tranh với thuốc giá cao ở đó. Trong khi đó, tiền thuốc điều trị một
trường hợp nhiễm HIV/AIDS tại Hoa Kỳ là từ 15000 - 17000 USD/năm. Chỉ riêng
Combivir- trong năm 1999 đă đem lại cho Glaxo Wellcome 454 triệu
đô-la doanh thu, trong đó chỉ có 10% là doanh thu ở ngoài Hoa Kỳ và châu Âu. Do
vậy, James Cuiverwell, một nhà phân tích kinh tế ở London, cho rằng "tác động
kinh tế (của việc giảm giá thuốc cho các nước nghèo) không có ư nghĩa lớn lắm
đối với các hăng dược phẩm".
Theo New York Times, 12/5/2000 (N.T.)
Một báo cáo hoài nghi về các chất chống ôxy-hóa
Theo một báo cáo về Nhu cầu Thức ăn Tham chiếu (DRI) của Viện
Y học Hoa Kỳ hiện chưa có đủ bằng chứng cho rằng dùng liều thật cao vitamin C và
vitamin E, các carotenoid hoặc các chất chống ôxy-hóa khác có thể đề pḥng được
các bệnh mạn tính. Báo cáo c̣n ấn định giới hạn cao nhất của những chất dinh
dưỡng nói trên cần dùng trong ngày nhằm giảm thiểu nguy cơ tác dụng phụ. Theo
Robert Jacob, một thành viên của ủy ban DRI thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, "chúng
ta có nhiều nghiên cứu gợi ư rằng có sự liên kết giữa các chất chống ôxy-hóa với
bệnh mạn tính, nhưng không chỉ ra bao nhiêu là thừa và cần dự trữ để dành. Khi
ăn, chúng ta đă có một số chất chống ôxy-hóa, và không có một chất duy nhất nào
là chiếc ch́a khóa thần kỳ ngăn ngừa quá tŕnh ôxy-hóa nguy hại
cho cơ thể và làm giảm nguy cơ bệnh mạn tính. Cho đến nay, những nghiên cứu lâm
sàng về vitamin C c̣n có những kết quả lộn xộn. Nhiều nhà khoa học vẫn c̣n hoài
nghi cho đến khi có được những kết quả tích cực hơn.
Trong một bài báo, Joel Simon (Đại học California, San
Francisco, CA, Hoa Kỳ) cho rằng nồng độ thấp của acid ascorbic trong máu có thể
là một yếu tố nguy cơ h́nh thành sỏi mật ở phụ nữ. Đó là kết luận khi tác giả
phân tích số liệu của 7042 phụ nữ và 6086 người đàn ông tham gia Cuộc điều tra
sức khỏe và dinh dưỡng toàn quốc lần thứ ba tại Mỹ. Tăng nồng độ acid ascorbic
(0.5 mg/dL hay là 27 mmol/L) kết hợp với
giảm 13% tỉ lệ bệnh sỏi mật lâm sàng và sỏi mật không triệu chứng (Arch
Intern Med 2000; 160:931-36). Tác giả cho rằng liều vitamin C từ 250 đến 500
mg là quá đủ để giảm nguy cơ tiềm năng và liều đó có lẽ chỉ cần cung cấp bởi
thức ăn. Theo Robert Jacob, "kết quả nghiên cứu đó có tính chất gợi ư chứ chưa
xác quyết". Ở nam giới, không thấy sự kết hợp như vậy.
Báo cáo DRI khuyến nghị liều vitamin C tăng thêm hàng ngày để
đạt mức băo ḥa trong cơ thể là 75 mg đối với phụ nữ và 90 mg đối với nam giới.
Người nghiện thuốc lá cần thêm 35 mg mỗi ngày v́ tiếp xúc với nguy cơ tổn hại do
ôxy-hóa cao hơn. Để tránh tiêu chảy, liều tối đa trong ngày chỉ là 2 g. Liều
khuyến nghị đối với vitamin E trong thức ăn hàng ngày nên tăng lên 15 mg cho cả
nam lẫn nữ. Có thể bổ sung tương đương bằng 22 IU d-alpha-tocopherol (vitamin E
tự nhiên) hoặc 33 IU dl-alpha-tocopherol (dạng tổng hợp). Liều tối đa là 1 g
alpha-tocopherol (khoảng 1500 IU vitamin E tự nhiên hoặc 1100 IU dạng tổng hợp).
Selenium, một vi chất dinh dưỡng, được khuyến nghị dùng với liều 55
mg/ngày, tối đa là 400 mg. Không khuyến nghị dùng thêm b-caroten hoặc các carotenoid ví số liệu về
nguy cơ và lợi ích c̣n trái ngược nhau.
Việc bổ sung b-caroten
chỉ được khuyến nghị để dự pḥng và điều trị hội chứng thiếu vitamin A, nhưng
phải thận trọng khi dùng liều cao.
(Theo Lancet 2000;
355: 1433-1440).--
Dehydroepiandrosteron cải thiện một số hiệu ứng lăo hóa ở nam giới
Theo một công tŕnh nghiên cứu tại Pháp mới được công bố trên
tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences (Hoa Kỳ), có thể giảm
một vài tác dụng của quá tŕnh lăo hóa - như tăng chu chuyển xương và giảm chất
lượng gia và giảm ham muốn - bằng cách uống dehydroepiandrosteron (DHEA), một
steroid của thượng thận. V́ nồng độ DHEA và ester sulphat của nó (DHEAS) trong
máu giảm dần khi lăo hóa, nên nhiều người tin rằng đó sẽ là thuốc làm trẻ lại.
Etienne-Emile Baulieu (Inserm, Kremlin-Bicêtre, Pháp) và cộng
sự đă nghiên cứu xem liệu có đáng bù sự thiếu hụt DHEA trong khi lăo hóa hay
không, và nếu có th́ nên làm trong những điều kiện nào. Các tác giả đă thực hiện
một nghiên cứu mù đôi, đối chứng với giả dược trên 280 đối tượng nam nữ khỏe
mạnh, từ 60-79 tuổi, được uống 50 mg DHEA hoặc giả dược trong một năm. Sau 6
tháng điều trị, nồng độ DHEAS trở lại mức b́nh thường của người trưởng thành c̣n
trẻ. Mặc dù không thấy những tác dụng có lợi trên nam giới, nhưng số liệu trên
nữ giới từ 70 tuổi trở lên cho thấy gợi ra một sự cải thiện về chu chuyển xương,
đi kèm với một tác dụng chống hủy xương của DHEA. Hơn nữa, t́nh trạng da cũng có
một vài cải thiện, và một sự gia tăng có ư nghĩa ở hầu hết các thông số về ham
muốn được nghiên cứu trên đối tượng nữ cao tuổi.
E.-E. Beaulieu cho rằng "những kết quả này sẽ góp phần cải
thiện t́nh trạng sung măn cho người già. Bà hy vọng DHEA sẽ được các cơ quan y
tế châu Âu nhanh chóng chấp nhận và sẽ là "biện pháp chống lại sự lưu hành trái
phép các sản phẩm DHEA qua Internet, mà không kiểm soát được liều lượng và chất
lượng khi không có chỉ định y khoa và giám sát y tế".
(Theo Proc Natl Acad
Sci 2000; 97:4279-84)
Tử vong do nhiễm amip
Sự trỗi dậy của bệnh nhiễm khuẩn và đề kháng kháng sinh là
những chủ đề chính được báo cáo trong Hội nghị quốc tế về bệnh nhiễm
(10-14/4/2000, Buenos Aires, Argentina). Tuy vẫn hiếm thấy, nhưng nhiễm amip
Balamuthia mandrillaris sống tự do là một bệnh được quan tâm nhiều v́ có thể
lây nhiễm trên người khỏe mạnh c̣n trẻ và hầu như tất cả đều tử vong. BS Eduardo
Gotuzzo (Lima, Peru) đă báo cáo 32 trường hợp nhiễm B. mandrillaris gây
viêm năo do u hạt. Bệnh nhân thường có một tổn thương mạn tính dạng mảng trên da
ở quanh mũi (nhưng cũng có thể thấy ở vị trí khác); sau 2-30 tháng, amip xâm
nhập hệ thần kinh trung ương gây viêm năo-màng năo và tử vong trong ṿng 2-8
tuần. Gotuzzo báo cáo tỉ lệ tử vong là 100% mặc dù được điều trị bằng
amphotericin, pentamidin, itraconazole và metronidazole. Phối hợp albendazole
với itraconazole có thể có hiệu quả nếu được dùng từ thời kỳ tổn thương ngoài
da.
Trên thế giới có khoảng 70 trường hợp nhiễm B.
mandrillaris đă được báo cáo. Người ta c̣n ít biết về phân bố địa lư, tuy
rằng giống như amip Naegleria fowleri thường gây viêm năo-màng năo cấp, bệnh
nhiễm amip này thường liên quan với việc đi bơi ở sông, suối, ao hồ nước ngọt.
Gotuzzo kết luận rằng một liệu pháp hữu hiệu để điều trị bệnh này đang là một
nhu cầu cấp thiết.-
(Theo Lancet 2000;
355: 1433-1440)
Kẽm, tiêu chảy và sưng phổi ở trẻ em
Kẽm là một vi chất dinh dưỡng có nhiều tác dụng và phổ biến
trong sinh vật. Chất này tham gia vào nhiều quá tŕnh sinh học cơ bản trong sự
sinh sản và biệt hóa tế bào với nhiều vai tṛ khác nhau. Kẽm tham gia vào việc
duy tŕ tính toàn vẹn các kênh ion ở các màng sinh học và trong cấu tạo và hoạt
động của các thụ thể hormon steroid, nó c̣n giữ vai tṛ chủ chốt trong hoạt động
của nhiều loại enzym khác nhau. Chính v́ thế, đối với cơ thể đang tăng trưởng,
nhất là trẻ nhỏ, khi thiếu kẽm dễ gây nên những hiệu ứng bất lợi cho cơ thể.
Tương tự, những mô tế bào có tốc độ sinh sản nhanh, nhất là tế bào thuộc hệ miễn
dịch và hệ tiêu hóa, dễ tổn thương và phân hủy khi thiếu kẽm.
Khác với biểu hiện lâm sàng khi thiếu những vi chất dinh
dưỡng khác, triệu chứng lâm sàng của thiếu kẽm không có tính đặc trưng và gợi ư,
đôi khi rất mơ hồ, nhưng lại có ư nghĩa quan trọng và ảnh hưởng mọi cơ quan.
Thêm vào đó, về mặt cận lâm sàng cũng không có những dấu hiệu chỉ điểm đặc hiệu
cho t́nh trạng thiếu kẽm. Đo nồng độ kẽm trong máu cũng khó phát hiện được t́nh
trạng cơ thể thiếu dự trữ kẽm khả dụng sinh học.
V́ những lư do đó, cần có những nghiên cứu lâm sàng tỉ mỉ,
ngẫu nhiên, có đối chứng về việc bổ sung kẽm, không những- để xác minh những lợi
ích của việc can thiệp này mà c̣n khẳng định giả thiết về vai tṛ bệnh căn của
thiếu kẽm. Trong ṿng mười năm qua đă có những nghiên cứu can thiệp trên qui mô
lớn và kết quả đă dẫn đến sự quan tâm nhiều hơn về vai tṛ quan trọng của vi
chất này trong sức khỏe cộng đồng. Những nghiên cứu gần đây chủ yếu được thực
hiện ở những nước đang phát triển, đặc biệt chú ư vào những bệnh có tỉ lệ mắc và
chết cao nhất ở trẻ em, tức tiêu chảy và sưng phổi, và những đặc điểm lâm sàng
đi kèm. Trong số đó, được lưu ư nhiều nhất là chậm tăng trưởng thể chất và rối
loạn chức năng hệ thần kinh trung ương. Sốt rét là bệnh truyền nhiễm được lưu ư
nhiều nhất v́ có những bằng chứng sơ bộ cho thấy tác dụng lợi ích của kẽm trên
bệnh này.---
Mới đây, Nhóm Hợp tác Nghiên cứu Kẽm , do BS R.E. Black
(Baltimore, Hoa Kỳ) đứng đầu, đă tổng hợp các nghiên cứu về tác dụng của bổ sung
kẽm trên xuất độ và tỉ lệ lưu hành tiêu chảy và sưng phổi và đi đến những kết
luận dứt khoát. Số liệu của công tŕnh tổng hợp này đă cung cấp những bằng chứng
thuyết phục về tính hiệu quả của kẽm trong việc đề pḥng tiêu chảy và sưng phổi
ở trẻ em trên toàn thế giới. Có thể tóm tắt những ư chính trong báo cáo nghiên
cứu như sau:
Những thử nghiệm lâm sàng bổ sung kẽm được phân tích là những
thử nghiệm trên trẻ dưới 5 tuổi, được cho uống kẽm nguyên tố với liều ít nhất
cũng bằng - liều khuyến nghị hàng ngày của Hoa Kỳ (RDA). Có 7 nghiên cứu "liên
tục", dùng kẽm nguyên tố với liều 1-2 RDA- uống 5-7 lần/tuần trong t thời gian
theo dơi, và nghiên cứu "ngắn hạn" dùng liều 2-4 RDA- trong 2 tuần rồi theo dơi
tiếp 2-3 tháng. Tác dụng trên tiêu chảy và sưng phổi được phân tích chung và
phân nhóm theo tuổi, theo nồng độ kẽm huyết thanh lúc đầu, theo t́nh trạng dinh
dưỡng và theo giới tính. Phương pháp được sử dụng để phân tích là mô h́nh thứ
bậc hiệu ứng ngẩu nhiên, từ đó tính ra tỉ suất chênh (OR) và khoảng tin cậy
(KTC) 95%. Kết quả cho thấy, trong các thử nghiệm liên tục, tỉ suất chênh của
xuất độ và tỉ lệ lưu hành tiêu chảy ở trẻ được bổ sung kẽm so với nhóm chứng lần
lượt là 0.82 (KTC 95%: 0.72-0.93) và 0.75 (KTC 95%: 0.63-0.88). Đối với xuất độ
sưng phổi ở trẻ được bổ sung kẽm, tỉ suất chênh là 0.59 (KTC 95%: 0.41-0.83).
Kkhi phân tích theo phân nhóm, không thấy sự khác biệt có ư nghĩa giữa các nhóm
về tác dụng của bổ sung kẽm trên tiêu chảy lẫn sưng phổi. Trong các thử nghiện
ngắn hạn, tỉ suất chênh đối với tác dụng của kẽm trên xuất độ tiêu chảy
(OR=0.89; KTC 9%%: 0.62-1.28) và tỉ lệ mắc (OR=0.66; KTC 95%: 0.52-0.83), và
xuất độ sưng phổi (OR=0.74; KTC 95%: 0.40-1.37) đều tương tự như trong các thử
nghiệm liên tục.
Qua đó, Nhóm Hợp tác Nghiên cứu Kẽm kết luận rằng việc bổ
sung kẽm cho trẻ em ở các nước đang phát triển đi kèm với giảm tỉ lệ tiêu chảy
và sưng phổi, vốn là hai nguyên nhân tử vong hàng đầu ở những nước này.
Theo J Pediatr 1999,
Vol. 173, No 6 (N.T.)