DÙNG ÁP SUẤT ĐƯỜNG THỞ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
CỦA THUỐC GIĂN PHẾ QUẢN TRÊN BỆNH NHÂN THỞ MÁY
Lê Hữu Thiện Biên*- Trương Ngọc Hải**
Lê Trương Bảo**
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính th́ việc sử dụng thuốc giăn phế quản đóng một vai tṛ rất quan trọng, ngay
cả sau khi bệnh nhân đă được thở máy.(1) Trong các thuốc giăn phế
quản dạng khí dung, dùng kết hợp fenoterol và ipratropium bromid làm tăng tác
dụng giăn phế quản so với sử dụng đơn độc một thuốc.(2,3) Tuy nhiên,
việc đánh giá hiệu quả của thuốc giăn phế quản ở bệnh nhân (BN) thở máy có một
số khác biệt so với BN thở tự nhiên. Trên BN thở tự nhiên, các thông số liên
quan đến lưu lượng khí thở ra được xem như tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh
giá hiệu quả của thuốc giăn phế quản. Trong khi đó, ở BN thở máy, lưu lượng thở
ra trung b́nh, là tỷ lệ giữa thể tích khí lưu thông thở ra và thời gian thở ra,
lại hoàn toàn tùy thuộc vào các thông số cài đặt trên máy thở. Hay nói cách khác
là lưu lượng thở ra trung b́nh không thể nào tăng lên cho dù sức cản đường thở
có giảm đi (do hiệu quả của thuốc giăn phế quản) nếu không thay đổi các thông số
cài đặt trên máy.(4) Do đó, để đánh giá hiệu quả của thuốc giăn phế
quản, cần sử dụng các thông số khác như: sức cản đường thở, mức độ ứ khí phế
nang, công thở hoặc áp suất đường thở.(5,6) Trong nghiên cứu này,
chúng tôi chủ yếu sử dụng áp suất đường thở, là thông số dễ đo đạc nhất, để đánh
giá hiệu quả của fenoterol kết hợp ipratropium bromid trên BN thở máy do bệnh
phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT).
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Bệnh nhân:
Nghiên cứu được tiến hành trên 12 BN, đặc điểm BN và các thông số khí máu động
mạch trước khi thở máy được tŕnh bày trong bảng 1. Tất cả các BN này được chẩn
đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính dựa theo hướng dẫn của Hội Lồng ngực Hoa Kỳ.(7)
Trước khi bắt đầu nghiên cứu, các thuốc giăn phế quản đường khí dung được ngưng
dùng tối thiểu 12 giờ và các thuốc giăn phế quản đường toàn thân được ngưng dùng
tối thiểu 24 giờ.
Dụng cụ:
Thuốc sử dụng là dung dịch phun khí dung ipratropium bromid phối hợp với
fenoterol (Berodual-) với liều thông thường 2 ml có 0,5 mg
ipratropium bromid và 1mg fenoterol. Thuốc được sử dụng qua hệ thống phun khí
dung gắn trực tiếp vào dây dẫn máy thở (Bennett-Puritan 7200ae).

Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân trong nghiên cứu
|
STT
|
Giới
|
Tuổi
|
Chẩn đoán
|
pH
|
PaCO2
|
PaO2
|
|
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
|
Nam
Nam
Nữ
Nam
Nữ
Nam
Nam
Nữ
Nam
Nữ
Nam
nam
|
62
68
54
76
66
58
63
67
77
71
59
65
|
Đợt
cấp BPTNMT
HP u
xơ TLT
TKMP
Đợt
cấp BPTNMT
Viêm
phổi
Viêm
phổi
Viêm
phúc mạc
Suy
tim
Ngưng
tim
Đợt
cấp BPTNMT
Viêm
phổi
Đợt
cấp BPTNMT
|
7.24
7.31
7.19
7.26
7.22
7.33
7.24
7.20
7.17
7.20
7.24
7.28
|
125
78
107
82
86
69
75
84
116
92
71
93
|
86
93
63
63
58
52
66
60
61
75
62
96
|
Ghi chú:
BPTNMT: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
--------------- HP u xơ TLT: hậu phẫu u xơ tiền liệt tuyến.
--------------- TKMP: tràn khí màng phổi.
--------------- PaCO2- và PaO2 tính theo đơn vị mmHg.
Phương pháp tiến hành:
BN được cho ngủ bằng diazepam và giăn cơ bằng vecuronium sao cho không c̣n một
gắng sức thở vào nào. Máy thở cài đặt ở chế độ kiểm soát hoàn toàn: (1) thông
khí phút lựa chọn sao cho đạt được pH 7,30-7,40; (2) tốc độ ḍng dạng h́nh vuông
và điều chỉnh sao cho đạt được tỷ lệ I:E = 1/4; (3) thời gian dừng cuối th́ thở
vào (end-inspiratory pause) 0,4 giây; (4) áp suất dương cuối th́ thở ra ở mức 0
cmH2O hoặc trong trường hợp cần thiết th́ đặt ở mức thấp nhất có thể
duy tŕ được SpO2 -
90%.
Các thông số cơ học hô hấp được đánh giá
gồm: áp suất đường thở tối đa (PIP: peak ins-piratory pressure), áp suất đường
thở b́nh nguyên (Pplat: plateau pressure), áp suất dương cuối th́ thở
ra nội sinh (iPEEP: intrinsic positive end-expira-tory pressure); sức cản đường
thở tĩnh (Rstat: static resistance) và độ giăn nở nhu mô phổi tĩnh (Cstat:
static compliance) được đo trước khi dùng thuốc và các thời điểm 15 phút, 45
phút, 2 giờ và 4 giờ sau khi dùng thuốc. Xem áp suất đường thở b́nh nguyên như
áp suất do sức đàn của nhu mô phổi (Pel: elastic pressure). Từ đó tính ra áp
suất do sức cản đường thở (Pres: resistive pressure) = PIP - Pel -
PEEP. BN được hút sạch đàm trước mỗi lần đo đạc.
Xử lư kết quả.
Số liệu tŕnh bày dưới dạng trung b́nh
-
1 độ lệch chuẩn. Các thông số cơ học hô hấp trước và các thời điểm sau khi dùng
thuốc giăn phế quản được so sánh bằng phép kiểm t-Student ghép cặp. Chọn mức sai
biệt có ư nghĩa thống kê là p < 0,05.
KẾT QUẢ
Tất cả BN trong nghiên cứu, máy thở được
cài đặt với các thông số: (1) thể tích khí lưu thông 0,44
- 0,06 L, (2) tần số thở 16,3
-
2,4 lần/phút, (3) tốc độ ḍng 50,5
-
8,5 lít/phút, (4) PEEP 1,1 -
1,5 cmH2O.
Bảng 2: Thay đổi
áp suất đường thở trước và sau khi dùng thuốc
|
|
T0
|
T15
|
T45
|
T120
|
T240
|
|
PIP
|
36,5
- 7,4
|
30,0
- 8,5c
|
29,4
- 7,4c
|
30,6
- 8,2b
|
32,9
- 7,0c
|
|
Pel
|
18,9
-7,4
|
16,6
- 6.5c
|
16,3
- 5,9b
|
16,8
- 6,5a
|
17,8
- 6,9
|
|
Pres
|
16,5
- 3,2
|
12,2
- 4,5b
|
12,1
- 4,5b
|
13,1
- 4,8b
|
14,1
- 3,7b
|
|
IPEEP
|
4,4
-- 2,0
|
2,7
- 1,8b
|
2,2
- 2,0b
|
2,8
- 1,9b
|
3,3
-- 1,7a
|
Ghi chú: T0, T15, T45, T120, T240: thời điểm trước khi
dùng thuốc và 15, 45, 120 và 240 phút sau khi dùng thuốc.
----- PIP :áp suất đường thở tối đa.
----- Pres: áp suất đường thở do sức cản.
----- iPEEP: áp suất dương cuối th́ thở ra nội sinh.
------------ a: p < 0,05 so
vói T0;- b: p < 0,01 so với T0
------------ c: p < 0,001 so
với T0-
Bảng 3. Thay đổi các thông số cơ học hô hấp.
|
|
T0
|
T15
|
T45
|
T120
|
T240
|
|
Sức cản
tĩnh (cmH2O/L/ giây)
Độ giăn
nở tĩnh
(ml/cmH2O)
|
27,5
-- 6,3
37,3
- 8,9
|
20,7
- 4,5c
41,9
- 11,3a
|
19,8
- 6,2c
40,8
- 10,9a
|
21,1
- 6,2b
40,4
- 10,2a
|
23,9
- 4,9b
37,4
- 9,7
|
Ghi
chú: T0: thời điểm trước khi dùng thuốc; T15, T45, T120, T240 là 15, 45, 120 và
240 phút sau khi dùng thuốc.
a: p <0,05 so với T0; b: p
<0,01 so với T0; c: p <0,001 so với T0
Bảng 4. Thay đổi nhịp tim và huyết áp trước và sau khi
dùng thuốc.
|
|
T0
|
T15
|
T45
|
T120
|
T240
|
|
Nhịp
tim
|
93,3
- 10,4
|
94,5
- 11,0
|
95,4
- 12,1
|
93,2
- 10,1
|
97,8
- 10,9
|
|
HA
T thu
|
126,7
- 10,3
|
128,3
- 16,8
|
129,1
- 16,0
|
126,7
-- 13,0
|
122,9
- 13,3
|
|
HA
Ttrương
|
71,7
- 9,4
|
72,9
- 9,2
|
72,9
- 8,6
|
75,0
-6,7
|
70,8
- 7,0
|
Ghi chú: T0, T15, T45, T120, T240: thời
điểm trước khi dùng thuốc và 15, 45, 120 và 240 phút sau khi dùng thuốc. Nhịp
tim (lần/phút). HATT: huyết áp tâm thu (mmHg). HATTg: huyết áp tâm trương
 
H̀nh 1. Thay đổi
các áp suất đường thở trước và sau khi dùng thuốc giăn phế quản
T0: thời điểm trước khi dùng thuốc và
T15, T45, T120, T240 là 15, 45, 120 và 240 phút sau khi dùng thuốc.
Pel: áp suất do sức đàn.
Pres: áp suất đường thở do
sức cản.
PEEP: áp suất dương cuối th́ thở ra.
 
-----------
T0----- T15--- T45--- T120-- T240
H́nh
2. Thay đổi sức cản đường thở truớc và sau khi dùng thuốc giăn phế quản

----------- ----
T0----- T15--- T45--- T120-- T240
H́nh 3. Thay đổi độ giăn nở nhu mô
phổi trước và sau khi dùng thuốc giăn phế quản.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thuốc giăn phế
quản đă giảm được đáng kể áp suất đường thở tối đa, trong đó chủ yếu là do giảm
áp suất đường thở do sức cản (bảng 2, h́nh 1). Tác dụng này của thuốc trên áp
suất đường thở tương ứng với sự cải thiện rơ rệt của sức cản đường thở (bảng 3,
h́nh 2). Tuy nhiên, có một điều lư thú là độ giăn nở nhu mô phổi cũng được tăng
lên sau khi dùng thuốc (bảng 3, h́nh 3). Bên cạnh đó thuốc giăn phế quả cũng
giảm được áp suất do sức đàn và áp suất dương cuối th́ thở ra nội sinh (bảng 2).
Nói chung, tác dụng của thuốc xuất hiện
rất sớm, 15 phút sau khi dùng và c̣n kéo dài đến 4 giờ sau đó. Về phương diện
tác dụng phụ trên hệ tim mạch, với liều thuốc dùng trong nghiên cứu chưa thấy
làm tăng nhịp tim hay rối loạn huyết động đáng kể nào (bảng 4).
BÀN LUẬN
Tác dụng quan trọng nhất của thuốc giăn
phế quản trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là giảm sức cản đường thở do
đó cho phép gia tăng lưu lượng khí trong cả hai th́ thở vào và thở ra.(8)
Trên BN thở máy, khi lưu lượng khí thở vào (tốc độ ḍng thở vào) được cài đặt
trực tiếp và lưu lượng khí thở ra (tốc độ ḍng thở ra) cũng bị cài đặt một cách
gián tiếp, chúng tôi thực hiện đo trực tiếp sức cản đường thở và thấy rằng thuốc
giăn phế quản đă giảm được đáng kể sức cản đường thở. Tuy nhiên, sức cản đường
thở không phải là một thông số có thể đo được trên nhiều loại máy thở, cho nên
có thể gián tiếp đánh giá sức cản đường thở thông qua đo áp suất đường thở do
sức cản. Trong nghiên cứu này, áp suất đường thở do sức cản giảm xuống rơ rệt
sau khi dùng thuốc trong khi đó tốc độ ḍng gần như không thay đổi, từ đó cho
phép suy ra có sự cải thiện của sức cản đường thở. Tuy nhiên, không phải máy thở
nào cũng có chức năng dừng cuối th́ thở vào để giúp đo được áp suất đường thở do
sức cản. Dựa trên cơ sở áp suất đường thở do sức cản là một trong hai thành phần
chính tạo thành áp suất đường thở tối đa, như vậy nếu áp suất đường thở do sức
cản giảm, do thuốc giăn phế quản, mà áp suất đường thở do sức đàn không tăng th́
áp suất đường thở tối đa sẽ giảm. Thật vậy, trong nghiên cứu này, nhận thấy áp
suất đường thở tối đa giảm xuống đáng kể sau khi dùng thuốc giăn phế quản, mà
trong đó khoảng 2/3 là do giảm áp suất đường thở do sức cản. Điều đáng ngạc
nhiên là giảm áp suất đường thở do sức đàn cũng đóng góp khoảng 1/3 trong giảm
áp suất đường thở tối đa. Trong nghiên cứu Tuxen DV,(9) khi kéo dài
thời gian thở ra để làm giảm t́nh trạng ứ khí phế nang, cũng ghi nhận có giảm áp
suất do sức đàn và giảm áp suất đường thở tối đa. Như vậy, có thể nói rằng ở BN
có tắc nghẽn đường thở khi t́nh trạng ứ khí phế nang được giảm xuống th́ độ giăn
nở nhu mô phổi sẽ được cải thiện(10,11) và áp suất do sức đàn sẽ giảm
xuống. Trong nghiên cứu này, mặc dù không đo được trực tiếp mức độ ứ khí phế
nang nhưng thấy rằng sau khi dùng thuốc giăn phế quản, độ giăn nở nhu mô phổi và
mức áp suất dương cuối th́ thở ra nội sinh đă giảm đáng kể, chứng tỏ t́nh trạng
ứ khí phế nang đă được cải thiện. Như vậy thuốc giăn phế quản đă giúp giảm được
t́nh trạng ứ khí phế nang, cải thiện độ giăn nở nhu mô phổi, do đó giảm được áp
suất đường thở do sức đàn.
Trong khi hiệu quả của việc phối hợp
b2-giao cảm với
ipratropium trong giảm sức cản đường thở của BN bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
trong đợt cấp c̣n chưa được thừa nhận rộng răi(7) th́ phối hợp này đă
được chứng minh là giúp kéo dài thời gian tác dụng của thuốc.(12) Tuy
nhiên theo một số tác giả th́ ưu điểm này có vẻ chỉ có lợi cho BN ngoại trú so
với BN nội trú đă được săn sóc 24/24 giờ tại khoa săn sóc đặc biệt. Tuy nhiên,
trong hoàn cảnh thiếu hụt nhân viên hiện nay th́ tác dụng kéo dài của thuốc đến
4 giờ có thể giúp giảm được số lần sử dụng trong ngày. Một ưu điểm nữa của phối
hợp này là cho phép giảm được liều dùng cần thiết của
b2-giao cảm do đó
giúp tránh được tác dụng bất lợi của thuốc này trên hệ tim mạch. Với liều dùng
trong nghiên cứu này, đă đạt được hiệu quả giăn phế quản rơ rệt mà hầu như không
gặp một tác dụng phụ nào.
Từ kết quả nghiên cứu này, có thể cho rằng
sử dụng áp suất đường thở tối đa và áp suất đường thở do sức cản để đánh giá
hiệu quả của thuốc giăn phế quản trên BN thở máy hay nói cách khác là thuốc giăn
phế quản đă giúp giảm được đáng kể các áp suất đường thở. Việc giảm được các áp
suất đường thở như vậy có thể hạn chế được nguy cơ chấn thương khí hoặc giúp BN
cai máy dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, việc phối hợp fenoterol và ipratropium bromid
có thể đem lại những lợi ích cho BN bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong đợt cấp
cần hỗ trợ thông khí cơ học.
Trân trọng cảm ơn công ty Boehringer- Ingelheim đă cung cấp thuốc giăn phế quản
Berodual dùng trong nghiên cứu, và BS. Lê Đ́nh Phương đă giúp thực hiện xử lư
thống kê cho nghiên cứu này.
Tài liệu tham khảo
1. Schmidt GA, Hall JB. Acute-on-chronic respiratory
failure. In: Principles of Critical Care. Hall JB, Schmidt GA, Wood LDH (eds),
2nd ed 1998. McGraw-Hill. Chap 34, pp 565-583.
2. Patrick DM, Dales RE, Stark RM. Severe
exacerbations of COPD and asthma: Incremental benefit of adding ipratropium to
usual therapy. Chest 1990;98:295-297.
3. Fernandez A, Munoz J, Alia A, Reyes A. Comparison
of one versus two bronchodilators in ventilated COPD patients. Intensive Care
Med 1994;20:199-202.
4. Hubmayr RD, Abel MD, Rehder K. Physiologic
approach to mechanical ventilation. Crit Care Med 1990;18(1):103-113.
5. Gay PC, Rodarte JR, Tayyab M, Hubmayr RD.
Evaluation of bronchodilator responsiveness in mechanically ventilated patients.
Am Rev Respir Dis 1987;136:880-885.
6. Dhand R, Tobin MJ. Bronchodilator delivery with
metered-dose inhalers in mechanically-ventilated patients. Eur Respir J
1996;9:585-595.
7. Standards for the Diagnosis and Care of patients
wih chronic obstructive pulmonary disease. Am J Respir Crit Care Med
1995;152(5):S77-S120.
8. Anthonisen NR, Wright EC. IPPB Trial Group.
Bronchodilator response in chronic obstructive pulmonary disease. Am Rev Respir
Dis 1986;133:814-819.
9. Tuxen DV, Lane S. The effects of ventilatory
pattern on hyperinflation, airway pressures, and circulation in mechanical
ventilation of patients with severe airflow obstruction. Am Rev Respir Dis
1987;136:872-879.
10. Yip CK, Epstein H, Goldring RM. Relationship of
functional residual capacity to static mechanics in chronic obstructive
pulmonary disease. Am J Med Sci 1984;287:3-6.
11. Leatherman, LW, Ravenscraft SA. Low measured
auto-positive end-expiratory pressure during mechanical ventilation of patients
with severe asthma: hidden auto-positive end-expiratory pressure. Crit Care Med
1996;24:541-546.
12. Rebuck AS, Chapman KB, Abboud R. Nebulized
anticholinergic and sympathomimetic treatment of asthma and chronic obstructive
airways disease in the emergency room. Am J Med 1987;82:59-64.
|