CHẨN ĐOÁN
Hiện nay có 2 phương pháp chẩn đoán H.
pylori: các xét nghiệm xâm lấn cho phép phát hiện vi khuẩn từ các mẫu sinh
thiết ở niêm mạc dạ dày khi nội soi, và các xét nghiệm không xâm lấn không cần
phải nội soi. V́ không có xét nghiệm đơn thuần nào là tối ưu, việc lựa chọn phải
dựa trên các bối cảnh lâm sàng, khả năng sẵn có của từng nơi, sự thành thạo và
các yếu tố về chi phí.
Xét nghiệm urease:
Đây là một xét nghiệm đơn giản, nhanh, và kinh tế. Trong những năm qua, nhiều
nghiên cứu đă được thực hiện nhằm đánh giá tính chính xác của nhiều xét nghiệm
urease khác nhau trong chẩn đoán nhiễm H. pylori. Pylori Tek, một xét
nghiệm mới trên thị trường cho độ nhạy cao và thời gian đọc ngắn hơn. Tuy nhiên
khi so sánh với dùng khảo sát mô học như là một tiêu chuẩn vàng th́ thấy có kết
quả dương tính giả nhiều hơn là xét nghiệm CLO ở thời điểm một giờ sau (29% so
với 8%) (Chen YK, 1998). Trong một nghiên cứu khác (Murata H, 1998), Pylori Tek
cho kết quả rất tốt khi so sánh với nuôi cấy và khảo sát mô học xem như là tiêu
chuẩn vàng ở các BN không được điều trị tiệt trùng (độ nhạy 98,5%, độ đặc hiệu
90,9%), trong khi độ nhạy giảm đáng kể, dưới 50% sau điều trị tiệt trùng. Điều
này nhấn mạnh rằng nhiều BN với thất bại điều trị sẽ không đuợ- phát hiện đơn
thuần bằng xét nghiệm này, và một xét nghiệm âm tính không được xem là đă được
điều trị tiệt trùng. Dùng đồng thời ức chế bơm proton và kháng thụ thể H2
cũng ảnh hưởng đến kết quả thử urease qua sinh thiết, ngay cả khi sinh thiết
được thực hiện ở nhiều vị trí khác nhau ở dạ dày.
Nuôi cấy:
Là xét nghiệm đặc hiệu nhất để chẩn đoán nhiễm H. pylori, nhưng độ nhạy
lại thay đổi rất nhiều tùy trung tâm. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả bao gồm:
mật độ vi khuẩn, điều kiện chuyên chở, môi trường nuôi cấy, và điều kiện ủ. Một
trong những lợi điểm của nuôi cấy là có thể biết được sự nhạy cảm của vi khuẩn
đối vói các thuốc dùng trong điều trị. Một vài thuốc được chứng minh là có hiệu
lực và cho thấy H. pylori dễ đề kháng với metronidazol, clarithromycin,
và gần đây là với amoxicillin. Hiện nay trên thế giới, H. pylori ngày
càng có khuynh hướng đề kháng với metronidazol và clarithromycin (Mégraud F,
1998), điều này có thể làm giảm hiệu lực lâm sàng của hầu hết các phác đồ đang
dùng. Cho đến nay, việc so sánh mức độ các tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh giữa các
quốc gia và các trung tâm gặp trở ngại do thiếu sự chuẩn hóa các phương pháp thử
nhạy cảm. Ngay cả ở Hoa kỳ và Châu Âu, các nhóm chuyên gia có thẩm quyền cũng
chưa đưa ra các hướng dẫn kỹ thuật kèm chú giải- điều này sẽ tạo dễ dàng trong
việc giám sát đề kháng thuốc trong tương lai. Tuy nhiên, đối với metronidazol,
đă có báo cáo về kết quả trái ngược nhau giữa các phương pháp thử khác nhau. Các
báo cáo này tuy ít thấy, nhưng đa số trường hợp có thể giải thích là do nhiễm
phối hợp các nhóm phụ vi khuẩn nhạy lẫn kháng thuốc. Cho dù có các hướng dẫn chú
giải, sự nhạy cảm in vitro của H. pylori đối với metronidazol cũng
khó đánh giá, v́ thường xuyên xảy ra và ở mức độ cao tính không đồng nhất của
kiểu gen giữa các khúm phân lập. Ở mức độ phân tử, sự đề kháng đối với
metronidazol gần đây được chứng minh trên H. pylori là xuất phát từ các
đột biến điểm ở gen rdxA, gen này mă hóa nitroreductase chịu trách- nhiệm hoạt
hóa phản ứng khử của thuốc (Goodwin A, 1998). Mặc dù chưa có một xét nghiệm tưp
gen nào để phát hiện sự đề kháng metronidazol của H. pylori, việc làm
sáng tỏ cơ sở phân tử có thể mở ra các triển vọng về triển khai một ứng dụng như
vậy trong tương lai.
Mô học: Khảo sát mô học được sử dụng
rộng răi để chẩn đoán nhiễm H. pylori. Nhuộm haematoxyllin và eosin là
phương pháp ít tốn kém và chính xác, nhưng ngày nay các nhà bệnh học ưa chuộng
nhuộm Gram hơn v́ thời gian xử lư ngắn hơn và cách đọc lam dễ hơn. Khảo sát mô
học cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn khi được đọc và kiểm tra bởi các nhà giải
phẫu bệnh học kinh nghiệm. Tính chính xác của khảo sát mô học để phát hiện H.
pylori cũng tùy thuộc vào số mẫu được sinh thiết- cũng như vị trí sinh
thiết. Ở các BN bị viêm dạ dày không teo niêm mạc, H. pylori có thể được
phát hiện với mật độ và tỉ lệ như nhau ở các vị trí khác nhau của dạ dày (Satoh
K, 1998). Tuy nhiên, các mẫu lấy từ bờ cong lớn ở phần thân giữa hoặ- phần giữa
hang vị của dạ dày là các vị trí thích hợp nhất để phát hiện H. pylori
trên các BN có teo niêm mạc dạ dày. Cũng như các xét nghiệm sinh thiết khác, độ
nhạy của khảo sát mô học dường như giảm đáng kể sau trị liệu bằng các thuốc
chống tiết acid và kháng sinh. Trong một nghiên cứu so sánh, El Zimaty và CS
(1998) nhận thấy không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê về tính chính xác
giữa nhuộm Giemsa, Diff-Quik và Genta trên các BN không được điều trị. Trong khi
đó nếu đă điều trị, th́ không có phương pháp nào là tối ưu, như vậy cần thiết
phải sử dụng nhiều hơn một kỹ thuật nhuộm để loại trừ trường hợp thất bại của
điều trị diệt H. pylori.
CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TỬ HỌC
Sử dụng phương pháp phân tử học chủ yếu là
kỹ thuật PCR (polymerase chain reactions) ngày càng trở nên quan trọng, và nhiều
xét nghiệm đă được triển khai để phát hiện H. pylori
trong các mẫu sinh thiết dạ dày qua nội soi. Tuy nhiên, kỹ thuật PCR hiện nay
chưa được chuẩn hóa và vẫn c̣n là một phương pháp rất tốn công nhưng lại không
đủ nhạy để có thể là một xét nghiệm thường qui chẩn đoán nhiễm H. pylori.
Hơn nữa, trong khi PCR dường như cho kết quả rất tốt trong các nghiên cứu phân
tích in vitro dùng DNA của H. pylori tinh khiết (Lu JJ, 1999), th́
độ nhạy của các xét nghiệm này vẫn ở dưới mức tối ưu để phát hiện H. pylori
trong các mẫu sinh thiết, đặc biệt sau khi đă diệt trừ H. pylori, lúc mà
lượng vi khuẩn rất thấp. Tuy vậy, các qui tŕnh thực hiện PCR đang được đơn giản
hóa và cải thiện bằng kỹ thuật PCR với ḍng lai tạo ngược hoặc các xét nghiệm
miễn dịch enzym lai tạo sắc kế DNA (Pina M, 1998) để phát hiện các sản phẩm
khuếch đại. Một ứng dụng khác của các kỹ thuật DNA là nhằm xác định đột biến
điểm mă hóa đề kháng thuốc đối với một số kháng sinh dùng trong điều trị hoặc để
phát hiện các yếu tố độc lực di truyền khác nhau của H. pylori.
Sự đề kháng của H. pylori đối với
clarithromycin và các macrolid khác có liên quan chặt chẽ với nhiều- đột biến
điểm đơn của gen 23SrRNA (Pina M, 1998). Nhiều loại xét nghiệm PCR được triển
khai để phát hiện H. pylori và các đột biến gây đề kháng clarithro-mycin
một cách trực tiếp từ các mẫu sinh thiết dạ dày mà không cần đến nuôi cấy. So
với xét nghiệm PCR đa biểu h́nh di truyền với chiều dài phân đoạn giới hạn và
phương pháp tạo chuỗi gen DNA, xét nghiệm PCR/ miễn dịch men lai tạo DNA cho
phép phát hiện nhiều kiểu gen tương ứng với các kiểu gen không thuần nhất hoặc
các nhiễm trùng phối hợp.
HUYẾT THANH CHẨN ĐOÁN
Các test huyết thanh chẩn đoán đo lường
kháng thể IgG đơn độc cho kết quả tốt hơn là các test đo cả 3 loại globulin miễn
dịch hoặc chỉ đo IgA đơn thuần (Laheij RJF, 1998). Một nghiên cứu khác đánh giá
so sánh với nhiều test đang có trên thị trường, cho thấy vấn đề thiếu tính đặc
hiệu là do sự tồn tại kéo dài của kháng thể, ngay cả khi đă hết nhiễm trùng (Mc
Nulty C, 1999). Ngược lại, nghiên cứu của Kokkola và CS (1998) cho thấy ở BN
viêm teo dạ dày, huyết thanh chẩn đoán lại đo lường tạo khúm của H. pylori
tốt hơn cả khảo sát mô học hay test qua hơi thở.
Một vài nghiên cứu khảo sát lợi ích của
test huyết thanh trong theo dơi đánh giá điều trị, đă đề nghị thời gian lập lại
xét nghiệm vào khoảng 1-2 tháng (Nishizono A, 1998 và Taley NJ, 1998). Nhiều
nghiên cứu gần đây cho thấy có sự khác biệt đáng kể về các kết quả tùy thuộc vào
test được dùng và dân số nghiên cứu. Từ các kết quả này, người ta thấy cần thiết
phải có sự lượng giá thích hợp đối với từng loại test, và đặt ra giới hạn rơ rệt
cho việc sử dụng rộng răi và áp dụng những test huyết thanh.
Test urease qua hơi thở:
Test qua hơi thở với 13C-urea
là ứng dụng hiện được hiểu biết nhiều nhất. Với độ nhạy và đặc hiệu trên 90%
trong hầu hết các trường hợp được báo cáo, test được xem là rất mạnh. Nhiều
nghiên cứu lượng giá các cải biên của test này với mục đích chủ yếu là đơn giản
hóa qui tŕnh của xét nghiệm.
Nghiên cứu của Hamlet và CS (1999) chứng
minh dùng test 13C-urea qua hơi thở, dạng viên, có thể làm giảm thời
gian xét nghiệm 10 phút và bữa ăn của test có thể không cần đến. Hơn nữa, test
cải biên này cũng cho thấy là có tính chính xác rất cao trong thời gian điều trị
với kháng acid. Leodolter và CS (1998) th́ khuyến cáo nên dùng đồng thời chất
nền và thức ăn để đơn giản qui tŕnh. Casellas và CS (1999) nghiên cứu ảnh hưởng
của việc chậm làm trống dạ dày do các chất từ thức ăn hoặc L-Dopa đă kết luận
rằng có thể làm xét nghiệm 13C-urea với một cốc nước lă mà không cần
bữa ăn. Riêng ở trẻ em, test này cũng hữu ích, nhưng cũng phải tiêu chuẩn hóa
các qui tŕnh xét nghiệm v́ các sự khác biệt về qui tŕnh, các trị số dùng làm
cột mốc và các điểm chọn để theo dơi.
Phát hiện h.
Pylori trong phân:
Mặc dù có nhiều nghiên cứu đă công bố về
phát hiện H. pylori dựa vào PCR, nhưng test này chưa được công nhận là
một xét nghiệm tầm soát định bệnh thường qui. Watanabe và CS (1998) đă cho thấy
một độ đặc hiệu tối ưu của PCR dựa trên tách miễn dịch từ tính, nhưng với độ
nhạy chỉ 61% th́ không thích hợp cho các mục đích thường qui. Ngược lại, một
nhóm tác giả người Ư-(Russo F et al, 1999) mô tả một độ nhạy 100% so với khảo
sát mô học, mặc dù số bệnh c̣n ít. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng nêu lên sự hữu
dụng của test PCR trong phân để nhận biết tính trạng cagA (gen độc tính của
H. pylori). Các nghiên cứu khác cũng mô tả một độ nhạy và đặc hiệu cao để
phát hiện DNA của H. pylori trong phân (Makristathis A, 1998 và
CasswallTH, 1999). Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận là các phương pháp này đ̣i hỏi
người thực hiện phải có kinh nghiệm mới có kết quả tốt, phương pháp này cũng tốn
kém, mất thời gian, c̣n lâu mới được chuẩn hóa, và như vậy khó so sánh các kết
quả với nhau.
Một tiếp cận mới, phát hiện kháng thể đặc
hiệu IgA trong phân đă được mô tả bởi một nhóm tác giả Thụy điển (Tinnert A,
1998). Các tác giả nhận thấy có gia tăng đáng kể nồng độ kháng thể chống lại các
chế phẩm từ màng và flagellin của H. pylori ở BN bị nhiễm. Các kết quả
này cho thấy việc phát hiện kháng thể trong phân có thể là một phương pháp thích
hợp trong việc theo dơi điều trị sớm (sau 5-7 tuần).
Về phát hiện kháng nguyên H. pylori,
trong ṿng 2 năm qua có rất nhiều, nhưng chỉ có 1 báo cáo cho kết quả độ nhạy và
đặc hiệu chấp nhận được theo thứ tự- là 89% và 95% (Makristathis A, 1998). Tuy
nhiên, các kết quả này không thích hợp cho việc theo dơi sớm (4 tuần sau khi kết
thúc điều trị). Kháng nguyên H. pylori
trong phân có thể được phát hiện trong 13 trên 41 BN được điều trị thành công
dựa trên kết quả nuôi cấy và khảo sát mô học (độ đặc hiệu 68%, giá trị tiên đoán
dương tính 48%, giá trị tiên đoán âm tính 93%). Cần nghiên cứu thêm để định
nghĩa vai tṛ của việc phát hiện kháng nguyên trong phân để tầm soát chẩn đoán
nhiễm H. pylori. Các nghiên cứu nên tập trung chủ yếu vào nhóm BN đặc
biệt như trẻ em. V́ xét nghiệm t́m kháng nguyên trong phân có thể mang lại lợi
ích xác thực hơn cả test urea qua hơi thở do các mẫu thử qua hơi thở thường khó
thực hiện.
Vai tṛ của tất cả các test không xâm lấn,
chủ yếu là tầm soát chẩn đoán nhiễm H. pylori, có liên quan trực tiếp đến
quyết định nên điều trị các bệnh do H. pylori gây ra hay không và vai tṛ
của điều trị dự pḥng. Cho đến nay, khi chứng khó tiêu không do loét được khẳng
định không phải là một chỉ định để điều trị diệt trùng và không có các khuyến
cáo chung nào đặt ra về việc phải tiến hành tầm soát nhằm làm giảm áp lực của
nội soi, nên các test không xâm lấn được dùng chủ yếu trong thực hành lâm sàng
thường qui để đánh giá theo dơi điều trị và phục vụ nghiên cứu dịch tể.
Test với 13C-urea được biết
nhiều nhất trong các test không xâm lấn và là test đạt nhiều tiến bộ nhất về mặt
chuẩn hóa. Ngoài ra, c̣n cho các kết quả tốt nhất được khẳng định qua nhiều
nghiên cứu. Một số giới hạn như giá thành, hoặc tại một số quốc gia chưa có để
dùng sẽ được khắc phục trong thời gian tới.
Nh́n chung, mặc dù cần thiết phải có sự
cải thiện, đặc biệt về mặt tiêu chuẩn hóa, việc chẩn đoán nhiễm H. pylori
đă đạt đến mức độ có một cơ sở rất tốt để ứng dụng trong thực hành lâm sàng
thường qui và trong nghiên cứu khoa học- lâm sàng cũng như cơ bản.
TRỊ LIỆU H. PYLORI
Mặc dù có nhiều thuốc mới đang được thử
nghiệm, đa số các nghiên cứu về điều trị, đánh giá các chiến lược diệt trùng
khác nhau đều dùng các thuốc qui ước. Kháng thuốc và sự không tuân thủ điều trị
là nguyên nhân chi-h của thất bại điều trị diệt trùng.
Các hướng dẫn trị liệu thường dùng ba loại
thuốc dựa trên nền tảng thuốc ức chế bơm proton như là trị liệu khởi đầu tối ưu,
nhưng có ít nghiên cứu bàn đến trị liệu diệt trùng thứ hai trong trường hợp thất
bại điều trị.
Đề kháng kháng sinh:
Kháng thuốc có thể nguyên phát hay thứ
phát. Kháng thuốc thứ phát xảy ra khi điều trị diệt trùng thất bại. Khả năng
kháng thuốc thứ phát có liên quan đến tỉ lệ c̣n sống của vi khuẩn đề kháng khi
sử dụng kháng sinh.- Khi có gen kháng thuốc, sự lan truyền có thể xảy ra theo
chiều ngang qua trung gian các plasmid, hoặc có thể lây truyền theo chiều dọc
qua các biến đổi nhiễm sắc thể dưới h́nh thức các đột biến điểm, sự tái sắp xếp,
hiện tương gắn kết hoặc xóa bỏ. Khi đề kháng xảy ra đối với một kháng sinh nào
đó (ví dụ macrolid), nó trở nên bền vững, và như vậy khiến cho việc lựa chọn các
thuốc hữu hiệu thay thế trong điều trị thứ hai bị hạn chế.
Amoxicillin
Ngày nay, H. pylori đề kháng
amoxicillin -đă được nhận biết. Cơ chế là do thiếu một trong 4 protein kết gắn
penicillin hiện diện b́nh thường trên thành tế bào. Nghiên cứu in vitro
lượng giá hiệu lực của trị liệu đôi amoxicillin-clarithromycin cho thấy hiệu quả
giảm đáng kể đối với các ḍng kháng thuốc. Trong một dân số nghiên cứu ở
Sardinia (Ư), kháng amoxicillin trước điều trị xảy ra trong 31% trường hợp. Tỉ
lệ tiệt trùng 66% ở các ḍng nhạy với amoxicillin -so với 33% ở các ḍng kháng
thuốc. Định nghĩa kháng thuốc là khi nồng độ ức chế trung b́nh MIC (mean
inhibitory concen-tration) lớn hơn 8mg/ml
(Dore MP, 1998). Nhưng trong một nghiên cứu mới đây trên tổng số 195 người ở Đức
không thấy có kháng amoxicillin -(Adamek RJ, 1998), cũng như trong nghiên cứu
MACH 2, một nghiên cứu đa trung tâm trên toàn Châu Âu (Lind T,1999). Có thể có
sự khác biệt trong tỉ lệ kháng amoxicillin -trên thế giới, nhưng nguyên nhân- có
thể là do các sự khác biệt trong phương pháp được dùng để thẩm tra và định lượng
kháng thuốc. Hiện nay, v́ đề kháng với amoxicillin -in vitro đă được
biết, nên cần có sự chuẩn hóa các phương pháp đo lường đề kháng để giám sát hiện
tượng này một cách đầy đủ.
Macrolid
Kháng macrolid là do không gắn kết thuốc
này với ribô thể và áp dụng cho tất cả các kháng sinh thuộc họ macrolid
(Versalovic J, 1996). Nói chung, kháng thuốc in vitro là một chỉ điểm tốt
cho kháng thuốc in vivo, và việc sử dụng macrolid chống lại ḍng H.
pylori kháng thuốc về thực tế tương đương như dùng giả dược.
Trong một tổng quan của Pipkin JA (1998)
về trị liệu dùng 3 thứ thuốc với nền tảng clarithromycin, trên các dữ liệu được
công bố từ trước tháng 5/1998, thu thập được 190 nghiên cứu, trong đó có 264 trị
liệu dùng ba thuốc trong một tuần với clarithromycin và amoxicillin -hoặc
nitroimidazol và hoặc ranitidin bismuth citrat (RBC) hay ức chế bơm proton
(PPI). Tuy không thể làm một tổng phân tích v́ sự khác biệt trong thiết kế giữa
các thử nghiệm, nhưng không có sự khác biệt về tỉ lệ sạch trùng giữa các phác đồ
dùng 3 thứ thuốc dựa trên cơ sở clarithromycin. Tuy nhiên, có một nghiên cứu
(Saravino J, 1998) cho kết quả ngoại lệ với tỉ lệ sạch trùng là 87% với phác đồ
RBC (400mg, 2 lần/ngày) cộng clarithromycin (250 mg, 2 lần/ ngày) và
metronidazol (500 mg, 2 lần/ngày), so với 52% phác đồ dùng omeprazol (20 mg, 2
lần/ngày), clarithromycin (250 mg, 2 lần/ngày) và metronidazol (500 mg, 2
lần/ngày). Dân số nghiên cứu có tỉ lệ kháng thuốc là 48% đối với metronidazol và
12% đối với clarithro-mycin, điều này cho thấy phác đồ RBC được ưa chuộng hơn
PPI đối với các ḍng kháng clarithromycin.
Kháng nitroimidazol
Cơ chế của đề kháng nitroimidazol là do
giảm khử nitơ của nicotinamid adenin dinucleotid (Goodwin A, 1998). Sự đề kháng
này hầu như phổ biến ở các quốc gia đang phát triển, và ở các quốc gia Châu Âu,
tỉ lệ này lên đến 56% (Weissfeld A, 1997). Một nghiên cứu in vitro
(vanZwet AA, 1998) cho thấy kháng metro-nidazol có ảnh hưởng tiêu cực đến kết
quả trị liệu dùng ba thứ thuốc với PPI, amoxicillin và metronidazol, nhưng không
ảnh hưởng đối với PPI, clarithromycin và metronidazol. Tuy nhiên, trong nghiên
cứu này chỉ có 2% BN là đề kháng tiên phát với clarithromycin, và đề kháng với
metronidazol về mặt thống kê sẽ quan trọng- hơn- trong một dân số kháng hai thứ
thuốc.
Hệ quả của đề kháng với metronidazol trên
kết quả trị liệu không rơ ràng như đề kháng với macrolid, nhưng có thể coi là có
ảnh hưởng xấu đến kết quả trị liệu.
CÁC TIẾN BỘ VỚI- TRỊ- LIỆU QUI- ƯỚC TRONG NĂM QUA
Trị liệu dựa trên căn bản thuốc ức chế bơm proton
Vai tṛ chủ yếu của ức chế bơm proton
trong trị liệu dùng 3 thứ thuốc được khẳng định trong nghiên cứu- MACH2 (Lind T,
1999). BN được chọn ngẫu nhiên vào 4 nhóm: OAC (20 mg omeprazol, 1g amoxicillin
-và 500 mg clarithromycin); OMC (20 mg omeprazol, 400 mg metronidazol và 250 mg
clarithromycin); MC (400 mg metronidazol và 250 mg clarithromycin); và AC (1g
amoxicillin -và 250 mg clarithromycin), tất cả đều dùng 2 lần/ngày trong một
tuần (Bảng 1). Tỉ lệ sạch trùng tăng đáng kể khi thêm omeprazol và độ tăng của
amoxicillin cao hơn là của clarithromycin. Mặc dù, nh́n chung, có một sự khác
biệt nhỏ trong tỉ lệ sạch trùng giữa nhóm OAC (94%) và nhóm OMC (87%), nghiên
cứu cho thấy đề kháng thứ phát xảy ra sau đó với metronidazol trong 4/4 BN thuộc
nhóm OMC và 8/9 BN thuộc nhóm MC. Đề kháng với amoxicillin -không thấy xảy ra
trong suốt nghiên cúu này.
Bảng 1. Tó- tắt kháng nguyên phát với metronidazol và
clarithromycin và hệ quả trên các tỉ lệ sạch trùng: nhóm được điều trị theo dự
định với t́nh trạng kháng tiên phát và t́nh trạng của
h. Pylori- biết được sau điều trị
|
Trị liệu*
|
Metronidazol
|
|
Clarytromycin
|
|
n-------- Sạch trùng
|
n------- Sạch trùng
|
|
OAC
Nhạy
Kháng
|
86---- - 83 (97%)
32--- -- 30 (94%)
|
116-------- 111 (97%)
2------- -----2 (100%)
|
|
AC
Nhạy
Kháng
|
90------ - 22 (24%)
29------- 11 (38%)
|
117--------- 33 (28%)
1----------- ----------- 0 (0%)
|
|
OMC
Nhạy
Kháng
|
81------- 77 (95%)
33------ - 25 (75%)
|
108------- ----------- 98 (91%)
6------------ 4 (67%)
|
|
MC
Nhạy
Kháng
|
84----- 72 (86%)
35- ------ 15 (43%)
|
117----- - 87 (74%)
3------ --- 0 (0%)
|
* Tất cả đều cho 2 lần/ngày trong một
tuần.
AC: 1g
amoxicillin -và 500 mg clarithromycin.
MC: 400 mg
metronidazol và 250 clarithromycin.
OAC: 20 mg
omeprazol, 1g amoxicillin -và 500 mg clarithromycin.
OMC: 20mg
omeprazol, 400mg metronidazol và 250 mg clarithromycin
Trong một nghiên cứu nhỏ hơn
(Bazzoli F,1998), đề kháng với nitroimidazol trước điều trị làm giảm hiệu lực
của trị liệu dùng ba thuốc trong một tuần với- omeprazol (20 mg, 2 lần/ngày x
1/52), clarithomycin (250 mg, 2 lần/ngày x 1/52) và tinidazol (500 mg, 2
lần/ngày x 1/52) từ 100% đối với các ḍng nhạy xuống c̣n 75% cho các ḍng kháng.
Đề kháng thứ phát không là vấn đề trong nghiên cứu này.
Nói chung, việc dùng amoxicillin -thay v́
metro-nidazol nên được khuyến cáo như là trị liệu ban đầu trong phác đồ dùng ba
thuốc v́ 2 lư do chính: Thứ nhất, đề kháng với nitroimidazol tự bản thân là một
yếu tố nguy cơ đáng kể dẫn tới thất bại trong điều trị, trong khi kháng với
amoxicillin -hiếm thấy hơn. Thứ hai, đề kháng thụ đắc với nitroimidazol hầu như
luôn luôn là nguyên nhân thất bại của trị liệu ban đầu và giới hạn hiệu lực của
trị liệu thay thế.
Sự xuất hiện đề kháng thứ phát với
clarithromycin sau khi điều trị với phác đồ omeprazol (20 mg, 2 lần/ngày)
amoxicillin -(1g, 2 lần/ngày) và clarithro-mycin (500 mg, 2 lần/ngày) được đánh
giá trong một nghiên cứu có một tỉ lệ kháng nguyên phát với clari-thromycin là
9% (kháng trung gian 1%) (Laine L, 1998). Tỉ lệ sạch trùng thất bại với trị liệu
này là 9% (10% không theo dơi được). Thăm ḍ kháng với clarithromycin sau điều
trị cho thấy 3/10 BN có đề kháng thứ phát. Con số này c̣n nhỏ nhưng dường như là
đề kháng thứ phát với clarithromycin không phổ biến sau điều trị thất bại.
Phác đồ ranitidin bismuth citrat (RBC)
Như đă đề cập ở trên, RBC có thể tốt hơn
PPI trong dân số có tỉ lệ kháng clarithromycin cao. Trong một nghiên cứu ngẫu
nhiên, nhỏ (Spadaccini A, 1998), không thấy sự- khác biệt đáng kể trong tỉ lệ
sạch trùng giữa nhóm RBC (400 mg, 2 lần/ngày) và nhóm lanzoprazol, khi trị liệu
trong một tuần phối hợp với clarithromycin (500 mg, 2 lần/ngày) và tinidazol
(500 mg, 2 lần/ngày). Không may, sự đề kháng không được đánh giá trong nghiên
cứu này.
Thời gian tối ưu của các phác đồ dùng RBC
phối hợp với clarithromycin và metronidazol trong trị liệu dùng 3 thứ thuốc là 7
ngày. Tỉ lệ sạch trùng tương đương khi dùng 10 ngày và 7 ngày. Hiệu lực giảm
đáng kể khi chỉ điều trị trong 4 ngày so với 7 ngày (tỉ lệ sạch trùng trong điều
trị có chủ đích tuần tự là 60% so với 84%) (Savarino V, 1999).
Bảng 2. Các thử nghiệm lâm sàng với các trị liệu dựa trên
căn bản ranitidin bismuth citrat (RBC)
|
Tác giả
|
n
|
Phác đồ
|
Tỉ lệ sạch trùng (%)
|
% tác dụng phụ nhẹ
|
B́nh luận
|
|
Ricciardiello
1998
|
51
55
53
|
RBC C T
RBC C A
RBC A T
|
78
71
61
|
12
16
17
|
RBC A
T ít hiệu quả hơn
|
|
Cestari 1998
|
123
116
|
RBC C T
-
1/52
RBC C
|
85
67
|
7
10
|
Ưu
thế trị liệu trong 1 tuần
|
|
Savarino 1999
|
27
25
28
|
RBC C M
-
4/7
-
7/7
-10/7
|
60
84
85
|
9
14
20
|
Trị
liệu tối ưu dùng 3 thuốc trong 1 tuần
|
|
Van der Wouden
1998
|
52
52
|
RBC C M
-
1/52
RBC C
-
2/52
|
94
96
|
27
27
|
Hiệu
quả 2 trị liệu tương đương nhau
|
A:
amoxicillin . C: clarithromycin. M: metronidazol. RBC: Ranitidin bismuth citrat.
T: tinidazol
Hai nghiên cứu riêng rẽ (van der Wouden
EJ, 1998 và Cestari R, 1998) dùng ba thứ thuốc trong một tuần với tinidazol
(hoặc metronidazol), clarithromycin và RBC cho tỉ lệ sạch trùng tương tự với trị
liệu dùng hai thuốc clarithromycin và RBC trong 2 tuần.
Ricciardiello L (1998) chứng minh là có
thể dùng RBC với phối hợp của bất kỳ hai trong ba thuốc clarith-romycin,
tinidazol và amoxicillin -mà không làm giảm đáng kể hiệu lực. Tuy nhiên, phối
hợp RBC, tinidazol và amoxicillin -có hiệu lực kém hơn (tỉ lệ sạch trùng 70%)-
so với hiệu lực của phối hợp chứa clarithromycin (hơn 80%). Mặc dù sự khác biệt
không có ư nghĩa thống kê, khuynh hướng này cho thấy bằng chứng gián tiếp về tác
dụng hợp đồng quan trọng trên lâm sàng giữa clarithromycin và RBC. Các kết quả
được tóm tắt trong bảng 2.
Trị liệu qui ước ngắn ngày
Không tuân thủ điều trị là nguyên nhân
chính của thất bại điều trị và có thể tiên đoán được ở một số người bệnh.
Trị liệu ngắn ngày dùng bốn thứ thuốc cho
kết quả khác nhau. Ở nhóm bệnh nhân người Ư (Tucci A, 1998), không có đề kháng
với nitroimidazol, tỉ lệ sạch trùng là 84% với phác đồ dùng 7 ngày omeprazol (40
mg) và- 2 ngày dùng bismuth (240 mg, 4 lần/ngày) + amoxicillin -(1g, 4lần/ngày)
+ tinidazol (500 mg, 4 lần/ngày). Có 17% BN bị tác dụng phụ nhưng tự giới hạn.
Một nghiên cứu khác (Calvet Z, 1998) dùng
4 thứ thuốc bao gồm omeprazol (40 mg, 2 lần/ngày), amoxicillin -(2500 mg,
1lần/ngày), metronidazol (500 mg, 3lần/ngày) và bismuth subcitrate (360 mg, 3
lần/ngày) cho một tỉ lệ sạch trùng là 69%. Tỉ lệ sạch trùng này thấp hơn đáng kể
so với nhóm chứng dùng trị liệu với ba thứ thuốc; amoxicillin, omeprazol và
metro-nidazol trong 2 tuần (tỉ lệ sạch trùng qua điều trị có chủ đích là 92%).
Tuy nhiên, phác đồ dùng 4 thứ thuốc không được dung nạp tốt (27% tác dụng phụ
thứ yếu) và nghiên cứu cũng không đánh giá sự đề kháng tiền trị liệu.
CÁC THUỐC MỚI
Một số các thuốc mới đă được đánh giá
in vitro
về hoạt tính chống H. pylori và đă được dùng trong các thử nghiệm không
có đối chứng, nhưng chưa được sử dụng qua các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có
đối chứng. Các thuốc này ngày càng có vai tṛ trong một số bối cảnh lâm sàng như
khi điều trị chuẩn thất bại, hoặc khi trị liệu bằng ba thuốc gây ra phản ứng
tăng nhạy cảm với các thuốc chuẩn.
Nh́n chung, không có sự cải thiện đáng kể
trong trị liệu chống H. pylori trong ṿng năm qua, và phác đồ dùng 3 thứ
thuốc với PPI hoặc RBC, clarithromycin và amoxicillin -hoặc metronidazol vẫn là
trị liệu chọn lựa. Việc phát hiện ra sự đề kháng với amoxicillin -là một trong
những vấn đề quan trọng nhất trong năm và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến kết quả trị
liệu.
Bảng 3: Các thuốc mới trong điều trị chống H. pylori
|
-------------------------------------
Vai tṛ khả dĩ
|
Kháng sinh
Ributin
Rifampicin
Secnidazol
Pefloxacin
Furazolidon
|
Những vùng có đề kháng với metronidazol, các quốc gia đang
phát triển
Điều trị thay thế khi thất bại điều trị
Tăng nhạy cảm
Khi biết có đề kháng nguyên phát với các kháng sinh qui ước
|
Thuốc tác động trên
niêm mạc
-Ecabel
-Treponon
-Solfacon
-Plaunatol
-Rebamipid
-Somatostatin
|
Tăng cường cho các trị liệu qui ước
Bảo vệ chống lại viêm dạ dày gây nên bởi H. pylori
khi diệt trùng thất bại
Dùng khi có bệnh đi kèm
Giảm liều các thuốc chống bài tiết
Khởi đầu trị liệu bằng đường tĩnh mạch
|
Chống bài tiết
- Rabeprazol
- Nitazidin
|
Thuốc thay thế cho các thuốc chống bài tiết qui ước
|
Tất cả các phác đồ đều có tỉ lệ thất bại,
nhưng cho đến nay chưa có một nghiên cứu thích đáng nào giúp sáng tỏ việc xử trí
thất bại điều trị ra sao. Các thuốc mới, đặc biệt các thuốc bảo vệ niêm mạc dạ
dày và các chất tương tự với somatostatin hứa hẹn nhiều khả năng. Các phác đồ
thay thế dùng ngắn ngày có thể thích hợp với các BN tuân thủ kém.
Cuối cùng, bước vào thiên niên kỷ mới cũng
chưa có thuốc chủng ngừa đối với H. pylori, và cũng chưa có biện pháp trị
liệu sinh học nào. Tuy nhiên, chúng ta cần phải biết là bệnh lư loét dạ dày tá
tràng cần phải được điều trị như một t́nh trạng nhiễm trùng gây nên bởi một sinh
vật có khả năng lan truyền sự đề kháng theo chiều dọc lẫn chiều ngang đối với
tất cả các kháng sinh hiện hữu. Nghiên cứu tương lai hướng về điều trị sinh học
là đúng đắn, v́ sự đề kháng sẽ lan rộng trong dân số vi khuẩn H. pylori
khiến cho các kháng sinh qui ước ngày càng kém hiệu quả hơn mong đợi.
BS Nguyễn Văn Phượng trích dịch từ- "The
Year in Helicobacter pylori 1999" - Current opinion in
Gastroenterology Vol 14 - Supplement 1
Peter Malfertheiner, Francis Meùgraud,
Pierre Michetti and Ashley Price. On behalf of the European Helicobacter
pylori
Study Group