|
so sánh tác dỤng phỤ cỦa các thuỐc kháng viêm không steroid trên dẠ dày - ruỘt
qua nỘi soi

Loét bờ cong nhỏ dạ dày, ảnh chụp qua nội soi
Mặc dầu c̣n nhiều thiếu sót, nhưng đánh
giá tổn thương của dạ dày-ruột do thuốc kháng viêm không steroid (KVKS -
Nonsteroid Anti-inflammatory Drugs) bằng nội soi vẫn là phương pháp được ưa
thích trong 25 năm qua. Tổn thương được phát hiện qua nội soi tuy ít xảy ra
nhưng là tổn thương nghiêm trọng của các biến chứng- khiến BN phải nhập viện và
tử vong. Người ta nhận thấy đa số các tổn thương nh́n thấy qua nội soi không có
triệu chứng và có thể do nhiều nguyên nhân khác như rượu và thuốc, thời kỳ lành
bệnh và tái phát; và là những bệnh cảnh lâm sàng không rơ ràng.
Việc đánh giá c̣n tùy thuộc sự khéo léo
của người nội soi và có nhiều khác nhau giữa các tác giả. Tuy cách đánh giá theo
thang điểm của Lanza (Gastrointest Endosc 1975,21,103-5) được sử dụng rộng răi
nhất nhưng cũng được cải biên theo từng nhóm hay người thực hiện nội soi, v́ vậy
làm cho việc so sánh giữa các thuốc KVKS rất khó khăn. Hơn nữa, chưa có phương
pháp nào tốt nhất để đo lường đường kính và độ sâu của vết loét nh́n thấy qua
nội soi và c̣n nhiều bất đồng về kích thước nào của tổn thương có thể dự đoán độ
nghiêm trọng và ư nghĩa trên lâm sàng. Vài thuốc gây rất ít hoặc không có tổn
thương khi mới bắt đầu sử dụng, như sunlidac hoặc azapropazon, nhưng sau đó cho
thấy có thể gây những tác dụng phụ nghiêm trọng như xuất huyết hay thủng.
Những giới hạn trên khiến cho các nhà khoa
học tiêu hóa, các giới chức thẩm quyền và các nhà dịch tễ dược học khẳng định là
các nghiên cứu phải xem xuất độ tác dụng phụ nghiêm trọng là cơ sở thực tế để
đánh giá tính an toàn và độc tính của thuốc KVKS. Trên chuột thí nghiệm, người
ta dùng tỉ suất GTD50 / ED50
(GTD50 là liều gây tổn thương dạ dày trong 50% vật thí nghiệm;
ED50 là liều hiệu quả kháng viêm trong 50% vật thí nghiệm) để đánh
giá sự khác nhau giữa các thuốc KVKS. Những thuốc có tỉ suất này cao như
nabumeton trong thí nghiệm nhưng lại gây ít hoặc không gây tổn thương cho dạ dày
qua khảo sát nội soi; thuốc có tỉ suất này thấp như ASA lại gây tổn thương
nghiêm trọng cho dạ dày qua nội soi.
Bảng 1: Tổn thương dạ dày theo
thang điểm Lanza 7 ngày
|
Cao
(>3,0)
|
ASA, Ascriptin, Bufferin, Ectrin, tolmetin, ketoprofen,
ketorolac
|
|
Trung b́nh
(2,0-3,0)
|
-Indomethacin, naproxen, piroxicam, diclofenac, ibuprofen
(>2,4 g/ngày)
|
|
Thấp
(1,0-2,0)
|
-Ibuprofen (<1,6g/ngày), salsalate, sulindac, salicylic
acid, flurbiprofen
|
|
Rất thấp
(0,25-0,5)
|
-Etodolac, nabumeton, meloxicam, sử dụng trong viêm xương
khớp.
|
Bảng 1
tŕnh bày những nghiên cứu đánh giá qua nội soi tác dụng phụ của các thuốc KVKS
được sử dụng trong một tuần. Do những thuốc này được sử dụng ở những đối tượng
khác nhau và không được đánh giá bởi cùng một nhà nghiên cứu nên cần thận trọng
trong việc so sánh. Tuy nhiên, có sự khác biệt rơ nổi lên trong các thuốc KVKS
gây tổn thương qua nội soi, đó là mối tương quan giữa điểm số Lanza với độ an
toàn của thuốc được sử dụng lâu dài. Những thuốc như etodolac, nabumeton,
meloxicam cho thấy không có tác dụng phụ nghiêm trọng khi được dùng lâu dài.
Bảng 2: Xuất độ của loét dạ dày qua khảo sát nội soi
|
Thuốc (mg/ngày)
|
Loét (%)
|
|
Ibuprofen-- 1.600
|
9,1
|
|
----------- 2.400
|
5,4
|
|
----------- 3.200
|
6,7
|
|
----------- 4.800
|
16,4
|
|
Naproxen-- 500
|
5
|
|
----------- 1000
|
10
|
|
Indomethacin 75
|
6,7
|
|
----------- -- 100
|
0
|
|
----------- -- 150
|
2,9
|
|
Tolectin- 2000
|
20
|
|
Piroxicam 20
|
4
|
|
Sulindac 300
|
|
|
Fenbufen 1000
|
|
|
Etodolac 600
|
Tất cả <1,0
|
|
Nabumeton 1000
|
|
|
Meloxicam 7,5
|
|
|
Giả dược
|
|
Một vấn
đề nữa của thang điểm Lanza là sự khác biệt chất lượng của tổn thương gây nên
bởi các thuốc được xếp dồn chung cùng một thang điểm. Những thuốc này gây tổn
thương có thể khác nhau về số lượng cũng như chất lượng. V́ lư do đó, trong
những nghiên cứu sau này đă đưa ra chỉ số đánh giá cuối về độc tính của thuốc
KVKS là tỉ lệ loét dạ dày trước và sau dùng thuốc. Các dữ liệu theo cách đánh
giá này được tŕnh bày trong bảng 2. Kết quả cho thấy qua khảo sát nội soi, độc
tính trên dạ dày của các thuốc KVKS rất khác nhau, mặc dù khảo sát trong 7 ngày
tuy có vài mối liên quan giữa liều dùng và tỉ lệ loét dạ dày, nhưng kết quả nội
soi thay đổi một cách đáng kể ngay trong cùng một liều của cùng một thứ thuốc.
Bảng 3: Ttỉ lệ tổn thương dạ dày-ruột sau 6 tháng dùng
thuốc KVKS
|
KVKS
|
Số BN
|
Tỉ lệ- % loét
|
Tổn thương rơ %
|
|
Aspirin
|
57
|
43,9
|
61,4
|
|
Ketoprofen
|
59
|
37,3
|
61,0
|
|
Etodolac
|
25
|
36,0
|
52,0
|
|
Flurbiprofen
|
35
|
28,6
|
45,7
|
|
Piroxicam
|
226
|
23,9
|
31,4
|
|
Indomethacin
|
180
|
23,3
|
32,2
|
|
Ibuprofen
|
173
|
22,5
|
37,0
|
|
Sulindac
|
43
|
20,9
|
30,2
|
|
Naproxen
|
247
|
17,8
|
35,2
|
|
Diclofenac
|
461
|
17,8
|
29,3
|
|
Fenoprofen
|
41
|
14,6
|
29,3
|
Trong một nghiên cứu đánh giá qua nội soi
thực hiện sau 6 tháng điều trị với liều chuẩn các thuốc KVKS trên 1547 BN được
tŕnh bày ở bảng 3. Tỉ lệ loét (đường kính >3 mm) của aspirin gấp 3 lần
fenoprofen (43,9% so với 14,6%), trong khi đó nếu tính theo số tổn thương th́
chỉ gấp 2 lần (61,4% so với 29,3%). Tất cả BN đều không có tổn thương khi bắt
đầu nghiên cứu. Tuy trong nghiên cứu này không cho biết thông tin về đáp ứng dạ
dày của từng đối tượng đối với từng loại thuốc cũng như có bao nhiêu BN rút khỏi
nghiên cứu v́ tác dụng phụ nghiêm trọng hoặc v́ thiếu hiệu quả hoặc v́ những lư
do khác, nhưng những dữ liệu này chứng tỏ có sự khác biệt đáng kể về tác dụng
phụ trên dạ dày-ruột giữa các thuốc qua khảo sát nội soi.
Theo McCarthy DM: Comparative toxicity of nonsteroidal anti-inflammatory drugs:
Am J Med, 1999,107 (6A)37S-47S
(LAB)

NGUY CƠ XOẮN ĐỈNH của CÁC THUỐC KHÔNG phải TIM MẠCH
Các thầy thuốc cần lưu ư là nhiều thuốc có thể làm kéo dài QT
Nhiều thuốc chống loạn nhịp được biết kéo
dài tái cực thất và gây ra xoắn đỉnh. Gần đây, một số thuốc không phải là thuốc
tim mạch cũng có tác dụng tương tự. Các thuốc này đều có khả năng ngăn chận
thành phần nhanh của kênh K hiệu chỉnh chậm (IKr), hậu quả là điện thế màng bị
kéo dài không đồng nhất, các bất thường của sóng T, và khoảng QT kéo dài. Ḍng
điện khử cực vào thời kỳ cuối của điện thế hoạt động gây ra một khử cực sớm mà
sự phục hồi thất không đồng nhất sẽ dẫn đến xoắn đỉnh. Nhiều thầy thuốc không
biết nguy cơ gây loạn nhịp của một số thuốc không phải tim mạch. Các khai báo
cho các giới chức có trách nhiệm theo dơi, Tổ Chức Y Tế Thế Giới, và các công ty
dược là bằng chứng phong phú.
Hai thuốc kháng histamin không gây ngủ là terfenadin và
astemizol, gây sự chú ư thường xuyên trong đầu thập niên 90, đă bị giới hạn sử
dụng ở Anh quốc v́ gây kéo dài QT không mong muốn, xoắn đỉnh và đột tử. Các tác
dụng phụ của terfenadin dường như tùy thuộc vào nồng độ, xảy ra khi quá liều,
hoặc ở liều b́nh thường trên những bệnh nhân dùng cùng lúc với các thuốc ức chế
cytochrom P-450 như thuốc kháng nấm imidazol và một số kháng sinh macrolid và
người bệnh có hội chứng QT kéo dài bẩm sinh.
Tính an toàn trên tim của các thuốc kháng
histamin mới không gây ngủ (như ebastin, loratadin, cetirizin, acrivastin,
fexofenadin, và mizolastin) cần được xác minh thêm, ngoại trừ một số chẹn Ikr
nhưng không tất cả, và như thế rất có thể gây ra loạn nhịp trên lâm sàng. Mặc dù
xuất độ tuyệt đối độc tính trên tim của các kháng histamin rất thấp, khả năng
gây ra loạn nhịp tim cần được đánh giá cẩn thận v́ các thuốc này được dùng rộng
răi cho các bệnh tự giới hạn và không gây tử vong.
Một số các kháng sinh (như macrolid và fluoro-quinolon), thuốc
sốt rét, và kháng nấm imidazol có thể gây ra QT kéo dài và xoắn đỉnh. Tuy nhiên,
xoắn đỉnh hiếm khi thấy và đă không xảy ra với tất cả các các kháng sinh làm kéo
dài khoảng QT. Erythromycin dùng đường tĩnh mạch làm kéo dài khoảng QT, làm cho
sự phục hồi xuyên thành bị phân tán, và thỉnh thoảng gây xoắn đỉnh. Trường hợp
nhóm quinolon, sparfloxacin, grepafloxacin (đă bị cấm ở hầu hết các quốc gia)
kéo dài khoảng QT, trong khi đó th́ levofloxacin và ofloxacin dường như không.
Quinin kéo dài khoảng QT ở liều chuẩn, halofantrin cũng vậy, đặc biệt khi kết
hợp với mefloquin. Ketoconazol kéo dài khoảng QT bằng cách chẹn trực tiếp IKr và
bằng cách làm chậm chuyển hóa phụ thuộc vào cytochrom P-450 của các thuốc khác
cũng làm kéo dài khoảng QT.
Các thuốc chống trầm cảm 3 ṿng đặc biệt rất độc đối với tim.
Amitriptylin, doxepin, desipramin, imipramin, và clomipramin, tất cả đều làm kéo
dài khoảng QT và đột tử được ghi nhận với desipramin, clomipramin, hoặc
imipramin. Mặc dù có một xuất độ đột tử không giải thích được ở bệnh nhân bị tâm
thần phân liệt, các thuốc hướng tâm thần tự bản thân có thể gây đột tử, và một
số lớn- có thể kéo dài QT và gây ra- xoắn đỉnh ở liều điều trị hoặc liều độc.
Haloperidol, chlorpromazin, trifluoperazin, pericyclin, prochlorperazin, và
fluphenazin được xem là thủ phạm, trong đó thioridazin là chính yếu.
Tính an toàn trên tim của sertindol, một thuốc hướng tâm
thần mới c̣n đang bàn căi. Mặc dù có 27 trường hợp tử vong (16 biến cố tim mạch)
có liên quan với việc dùng thuốc này trong 2194 bệnh nhân tham gia vào các thử
nghiệm lâm sàng trước khi- ra thị trường, một rà soát độc lập cho thấy không có
liên quan nhân quả giữa sertindol- với các tử vong này. Tuy nhiên, trong một cập
nhật mới đây, đă báo cáo về 36 trường hợp tử vong (bao gồm một số đột tử do tim)
và 13 trường hợp loạn nhịp không gây tử vong do dùng sertindol. V́ thế nhà sản
xuất đă đ́nh chỉ sử dụng trong khi chờ đợi một đánh giá đầy đủ về nguy hại và
lợi ích- của thuốc này.
Pimozid, một thuốc trị bệnh tâm thần khác, được biết rơ là làm
kéo dài QT và gây ra xoắn đỉnh. 40 báo cáo (16 tử vong) với các phản ứng trầm
trọng trên tim (chủ yếu là loạn nhịp) liên quan đến việc dùng pimozid đă được
thông báo cho Ủy Ban An Toàn về Dược Phẩm từ 1971 đến 1995.
Cisaprid
gây nhiều chú gần đây v́ đă có các báo cáo cho thấy kéo dài QT và gây xoắn đỉnh.
Trong số 34 trường hợp xoắn đỉnh và 23 trường hợp QT kéo dài do dùng cisaprid đă
được báo cáo lên FDA từ 1993 đến 1996, có 4 tử vong và 16 trường hợp ngưng tim
phải hồi sức. Nhiều bệnh nhân trong số này cũng dùng imidazol hoặc trụ sinh
macrolid có thể ức chế đồng enzym P-450 CYP3A4 chịu trách nhiệm chuyển hóa của
cisaprid.
Các t́nh trạng khác có thể làm tăng thêm
mức độ kéo dài QT do thuốc bao gồm bệnh cơ tim thực thể, đặc biệt suy tim ứ
huyết, các bất thường về chuyển hoá (như- hạ kali và magnê máu); và chậm nhịp
xoang hoặc blốc tim. Phụ nữ nhạy cảm với t́nh trạng này hơn.
Trong thực hành lâm sàng, tác dụng phụ của
thuốc làm kéo dài QT có thể được ngăn ngừa bằng cách không dùng quá liều khuyến
cáo; giới hạn liều ở bệnh nhân mắc sẵn bệnh tim hoặc các yếu tố nguy cơ khác; và
tránh dùng chung với các thuốc ức chế chuyển hóa hoặc bài tiết thuốc, kéo dài
khoảng QT hoặc gây hạ kali máu. Nên kiểm tra định kỳ nồng độ kali máu và ưu tiên
lựa chọn các lợi tiểu giữ kali.
Nếu xảy ra xoắn đỉnh, ngưng ngay thuốc
nguy hại và điều chỉnh các bất thường điện giải. Khi cho bệnh nhân dùng thuốc
làm kéo dài QT, sẽ có ích cho người bệnh nếu cho họ một thẻ cảnh báo liệt kê các
yếu tố nguy cơ (bao gồm các thuốc khác làm kéo dài QT), các thận trọng, và các
chống chỉ định trong phối hợp thuốc. Mặc dù cho đến nay điều này chưa được thực
hiện, cần có khuyến cáo liệt kê các thuốc làm kéo dài QT và thường xuyên cập
nhật trong một danh bạ thuốc quốc gia (ví dụ như- British National Formulary).
Bất kỳ biến cố ngoại ư nào gợi ư loạn nhịp tim nên được báo cáo khẩn cấp cho
giới chức có trách nhiệm về an toàn thuốc và nhà sản xuất.
Hiện có nhiều thuốc không phải tim mạch có
thể gây nguy cơ rối loạn nhịp có thể chết người qua cơ chế kéo dài QT và gây ra
xoắn đỉnh. Tất cả thầy thuốc và bệnh nhân khi dùng các thuốc này cần nhận biết
nguy cơ này và thận trọng đề pḥng để giảm thiểu khuynh hướng loạn nhịp.
Theo BMJ 2000; 320; 1158-1159 (29 April):
Risk of torsade de pointes with non-cardiac drugs. (NVP)
MỘT SỐ
LOẠI DƯỢC THẢO ĐÔNG Y LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH THẬN VÀ UNG THƯ BIỂU MÔ NIỆU
Trong thời gian qua, nhiều trường hợp bệnh
thận do dược thảo Trung Hoa (Chinese-herb nephropathy) đă được phát hiện tại Bỉ.(1,2)-
Bệnh- đặc trưng bởi một dạng xơ hóa mô kẻ dẫn đến suy thận và ung thư biểu mô
đường tiết niệu xảy ra ở những phụ nữ dùng thuốc viên hoàn Đông y để giảm cân.
43/105 bệnh nhân (BN) bị suy thận ở giai
đoạn cuối. Hầu hết BN là nữ mắc bệnh thận do dược thảo Trung Hoa được nhập viện
ở khoa Niệu, bệnh viện Erasme (Bỉ) để ghép thận. Tất cả BN này đă từng dùng các
viên hoàn thuốc Đông y cùng với các dược phẩm ức chế sự thèm ăn (fenfluramin va
-iethylpropion). Ngoài ra, một số BN có dùng thêm acetazolamid, Cascara
sagrada, hoặc trích tinh belladonna với mục đích làm giảm thể trọng.
Thời gian dùng thuốc trung b́nh là 13,3
tháng từ năm 1990 đến 1992. T́nh trạng suy thận ở giai đoạn cuối xuất hiện từ 3
đến 35 tháng sau khi BN ngưng dùng thuốc.
Các- thuốc Đông y được dùng gồm hai loài
dược thảo là Stephania tetrandra (Pḥng kỷ) và Magnolia officinalis
(Hậu phác) nhưng khi kiểm nghiệm th́ không thấy có chất tetrandrin của dược thảo
Stephania tetrandra (Đông y gọi là Phấn Pḥng kỷ) mà lại chứa các acid
aristolochic, là thành phần của các dược thảo khác cũng có tên là Pḥng kỷ nhưng
thuộc chi Aristolochia.
-Các acid aristolochic là một hỗn hợp các
dẫn xuất nitrophenanthren đă được chứng minh là có t́ềm năng gây ung thư trên
chuột và tính gây đột biến trên các mô h́nh thực nghiệm ở vi khuẩn và trên động
vật có vú. Hơn nữa, Schmeiser và cs. đă phát hiện những đoạn thêm vào DNA (DNA
adducts) h́nh thành do các chuyển hóa chất- của acid aristolochic
(aristolactams) trên những mẫu mô thận của bệnh nhân. Những đoạn DNA này- có
liên quan trực tiếp đến việc sinh khối u.
Việc chẩn đoán bệnh thận do dược
thảo Trung Hoa- dựa trên tiền sử có dùng các viên hoàn Đông y nói trên và t́nh
trạng tổn thương tiến triển nhanh chóng của chức năng thận, vốn trước đó vẫn
b́nh thường. Xác định bệnh dựa trên các dữ liệu tế bào học điển h́nh lấy từ mô
thận của 66 BN, trong số đó, các mẫu mô thận lấy từ 8 BN đă được kiểm tra phân
tích các đoạn thêm DNA. Việc chẩn đoán xác định ung thư biểu mô thận xâm lấn dựa
trên hệ thống phân loại tế bào học của Tổ Chức Y Tế Thế Giới.
Có sự liên hệ rất rơ giữa việc dùng thuốc
lợi niệu acetazolamid và ung thư biểu mô thận, nhưng không có sự khác biệt có ư
nghĩa giữa tỉ lệ BN bị ung thư biểu mô trên số BN chỉ dùng Pḥng kỷ (Aristolochia
fangchi) và trên số BN có dùng thêm acetazolamid
Tỉ lệ BN bị ung thư biểu mô thận dùng
A. fangchi
với tổng liều từ 200g trở xuống là 8/24, và với tổng liều trên 200g là 10/15
Kết quả nghiên cứu trên đă cho thấy việc dùng lâu dài các dược thảo thuộc chi
Aristolochia (A. sp.) có thể bị bệnh thận với nguy cơ ung thư biểu mô thận
rất cao. Nhiều trường hợp khác cũng đă được báo cáo ở Anh, Pháp, Tây Ban Nha,
Nhật Bản và Đài Loan. Một số nước khác như Úc, Đức, Canada,. cũng đă cấm dùng
các vị thuốc có chứa acid aristolochic. Cơ quan Kiểm nghiệm Dược phẩm Anh Quốc
(MCA) đă khuyến cáo cấm nhập khẩu các dược thảo có thể gây nhầm lẫn với những
loại thuộc chi Aristolochia như Akebia quinata, A. trifoliata, Clematis
armandii, C. montana, Coccolus orbiculatus, C. thunbergii, C.trilobus và
Stephania tetrandra cùng cả những sản phẩm thuốc Trung quốc được gọi là " mu
tong" hay "fangii".(3)

Cũng nên lưu ư là tại nước ta, việc sử dụng các loại dược thảo với nhiều tên gọi
theo Đông y c̣n rất lộn xộn, dễ gây nhầm lẫn. Theo GS. Đỗ Tất Lợi(4)
th́ Đông y sử dụng rễ của nhiều loại cây thuốc- cùng có tên là- Pḥng kỷ, trong
đó có 2 cây thuộc chi Aristolochia là Aristolochia weslandii Hemsl.
với các tên Đông y là Pḥng kỷ Quảng tây, Quảng Pḥng kỷ, Mộc Pḥng kỷ hay Đẳng
Pḥng kỷ, và Aristolochia heterophylla Hemsl. với tên là Hán Trung Pḥng
kỷ hay Thanh Mộc hương. Ngoài ra c̣n có các vị Pḥng kỷ khác không thuộc chi
Aristolochia là Phấn Pḥng kỷ (Stephania tetrandra S.Moore) và Mộc Pḥng kỷ (Coccolus
trilobus DC.)
Ở nước ta, cũng có dùng làm thuốc các loại
rễ dây Xanh, dây Một (Coccolus sarmentosus Diels.) hoặc rễ dây Gấc (Momordica
cochinchinensis Lours.) cũng với tên gọi là Pḥng kỷ.
Theo Vơ Văn Chi(5) và Alfred
Petelot,(6)
ở Việt Nam c̣n có nhiều loài thực vật thuộc chi Aristolochia được sử dụng để làm
thuốc dưới các tên Pḥng kỷ, Mă Đâu linh, Nam Mộc hương, Thanh Mộc hương, Sơn
dịch, Khoai ca, Dây Khố rách, Vơ Khô long.để trị thủy thủng, tiểu tiện khó, tiêu
viêm, điều kinh, kiết lỵ.và cả để làm thuốc bổ nữa. Liệu các vị thuốc này đều có
chứa độc tố thuộc nhóm acid- aristolochic gây bệnh thận và ung thư biểu mô nêu
trên -
V́ vậy, các thầy thuốc cần lưu ư trước
những bệnh nhân bị bệnh thận hoặc có khối u ở biểu mô thận mà không rơ nguyên
nhân, liệu xem họ có từng dùng những dược thảo như đă nói trên hay không.
DS
Huỳnh văn Nhiệm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Joelle L. Nortier et al.-
Urothelial carcinoma associated with the use of a Chinese herb (Aristolochia
fangchi). N. Engl. J. Med 342 (23) : 1686-92,June 8,2000
2. Davis- A. Kessler, Cancer
and herb. N. Engl. J. Med 342 (23) 1742-43,June 8,2000
3. Đ.H.P. Cơ quan Kiểm nghiệm
ở Anh đề nghị cấm một số dược liệu . Tạp chí Dược học 288:32, 4.2000
4. Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc
và vị thuốc Việt nam 4th ed. NXB- Y Học 514-15,1999
5. Vơ Văn Chi. Từ Điển Cây
thuốc Việt Nam, NXB Y Học 1997
6. Alfred Petelot. Les plantes
médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam. Centre National de Recherches
Sc. et Tech.. III:27-28,1954
THUỐC VIÊN NGỪA THAI VÀ THUYÊN TẮC PHỔI GÂY TỬ VONG
Trong một nghiên cứu bệnh-chứng về thuyên
tắc phổi gây tử vong tại New Zealand trên phụ nữ tuổi sinh đẻ, Liann Parkin và
cộng sự- (Khoa Y học Dự pḥng và Xă hội, Đại học Otago, New Zealand) ước tính
rằng những người đang dùng thuốc viên ngừa thai (TNT) phối hợp có nguy cơ tương
đối là 9.6 (KTC 95% 3.1-29.1). Theo số liệu phân bố trên toàn quốc, nguy cơ
tuyệt đối của tử vong do thuyên tắc phổi trên người đang dùng TNT được ước tính
khoảng 10.5 trên một triệu phụ nữ-năm.
Các tác giả đă khảo sát các trường hợp tử
vong do thuyên tắc phổi ở phụ nữ New Zealand từ 15 đến 49 tuổi. Trường hợp
nghiên cứu là những trường hợp chết trong khoảng tháng 1/1990 đến tháng 8/1998
được chứng tử với các nguyên nhân theo mă số phân loại bệnh tật quốc tế (ICD bản
in lần 9) là 415.1, 451 hoặc 453. Các chi tiết lâm sàng và tên của bác sĩ gia
đ́nh được thu thập qua báo cáo của nhân viên điều tra hoặc của cảnh sát và hồ sơ
bệnh án. Trong số 43 phụ nữ được đưa vào hồ sơ, có 4 trường hợp không đủ bằng
chứng chẩn đoán thuyên tắc phổi, và 3 người không thường trú tại New Zealand.---
Đối với 36 trường hợp hợp lệ, bác sĩ gia
đ́nh được yêu cầu cho xem hồ sơ của BN và của 4 người đối chứng. Có 7 trường hợp
bị thất lạc hồ sơ. Số c̣n lại đều được khẳng định chẩn đoán qua biên bản mổ xác
(26 BN), chụp CT và mạch máu phổi (2 BN), hoặc bằng cách dùng các tiêu chuẩn
chẩn đoán do hai bác sĩ độc lập thực hiện (1 BN). Tuổi trung b́nh của BN là 32
tuổi. Ngày chỉ thị được chọn là ngày khởi phát tai biến gây tử vong.
Đối với mỗi trường hợp chết, có 4 người
chứng được chọn một cách ngẫu nhiên từ nhóm BN của cùng một bác sĩ gia đ́nh.
Những người này có cùng tuổi với BN chết (trừ 5 người chứng có năm sinh kế cận).
Thời gian trung b́nh các trường hợp tử vong và số người chứng được bác sĩ gia
đ́nh theo dơi, theo thứ tự là 8.2 năm và 8.0 năm.

Đang dùng TNT được định nghĩa là được kê toa dùng TNT trong ṿng 3 tháng trước
ngày chỉ thị. Sau khi loại trừ những phụ nữ đến tuổi măn kinh hoặc có tiền sử
TTHKTM, c̣n 65% số trường hợp chết (17/26 BN) và 23% số người chứng (25/111) là
đang dùng TNT phối hợp (xem bảng). Tính tỉ suất nguy cơ OR và khoảng tin cậy 95%
bằng hồi qui lôgistic không điều kiện. V́ số liệu c̣n ít nên các tác giả không
phân tích ghép cặp.
Nếu dùng nhóm không uống TNT làm nhóm đối
chiếu, tỉ suất OR (đă hiệu chỉnh theo tuổi, cân nặng và khu vực hành nghề của
bác sĩ gia đ́nh) đối với tất cả những người đang dùng thuốc là 9.6 (KTC 95%
3.1-29.1). Nếu bỏ những người chứng của các trường hợp bị loại, tỉ suất OR hiệu
chỉnh tăng đến 10.2. Có 2 trường hợp không dùng TNT nhưng có khả năng TTHKTM do
nguyên nhân khác (bất động lâu ngày hoặc mổ lớn); nếu loại 2 trường hợp này và
những người chứng của họ th́ tỉ suất OR lên đến 11.7 (3.5-38.5).
Tuổi trung b́nh của những phụ nữ chết
trong khi đang dùng TNT là 29 tuổi. Có 3 trường hợp lần đầu tiên dùng TNT phối
hợp (thời gian dùng thuốc là 3 tháng, 18 tháng và 40 tháng). Thuốc viên ngừa
thai thế hệ ba có chứa desogestrel (5 tử vong) hoặc gestoden (5 tử vong), là
loại thường được dùng nhất. Có 2 trường hợp dùng TNT chứa cyproteron acetat và
ethinyl-estradiol, và tỉ suất OR đối với 2 người này là 17.6 (2.7-113). Một
nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới cũng thấy một tỉ suất OR cao đến 14.9
(3.7-59.4) đối với sản phẩm này.
Trong thời gian nghiên cứu, số liệu của Bộ
Y Tế New Zealand cho thấy có đến 1.717.153 phụ nữ-năm dùng TNT phối hợp, trong
đó có 18 tử vong. Như vậy, nguy cơ tuyệt đối của tử vong do thuyên tắc phổi vô
căn trên phụ nữ uống TNT phối hợp được ước tính là 10.5 (6.2-16.6) trên một
triệu phụ nữ-năm. Con số ước tính này có lẽ chưa sát v́ một số trường hợp không
c̣n t́m được hồ sơ nơi bác sĩ gia đ́nh, và có trường hợp tử vong không được xác
nhận do nguyên nhân tiềm ẩn là thuyên tắc phổi.-
Tử suất này cao hơn dự kiến v́ xuất độ
hàng năm của TTHKTM trên phụ nữ dùng TNT được ước tính từ 1 đến 2 trường hợp
trên 10000 phụ nữ. Tử vong cao ở phụ nữ New Zealand có lẽ phần nào phản ánh việc
sử dụng rộng răi TNT thế hệ ba, vốn được xem ẩn chứa nguy cơ TTHKTM cao hơn các
thuốc đời cũ. Chết do thuyên tắc phổi tuy hiếm gặp trên phụ nữ dùng TNT nhưng
không được xem là -không đáng kể", không có ư nghĩa lâm sàng và ư nghĩa về sức
khỏe cộng đồng.
Theo Parkin L et al. "Oral
contraceptive and fatal pulmonary embolism". Lancet 2000;335:2133-4 (N.T.)
Xuất độ của rối loạn vận động trong giai đoạn đầu bệnh Parkinson được điều trị
với ropinirol hoặc levodopa
Hiện c̣n có những ư kiến chưa thống nhất
là nên khởi trị bệnh Parkinson bằng levodopa (một tiền chất của dopamin) hay
bằng thuốc chủ vận dopamin có tác dụng kích thích thụ thể dopamin D2. Có ư kiến
cho rằng điều trị bằng levodopa sẽ nhanh chóng giảm nhẹ triệu chứng bệnh, nhưng
dễ xuất hiện những tác dụng độc thần kinh như chứng rối loạn vận động. Do đó, có
tác giả chủ trương nên khởi trị bằng thuốc chủ vận dopamin (ví dụ ropinirol) để
tránh độc tính này. V́ thế một nhóm nhà nghiên cứu, do Oliver Rascol (Đơn vị
dược lư thần kinh, Trung tâm Nghiên cứu Lâm sàng, INSERM, Pháp) đứng đầu, đă
phân tích kết quả xuất độ rối loạn vận động sau 5 năm nghiên cứu.
Đây là một nghiên cứu mù đôi, ngẫu nhiên,
tiền cứu, so sánh tính an toàn và hiệu quả ropinirol - một thuốc chủ vận dopamin
tác độ-g trên thụ thể D2 - với levodopa trong thời gian 5 năm, trên 268 BN mắc
bệnh Parkinson ở giai đoạn đầu. Liều dùng được điều chỉnh hàng tuần, nếu cần
thiết, trên cơ sở tăng liều dần theo 13 mức từ thấp đến cao. Liều thấp nhất khi
khởi trị (mức độ 1) là 0.75 mg/kg/ngày đối với ropinirol và 50 mg/ngày đối với
levodopa. Liều cao nhất (mức độ 13) là 24 mg/ngày đối với ropinirol và 1200
mg/ngày đối với levodopa. Nếu thuốc nghiên cứu không kiểm soát được một cách
thỏa đáng các triệu chứng, BN có thể sẽ được công khaí bổ sung thêm levodopa.
Tiêu chí chính để đánh giá kết quả là sự xuất hiện của chứng rối loạn vận động.
Tổng cộng có 85 BN trong số 179 người ở
nhóm ropinirol (47%) và 45 BN trong số 89 người ở nhóm levodopa (51%) hoàn tất 5
năm nghiên cứu. Trong nhóm ropinirol, có 29 trên 85 BN (34%) không cần phải bổ
sung thêm levodopa. Phân tích thời gian xuất hiện rối loạn vận động cho thấy một
sự khác biệt có ư nghĩa thuận lợi cho nhóm ropinirol (tỉ suất ngẫu nhiên vẫn
không bị rối loạn vận động là 2.82, KTC 95%: 1.78-4.44, P<0.001). Sau 5 năm,
xuất độ dồn của rối loạn vận động (trừ 3 BN đă có rối loạn vận động từ lúc đầu),
bất luận có bổ sung levodopa hay không, là 20% (36 trên 177 BN) ở nhóm
ropinirol, và 45% (40 trên 88 BN) ở nhóm levodopa. Đối với những BN hoàn tất cả
5 năm nghiên cứu, giữa hai nhóm không có sự khác biệt có ư nghĩa về thay đổi
điểm số trung b́nh đối với các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày. Tỉ lệ bỏ
cuộc không tiếp tục tham gia nghiên cứu v́ tác dụng phụ của thuốc là 27%
(48/179) ở nhóm ropinirol và 33% (29/89) ở nhóm levodopa. Liều thuốc trung b́nh
hàng ngày (- độ lệch chuẩn) được sử
dụng khi kết thúc nghiên cứu là 16.5-6.6
mg ropinirol (cộng thêm 427-
221 mg levodopa đối với những BN phải dùng levodopa bổ sung) và 753-398 mg levodopa (kể cả liều
bổ sung).
Các tác giả kết luận rằng bệnh Parkinson
giai đoạn đầu có thể được xử trí một cách hiệu quả đến 5 năm, với một nguy cơ
rối loạn vận động thấp, bằng cách khởi trị đơn thuần bằng ropinirol, và có thể
bổ sung thêm levodopa nếu cần thiết.
Theo Rascol O. et al. A five-year study of the incidence of dyskinesia in
patients with early Parkinson-s disease who were treated with ropinirol or
levodopa.
N
Eng J Med- 2000; 342: 1484-91. (NT)
|