"Bản thảo" bộ gen người đă hoàn tất
Một cột mốc trong lịch sử loài người vừa
được dựng lên vào ngày 26/6/2000 khi các nhà khoa học Mỹ và Anh thông báo đă
hoàn tất "bản thảo" bộ gen người được chờ đợi lâu nay. Tổng thống Mỹ Bill
Clinton, trong một cuộc họp báo tại Washington (Hoa Kỳ) với sự có mặt của
Francis Collins - giám đốc National Human Genome Research Institute, và Craig
Venter - giám đố- công ty Celera Genomics (Rockville, MD, Hoa Kỳ), đă tuyên bố
rằng "đây là bản đồ quan trọng nhất, lư thú nhất mà nhân loại chưa từng làm ra".
Trong một cuộc họp báo tại London, dự án
Human Genome Project (HGP) đă thông báo rằng 97% thành phần bộ gen người đă được
lên bản đồ, trong đó 85% đă được lập tŕnh tự một cách chính xác. Tổng cộng đă
có 24% ở dạng "hoàn tất xong", và hy vọng rằng phiên bản tiêu chuẩn vàng (chính
xác ít nhất là 99.9%) sẽ được hoàn tất vào năm 2002.-----
Thông báo chung của HGP và Celera là một
nỗ lực nhằm chấm dứt những dị nghị của công chúng về những mâu thuẫn giữa hai cơ
quan này (một của nhà nước và một của tư nhân) trong việc lập bản đồ gen. Tổng
thống Clinton nói rằng: "Vào cuối năm nay, các nhóm nghiên cứu công lập và tư
nhân sẽ đồng thời cho công bố số liệu về hệ gen v́ lợi ich của các nhà nghiên
cứu trên toàn thế giới."
Theo Lancet Vol. 356, No 9223 1/7/2000
Tuyến ức nhân tạo có thể sản sinh tế bào T
Các nhà nghiên cứu tại Hoa Kỳ (Mark
Poznansky & Richards Evans) đă chế tạo được tuyến ức nhân tạo có thể sản sinh tế
bào T hiệu quả hơn nhiều so với phương pháp hiện dùng. Họ nói rằng kỹ thuật này
có thể được sử dụng trong tương lai để tạo ra "những cơ quan giống tuyến ức"
được cấy vào cơ thể bệnh nhân để tái tạo hoặc làm biến đổi hệ miễn dịch.
Kỹ thuật hiện nay là cấy tế bào T trên các
phiến mỏng và dùng các cytokin để kích thích chúng tăng trưởng và biệt hóa. Tuy
nhiên, sản lượng của phương pháp này c̣n thấp. Lư luận rằng tế bào T sẽ mọc tốt
hơn trong một môi trường "nhái" cấu trúc ba chiều của tuyến ức, các nhà nghiên
cứu sử dụng một loại vật liệu xốp gọi là CellFoam (thường dùng để tái tạo
xương). Vật liệu này gồm có chất nền là một mạng lưới carbon tế vi được phủ
tantalum, một kim loại có tính tương thích sinh học cao.
Tế bào tuyến ức chuột nhắt được gieo vào
chất nền này. Sau đó, cho thêm các tế bào mầm tạo máu của người vào hệ thống có
thể sản sinh ra những tế bào T trưởng thành với một số lượng lớn trong ṿng 14
ngày. V́ các tế bào bị mắc kẹt trong chất nền nên các nhà nghiên cứu không thể
khảo sát chính xác những ǵ đă xảy ra bên trong tuyến ức nhân tạo. Áp dụng trước
mắt của thành quả này là nghiên cứu sự phát triển tế bào T. Tuy nhiên, hiện
nghiên cứu c̣n được tiếp tục để phát triển một dạng có thể cấy ghép được của
loại tuyến ức nhân tạo này nhằm tái tạo hệ miễn dịch của những đối tượng bị suy
giảm miễn dịch do di truyền hoặc thụ đắc, tạo ra những tế bào T đặc hiệu đối với
các kháng nguyên nhất định, chẳng hạn kháng nguyên của khối u, hoặc để ngăn ngừa
phản ứng thải ghép bằng cách tạo ra sự dung nạp của tế bào T đối với những kháng
nguyên nhất định.
Theo Nat Biotech (2000; 18:729)
Lợi ích của aspirin trên đột quỵ được củng cố
thêm qua kết quả của một nghiên cứu tổng phân tích
Một tổng phân tích kết quả của hai thử
nghiệm lâm sàng dùng aspirin trên đột quỵ do thiếu máu cục bộ cấp đă kết luận
rằng nên xem xét sử dụng ngay aspirin cho mọi bệnh nhân nghi ngờ bị đột quỵ do
thiếu máu cục bộ. Kết quả phối hợp của International Stroke Trial (IST) và
Chinese Acute Stroke Trial (CAST) cho thấy rằng lợi ích của aspirin trên toàn
thế giới đều tương tự nhau và đều phù hợp đối với các loại bệnh nhân khác nhau.
Dùng aspirin dài hạn sau đột qụy do thiếu
máu cục bộ dă được chứng minh là có lợi. Mỗi thử nghiệm IST và CAST được tiến
hành trên 20.000 BN, được thiết kế để t́m hiểu xem dùng aspirin trong ṿng 48
giờ sau đột quỵ liệu có giảm được nguy cơ trước mắt của tái phát hoặc tử vong
hay không. Năm 1997, các thử nghiệm lâm sàng đă báo cáo rằng dùng aspirin sớm là
có lợi (Lancet 1997;349:1569-81 và 1641-49) nhưng vẫn c̣n những nghi ngờ
về tác dụng trên những phân nhóm BN khác nhau. kết quả tổng phân tích mới này đă
giải đáp được vấn đề đó.
Kết quả cho thấy rằng dùng aspirin sớm
giảm xuất độ tái phát đột quỵ từ 2.3% xuống 1.6%, và giảm tử vong từ 5.4% xuống
5.0%, nhưng tăng xuất độ xuất huyết từ 0.8% lên 1.0%, do đó lợi ích chung của
aspirin là 0.9%. Những thay đổi này đều tương tự nhau trên 28 phân nhóm BN được
nghiên cứu (Stroke 2000;31:1240-49).
Peter Sandercock (Edinburgh,
Vương quốc Anh), một tác giả của nhóm nghiên cứu, nói rằng "những kết quả này
cho thấy sau khi BN đă được chụp CT để biết chắc là không phải đột quỵ do xuất
huyết, có thể cho họ dùng ngay aspirin. Đây là một điều trị c̣n có thể dùng tại
các nước đang phát triển, nơi mà vấn đề đột quỵ đang rộ lên, thậm chí khi không
có điều kiện chụp CT scan".
Theo Lancet 2000;355:2053-2060
Phẫu thuật không
giúp được nhiều cho BN có rối loạn cảm xúc về ngoại h́nh
Bệnh nhân có những rối loạn cảm xúc do
khuyết tật thân thể, một t́nh trạng bệnh lư mà BN bị ám ảnh bởi những khuyết tật
của mỉnh, vẫn cảm thấy không hài ḷng về ngoại h́nh của họ sau khi đă được phẫu
thuật tạo h́nh. Đó là kết luận của của David Veale, bác sĩ tham vấn về tâm thần
ở Royal Free and University College of Medical School, London, Vương quốc Anh.
Ông đă thu thập dữ liệu trên 25 BN bị rối loạn cảm xúc do khuyết tật ngoại h́nh,
những BN này khi được khám tâm thần đă báo cáo trước đây đă được giải phẫu thẩm
mỹ. BN được yêu cầu đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 10 về sự hài ḷng của họ
đối với kết quả của mỗi cuộc mổ; sự thay đổi về "thời lượng" dành cho những suy
nghĩ về ngoại h́nh của ḿnh; và những thay đổi về mức độ trở ngại nói chung
trong cuộc sống.
Mức độ hài ḷng có xu hướng cao đối với
phẫu thuật căng da mặt, tạo h́nh vú, và tạo h́nh vành tai; riêng hai phẫu thuật
sau có xu hướng giảm được sự ám ảnh và trở ngại của BN. Veale ghi nhận rằng "đa
số BN có nhiều mối bận tâm khác nhau về ngoại h́nh của họ và cho biết là 50% các
trường hợp sau khi làm thủ thuật th́ sự ám ảnh lại chuyển sang một vùng khác
trên thân thể. Ngay cả khi phẫu thuật đă giải quyết được vấn đề khuyết tật ngoại
h́nh th́ BN "vẫn gặp trở ngại một cách đáng kể" bởi những vấn đề mới được phát
hiện thấy.
Margo Thienemann, một bác sĩ tâm thần trẻ
em và thiếu niên ở Đại học Stanford (CA, Hoa Kỳ), đồng ư với Veale rằng "việc
thực hiện một nghiên cứu tiền cứu, có đối chứng, và được theo dơi dài hạn trên
những đối tượng có rối loạn cảm xúc do ngoại h́nh định phẫu thuật tạo h́nh là
một ư hay". Theo ông, việc điều trị hiện nay là dùng thuốc SSRI, gia tăng dùng
thuốc an thần kinh liều thấp, và các liệu pháp về nhận thức và hành vi; ngoài ra
các bác sĩ phẫu thuật cần tầm soát tâm thần học một cách đúng đắn đối với BN
trước khi mổ.---
Theo Psychiatric Bull- 2000; 24:221-23
Một xét nghiệm mới để phát hiện doping
Các nhà nghiên cứu người Pháp đă phát
triển một xét nghiệm nước tiểu để phát hiện sự hiện diện của erythropoietin nhân
tạo, một thuốc bất hợp pháp dùng tăng cường hiệu suất thi đấu của vận động viên
trong các cuộc tranh tài thể thao. Trong hội nghị thường niên của Hội Y học Thể
thao Hoa Kỳ (Indianapolis, 31/5-3/6/2000), Gary Wadler (Đại học Y khoa New York,
NY, Hoa Kỳ) đă cho rằng công tŕnh này là "rất quan trọng", v́ các báo cáo trong
Hội nghị đă gợi ra rằng việc "doping" máu bằng erythropoietin hiện nay đang tràn
lan tại nhiều nước.
Các vận động viên sử dụng erythropoietin
để kích thích tạo hồng cầu, nhằm tăng cung cấp oxygen cho các mô và tăng hiệu
suất thi đấu trong những cuộc tranh tài cần đến khả năng chịu đựng, như đua xe
dạp đường trường và trượt tuyết việt dă. Cho đến nay, việc phát hiện cũng c̣n là
vấn đề v́ b́nh thường erythropoietin cũng có trong nước tiểu, và việc xét nghiệm
máu chỉ cho thấy sự gia tăng kích thích tạo hồng cầu chứ không thể đổ lỗi cho
việc dùng thuốc.
Hai tác giả của công tŕnh này là Jacques
De Ceaurriz và Francoise Lasne (Pḥng xét nghiệm chống doping, Chatenay-Malabry,
Pháp) đă phát triển một xét nghiệm miễn dịch giúp phân biệt erythropoietin tự
nhiên và nhân tạo. Xét nghiệm này đă phát hiện erythropoietin ngoại sinh một
cách đáng tin cậy trên 102 mẫu nước tiểu đông lạnh được lấy qua cuộc đua xe đạp
Tour de France 1998; 28 mẫu có nồng độ erythropoietin cao hơn b́nh thường và khi
phân tích 14 mẫu có nồng độ cao nhất phát hiện thấy đó là một hormon tái tổ hợp
điển h́nh. Xét nghiệm này có thể được dùng phối hợp với xét nghiệm máu đă được
các nhà nghiên cứu ở Ú- phát triển.
Walder cho rằng: "Việc sử dụng
erythropoietin trên người trẻ tuổi b́nh thường có thể có những hậu quả nghiêm
trọng. Khi dung tích hồng cầu được kích lên đến 50% sẽ giống như t́nh trạng đa
hồng cầu, một chứng bệnh làm máu quánh lại, làm tắc mạch và tăng nguy cơ đột quỵ
và nhồi máu cơ tim. Và khi vận động viên thi đấu trong thời tiết nóng bức, bị
mất nước, th́ độ quánh của máu càng cao hơn. Đó là một mối lo thật sự"
Theo Nature 2000;405:635
Nên mổ lấy thai cho mọi thai phụ bị ung thư
cổ tử cung-
Theo một báo cáo của Anil Sood, Joel
Sorosky và cộng sự (Bệnh viện và Pḥng khám đại học Iowa, IA, Hoa Kỳ), thai phụ
bị ung thư cổ tử cung nên sinh con bằng cách mổ lấy thai. Theo các tác giả, đây
là nghiên cứu đầu tiên chứng minh rằng sinh bằng đường âm đạo làm tăng nguy cơ
tái diễn ung thư cổ tử cung. Ung thư cổ tử cung là bệnh ác tính thường kết hợp
với thai nghén nhất, và đă có nhiều cuộc tranh luận về tính an toàn khi sinh
bằng đường dưới đối với thai phụ có bệnh này. Một số ư kiến gợi ư rằng cổ tử
cung giăn rộng có thể làm tăng nguy cơ lan rộng khối u.
Các tác giả đă thực hiện một nghiên cứu
bệnh-chứng để đánh giá tiên lượng và nguy cơ tái diễn ung thư trên phụ nữ được
chẩn đoán ung thư cổ tử cung trong thai kỳ hoặc trong ṿng 6 tháng sau khi sinh
(trường hợp bệnh). Và trên phụ nữ được chẩn đoán sau khi sinh con ít nhất là 5
năm (đối chứng). Giả định rằng BN được chẩn đoán trong ṿng 6 tháng sau khi sinh
con đă bị bệnh trong khi có thai, nhưng bị bỏ sót không chẩn đoán.
Nhóm nghiên cứu đă tập hợp được 56 phụ nữ
được chẩn đoán ung thư cổ tử cung trong thai kỳ, và 27 người được chẩn đoán
trong ṿng 6 tháng sau khi sinh con, trong thời gian từ 1960 đến 1994. Mỗi
trường hợp bệnh được ghép cặp với một người chứng dựa vào tuổi tác, giai đoạn
bệnh, và điều trị được dùng. Đối với BN được chẩn đoán từ trong thai kỳ, tỉ lệ
sống sót không khác biệt với tỉ lệ ở người chứng, nhưng đối với phụ nữ được chẩn
đoán trong 6 tháng sau khi sinh th́ tỉ lệ này kém hơn một cách có ư nghĩa. Đối
với những BN này, có 1 trên 7 người (14%) được mổ lấy thai bị tái diễn bệnh, so
với 10 trên 17 người (59%) sinh thường. Joel Sorosky cho rằng: "Bằng cách tầm
soát, theo dơi triệu chứng, khám thực thể cổ tử cung và sinh thiết, có thể ngăn
chặn được phần lớn các trường hợp bệnh."--
Theo Obstet Gynecol 2000;95:832-38
Nồng độ neurokinin-B bất thường có thể gây
tiền sản giật
Một bài báo được đăng trên tạp chí
Nature
trong số cuối tháng 6/2000 cho rằng sự chế tiết thừa neurokinin-B (NKB) ở bánh
nhau trong ba tháng cuối thai kỳ sẽ gây tiền sản giật. Nhưng BS James Robert
(Đai học Pittsburgh, PA, Hoa Kỳ) cho rằng "tuy nghiên cứu đă cung cấp một số
hướng dẫn hữu ích cho những nghiên cứu trong tương lai, nhưng kết quả của nó
không chứng minh mối quan hệ nhân-quả ẩn dụ trong tựa bài báo".
Nigel Page (Đại học Reading, Vương quốc
Anh) và cộng sự đă dùng mRNA đánh dấu để theo dơi các neuropeptid vận mạch ở
bánh nhau, và phát hiện một gen có tŕnh tự tương tự với tiề- chất NKB của ḅ.
Nhân ḍng vô tính (cloning) gen này đă giúp định danh được nó, và các nghiên cứu
lai in situ đă định vị được mRNA của NKB trên nhau thai người đủ tháng ở
lớp hợp dưỡng bào phía ngoài.
Trong nghiên cứu này, nồng độ NKB huyết
tương của 30 thai phụ đủ tháng, b́nh áp đều dưới 1 nmol/L (đa số là dưới 200
pmol/L), trong khi ở 8 thai phụ bị tiền sản giật lại là 1-7 nmol/L. Tiêm truyền
tĩnh mach cho chuột với NKB nồng độ cao thấy tăng huyết áp thoáng qua, nhưng có
ư nghĩa. Philip Lowry, một đồng tác giả nghiên cứu, nhận định rằng khi nhau được
cấp máu dưới mức tối ưu sẽ kích thích phóng thích NKB. Ông giải thích rằng
"neuropeptid tác động trên thụ thể ưu tiên của nó là NK3 theo một cơ chế hồi tác
khiến các cơ quan khác chia bớt máu cho nhau thai và tử cung. Nếu điều chỉnh
chưa đủ, NKB tiếp tục được phân tiết và có thể tăng đến mức tác động lên các thụ
thể NK1 và NK2. Sự kích thích những thụ thể đó trên các mô khác, bao gồm cả hệ
thần kinh trung ương, có thể dẫn đến hàng loạt triệu chứng được gọi là tiền sản
giật". Ông gợi ư rằng có thể dùng nồng độ NKB để chẩn đoán tiền sản giật, hoặc
giả dùng các chất đối kháng thụ thể neurokinin để ngăn ngừa hoặc điều trị t́nh
trạng này sẽ "không có cơ sở và nguy hiểm". Lowry cho biết ông đă đồng ư hợp tác
với năm trung tâm lớn về tiền sản giật ở Anh để "theo dơi một số lượng lớn thai
phụ trong suốt thai kỳ nhằm có thể chứng minh rằng NKB chỉ tăng ở những phụ nữ
sau đó sẽ bị tiền giản giật."
Theo Nature 2000;405:797-800 (N.T.).
Kỹ thuật không xâm lấn khảo sát tim bị bệnh
Các tác giả Thụy Sĩ và Hoa Kỳ vừa báo cáo
rằng có thể dùng kỹ thuật chẩn đoán h́nh ảnh cộng hưởng từ đối pha (PC-MRI) để
đánh giá huyết động học toàn bộ mạch vành. Theo người đứng đầu nghiên cứu, Jurg
Schwitter (Bệnh viện Đại học Zurich, Thụy Sĩ), kỹ thuật này là một công cụ
nghiên cứu có giá trị trong việc phát triển thuốc mới để dự pḥng bệnh tim mạch
vành.
Gần đây, việc đo dự trữ lưu lượng mạch
vành ở tim b́nh thường và tim có bệnh ngày càng được quan tâm. Kỹ thuật chụp cắt
lớp với positron phát xạ (PET) là một cách đo dự trữ lưu lượng này, nhưng v́ cần
đến chất đánh dấu phóng xạ nên PET không phải là phương pháp lư tưởng để đo theo
dơi hàng loạt. Tuy vậy, hiện nay PC-MRI cho phép đo lưu lượng máu một cách hoàn
toàn không xâm lấn.
Các tác giả đă khảo sát lưu lượng
vành trên 16 nam giới t́nh nguyện khỏe mạnh- bằng cách dùng PC-MRI và PET lúc
nghỉ và sau khi gây tăng sung huyết bằng dipyridamole. Kết quả của hai kỹ thuật
này hoàn toàn phù hợp với nhau.
PC-MRI chỉ có thể đo được lưu lượng của
toàn bộ tim chứ không đo được những thay đổi lưu lượng theo từng vùng, và đối
với BN có bệnh tim, Schwitter cho rằng "có những kỹ thuật chẩn đoán h́nh ảnh
chính xác hơn để xác định vị trí nghẽn tắc trên động mạch vành tim". Tuy vậy,
PC-MRI vẫn là phương pháp lư tưởng để khảo sát huyết động học mạch vành trong
những bệnh như cao huyết áp hoặc bệnh cơ tim. So với các kỹ thuật khác, PC-MRI
cho một h́nh ảnh đầy đủ hơn về hoạt động tuần hoàn ở mạch vành, nên - theo tác
giả - có thể dùng để t́m hiểu những thay đổi sớm xảy ra trong bệnh tim mạch
vành.
Theo Circulation 2000;101:2696-702
Dự pḥng cấp một đối với bệnh tim mạch vành ở phụ nữ thông qua chế độ ăn và
lối sống
Các yếu tố hành vi nguy cơ ảnh hưởng đến
bệnh tim mạch vành đă được nói đến nhiều và thường được khảo sát riêng lẻ. Thật
ra, những yếu tố này có tương quan với nhau, v́ người ta thường có những lối
sống nhất định. Chính v́ thế, các tác giả ở Đại học Y khoa và Trường Y tế Công
cộng Havard đă nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng tổng hợp của lối sống trên nguy cơ
bệnh tim mạch vành. Đặc biệt, nghiên cứu này c̣n ước tính tỉ lệ các tai biến
mạch vành có thể pḥng ngừa được bằng cách tuân thủ một loạt các hướng dẫn tiết
thực và cách sống.
Các tác giả đă theo dơi 84129 phụ nữ, từ
18 đến 55 tuổi, tham gia nghiên cứu Nurses- Health Study mà lúc mới đầu (1980)
không có bệnh tim mạch, ung thư và tiểu đường. Những thông tin về chế độ ăn và
lối sống được cập nhật định kỳ bằng các bản câu hỏi. Qua 14 năm theo dơi, đă ghi
nhận được 1128 tai biến lớn về mạch vành (296 tử vong do bệnh mạch vành và 832
trường hợp nhồi máu không tử vong). Những đối tượng được xem là có nguy cơ thấp
là những người hiện không hút thuốc; có chỉ số thân khối (cân nặng cơ thể tính
bằng kg chia cho b́nh phương chiều cao tính bằng mét) dưới 25; b́nh quân mỗi
ngày uống ít nhất là nửa ly rượu (-
5 g cồn, không có giới hạn trên v́ hầu hết so đối tượng không nghiện rượu nặng);
có hoạt động thể lực từ mức vừa phải đến gắng sức (có thể gồm cả đi rảo bước
-
5 km/giờ), b́nh quân mỗi ngày ít nhất là nửa giờ; và có chế độ ăn giàu chất sợi
ngũ cốc, acid béo hải sản, và folate, vớ- tỉ lệ cao chất béo không no so với
chất béo no, và ít chất béo dạng trans và glycogen. Riêng các yếu tố thuộc chế
độ ăn của thuần tập này được chia thành 5 ngũ phân vị và cho điểm (từ 1 đến 5),
điểm càng cao th́ nguy cơ càng thấp.
Kết quả theo dơi cho thấy nhiều yếu tố có
tương quan với nhau, nhưng mỗi một yếu tố đều tiên đoán nguy cơ một cách độc lập
và có ư nghĩa, ngay cả sau khi đă hiệu chỉnh với tuổi, tiền căn gia đ́nh, có
hoặc không có cao huyết áp hay tăng nồng độ cholesterol-máu và t́nh trạng măn
kinh. Những phụ nữ thuộc loại nguy cơ thấp (chiếm 3 % dân số nghiên cứu) có nguy
cơ tương đối của tai biến mạch vành là 0.17 (KTC 95% = 0.07-6.41), so với tất cả
những phụ nữ khác. Trong thuần tập nghiên cứu, có 82% (KTC 95% = 58-93) các
trường hợp tai biến mạch vành có thể được qui cho lối sống không tuân thủ các
yếu tố nguy cơ thấp nói trên.
Với kết quả đó, các tác giả kết luận rằng
đối với phụ nữ, việc tuân thủ những hướng dẫn về lối sống liên quan đến chế độ
tiết thực, vận động và kiêng hút thuốc, đi kèm với một nguy cơ rất thấp về bệnh
tim mạch vành.
Theo Stampfer M.J. et al. Primary prevention of coronary heart disease in women
through diet and lifestyle. N Eng J Med- 2000; 343: 16-22. (NT)