ĐẶT VẤN ĐỀ
Thở áp lực dương liên tục (ALDLT) là kiểu
thở hỗ trợ bệnh nhi suy hô hấp c̣n tự thở, bằng cách duy tŕ đường thở có áp lực
dương liên tục suốt chu kỳ thở.
Năm 1971, Gregory và CS dùng ALDLT qua nội
khí quản để điều trị những bệnh nhi bị hội chứng suy hô hấp cấp, kết quả đă cải
thiện được tỷ lệ tử vong, giảm tỷ lệ cần thở máy. Sau đó, nhiều tác giả nghiên
cứu và thực hiện phương cách thở ALDLT không xâm lấn, không qua đường nội khí
quản như qua mũi, qua mặt nạ (mask).(1,2)
Hệ thống thở áp lực dương liên tục qua mũi (Nasal continuous positive airway
pressure) với van Benveniste gồm nguồn khí, b́nh làm ấm, ẩm và hệ thống dây dẫn,
ống thông (sonde) hai mũi cỡ nhỏ.(1,2)
Bệnh cảnh suy hô hấp là một bệnh cảnh
nặng, thường gặp trong hồi sức cấp cứu Nhi khoa.
Trong điều trị suy hô hấp, hỗ trợ hô hấp
chủ yếu qua cung cấp oxygen qua mũi hoặc giúp thở bằng máy hoặc bóp bóng. Các
phương pháp giúp thở đều cần đặt nội khí quản, là một công việc thực hiện khó
khăn ở những bệnh nhi c̣n tỉnh và có các nguy cơ nhiễm trùng, tắc ống nội khí
quản, chảy máu. C̣n cung cấp oxygen qua mũi có một tỷ lệ thất bại nhất định.
Từ năm 1997, Khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa
Tiền Giang được trang bị hệ thống thở áp lực dương liên tục qua mũi. Đây là một
phương pháp hỗ trợ hô hấp trung gian giữa cách cung cấp oxygen thông thường và
giúp thở, không xâm lấn, rất đơn giản và dễ thực hiện trong điều trị suy hô hấp.
Đề tài nầy nghiên cứu các trường hợp suy
hô hấp được thở ALDLT qua mũi tại Khoa Nhi - Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang trong
năm 1999, nhằm nêu lên một số nhận xét sơ bộ về chỉ định và đánh giá hiệu quả
điều trị của phương pháp này.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1/ Thiết kế: Đây là một thử nghiệm
lâm sàng thuộc loại nhóm thời gian.
2/ Đối tượng:
a) Tiêu chuẩn thu nhận: Được thu
nhận vào nghiên cứu, tất cả các bệnh nhi nhập Khoa Nhi - Bệnh viện Đa khoa Tiền
Giang trong năm 1999:
- Tuổi: <15 tuổi
- Có bệnh cảnh suy hô hấp trên lâm sàng
như tím tái, thở nhanh, co lơm ngực, và/hoặc đo độ bảo ḥa oxygen (SaO2)
trong máu <90% sau khi được thở oxygen qua mũi ở liều 3-6 lít/phút trong một
thời gian từ 5 đến 10 phút.
b) Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhi bị
suy hô hấp nặng trong trường hợp có tràn khí- màng phổi chưa dẫn lưu, hoặc đang
bị sốc giảm thể tích.
3) Thu thập số liệu:
a) Phương pháp tác động:
- Thông số ban đầu của thở ALDLT: Áp lực P
= 3 - 4 cmH2O, tỷ lệ oxygen trong khí hít vào là FiO2 = 40
- 60%. Nếu bệnh nhi tím tái nhiều, SaO2 giảm nhiều th́ bắt đầu với
FiO2 = 100% để nhanh chóng đưa bệnh ra khỏi t́nh trạng suy hô hấp
nặng, theo dơi sát lâm sàng và SaO2 để giảm FiO2
dần.
b) Theo dơi các dấu hiệu: Tri
giác, nhịp thở, nhịp tim, mạch, thân nhiệt, màu sắc da, SaO2, đo khí
trong máu. Lúc bắt đầu thở theo dơi mỗi 30 phút đến 1 giờ /lần , lúc ổn định ít
nhất mỗi 2 giờ/lần.
Do điều kiện chi phí thử khí máu cao, dụng
cụ để lấy máu gởi đi thử c̣n hạn chế, nên các bệnh nhi trong lô nghiên cứu chỉ
được thử khí máu ít nhất 2 lần trước và sau khi thở ALDLT qua mũi. Trong lúc
điều trị, bệnh nhi được theo dơi sát các dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt là đo SaO2.
Nếu t́nh trạng bệnh nhi diễn tiến tốt, tiếp tục hỗ trợ hô hấp. Những trường hợp
diễn tiến không tốt, t́nh trạng cải thiện chậm, mới thử khí máu lần 3, lần 4. để
theo dơi cho đến khi t́nh trạng bệnh nhi ổn định.
c) Đánh giá điều trị:
- Thành công với thở ALDLT qua mũi: Sau
một thời gian thở ALDLT qua mũi, t́nh trạng được cải thiện, bệnh nhi được tiếp
tục thở ALDLT. Khi t́nh trạng bệnh nhi ổn định, áp lực P giảm dần c̣n 3 cmH2O,
FiO2 -
30% th́ ngưng thở ALDLT qua mũi, hoặc chuyển sang thở oxygen qua mũi một thời
gian.
- Thất bại với thở ALDLT qua mũi: Bệnh
diễn tiến nặng hơn, tím tái, SaO2 <90% hoặc bệnh nhi ngưng thở với P
>6cm H2O và FiO2 > 60%, bệnh nhi được chuyển sang đặt ống
thông nội khí quản, và thở máy.
4/ Phân tích số liệu:
So sánh các trung b́nh bằng t-test. Giá
trị p
- 0,05 được xem là có ư nghĩa thống kê.
KẾT QUả
1- Đặc điểm bệnh nhi
Trong nghiên cứu này chọn được 36
bệnh nhi suy hô hấp với chỉ định thở ALDLT qua mũi có theo dơi và thực hiện đáp
ứng yêu cầu nghiên cứu, gồm 19 nam và 17 nữ.
Bảng 1: Đặc điểm bệnh nhi trước khi điều trị-
|
Tuổi
|
Số bệnh nhi
|
|
< 2
tháng tuổi
|
22
|
|
> 2
tháng tuổi - 1 tuổi
|
7
|
|
> 1 tuổi
- 5 tuổi
|
5
|
|
> 5 tuổi
- 15 tuổi
|
2
|
|
Chỉ
định thở ALDLT qua mũi
|
|
|
- Viêm
phổi nặng
|
20
|
|
- Sơ
sinh non tháng
|
5
|
|
- Sanh
ngạt
|
2
|
|
- Viêm
phổi do hít sau sanh
|
1
|
|
- Nhiễm
trùng huyết sơ sinh
|
2
|
|
- Phù
năo/ té mương
|
3
|
|
- Sốt
xuất huyết III - IV đă bù dịch
|
3
|
2 - Thời gian thở ALDLT qua mũi:
+ Trung b́nh: 57,6 giờ (từ 3 giờ đến 7
ngày).
+ P = 4,1
- 0,8 cmH2O;
FiO2 = 59,26% (34 - 100%).
3- Kết quả thở ALDLT qua mũi:
--------- Bảng 2: Kết quả nhịp thở, mạch và khí máu trước
và sau thở ALDLT qua mũi
|
|
Trước
|
Sau
|
P
|
|
|
|
1 giờ
|
3 giờ
|
6 giờ
|
12 g
|
24 g
|
|
|
Nhịp thở
|
58,6
|
56,8
|
54,3
|
52,8
|
49,8
|
45,2
|
<0,05
|
|
Mạch
|
146,7
|
138,7
|
136,1
|
136,2
|
120
|
116,2
|
<0,05
|
|
SaO2
|
82,5
|
92,7
|
97,0
|
97,5
|
97,6
|
98,5
|
<0,01
|
|
pH
|
7,37 - 1,1
|
7,41 -0,09
|
|
|
|
|
>0,05
|
|
PaO2
|
58,2 - 4,2
|
97,2 -2,6
|
|
|
|
|
<0,01
|
|
PaCO2
|
32,3 - 6,0
|
30,5 -5,6
|
|
|
|
|
>0,05
|
|
HCO3-
|
16,2 - 4,6
|
15,1 -4,8
|
|
|
|
|
>0,05
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Nhịp thở và mạch được cải thiện rơ sau
12 giờ thở ALDLT qua mũi (P <0,05).
- Có sự cải thiện rơ rệt về t́nh trạng oxy
hóa máu sau 1 giờ thở ALDLT qua mũi, SaO2 tăng từ 82,5% lên 92,7% (P
< 0,01).
- Sau một giờ thở ALDLT qua mũi, có 80,5%
các bệnh nhi được cải thiện t́nh trạng hô hấp và SaO2, PaO2
trở về b́nh thường, tuy nhiên pH, PaCO2, HCO3-
trong máu chưa có thay đổi khác biệt có ư nghĩa thống kê. Tỷ lệ thành công là
80,5%, khoảng tin cậy 95%: 64-92 (%).
4) Biến chứng:
- Một trường hợp chướng bụng, nôn ói do
khí vào trong dạ dày nhiều, được xử trí bằng cách đặt ống thông vào dạ dày để
hút hơi, sau đó hết chướng bụng.
- Một trường hợp phù mặt do cố định quá
chặt.
Bảng 3: Kết quả điều trị
|
|
Số bệnh nhi
|
Thành công
|
|
- Viêm phổi nặng
|
20
|
16
|
|
- Sanh non tháng
|
5
|
4
|
|
- Sanh ngạt
|
3
|
2
|
|
- Nhiễm trùng huyết sơ sinh
|
2
|
1
|
|
- Phù năo/- té mương
|
3
|
3
|
|
- SXH III - IV
|
3
|
3
|
5) Thất bại:
Có 7 bệnh nhi (19,5%) thất bại với thở
ALDLT nên được chuyển sang đặt nội khí quản và giúp thở bằng máy. Trong đó có 3
trường hợp diễn tiến nặng, 1 trường hợp tử vong, 2 trường hợp nặng xin về, 2
trường hợp được chuyển viện, và 2 trường hợp sau một thời gian giúp thở đă cải
thiện t́nh trạng suy hô hấp, được chuyển sang thở ALDLT qua mũi, sau đó t́nh
trạng bệnh nhi ổn định.
BÀN LUẬN:
1/- Cỡ mẫu: Hằng năm tại Khoa Nhi -
Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang, có khoảng 150 - 200 trường hợp suy hô hấp cần được
hỗ trợ hô hấp. Tuy nhiên, do có một khoảng thời gian trong năm, máy đo khí trong
máu và máy đo độ bảo ḥa oxygen bị hư, nên trong lô nghiên cứu chọn được 36
trường hợp thở ALDLT qua mũi có thử khí máu đầy đủ như tŕnh bày ở bảng 2. Cỡ
mẫu c̣n nhỏ có thể làm ảnh hưởng đến việc đánh giá kết quả, tuy nhiên những dữ
liệu ban đầu sẽ định hướng đề tài này trong tương lai.
2) Tuổi: 61% bệnh nhi ở lứa tuổi <
2 tháng. Bởi lẽ, bệnh cảnh suy hô hấp là bệnh thường gặp ở trẻ sơ sinh nếu kết
hợp với yếu tố nguy cơ như sinh non tháng, sanh ngạt, sanh mổ, hít phân su, cơ
địa người mẹ... và bản thân trẻ sơ sinh chưa đủ điều kiện thích nghi với cuộc
sống bên ngoài tử cung.
3/ Biểu hiện lâm sàng trước khi
thở ALDLT qua mũi, cho thấy bệnh nhi trong t́nh trạng suy hô hấp. Trước đây, khi
chưa có hệ thống thở ALDLT qua mũi, th́ các bệnh nhi nầy sẽ nặng dần và thường
được chỉ định đặt nội khí quản để giúp thở.(3,4) Nay nhờ có hệ thống
thở ALDLT qua mũi, nên 80,5% bệnh nhi trong nghiên cứu này tránh được giúp thở
qua nội khí quản và đồng thời tránh được một số tai biến chứng thường gặp của
phương pháp giúp thở xâm lấn như nhiễm trùng, chảy máu.
4/ Trong 36 trường hợp, nguyên nhân gây
suy hô hấp là viêm phổi nặng sơ sinh chiếm 20 trường hợp (55,5%). Kết hợp với
kháng sinh liệu pháp, phương pháp thở ALDLT qua mũi giúp điều trị thành công suy
hô hấp do viêm phổi sơ sinh 80%.
Tỷ lệ thành công chung trong nghiên cứu
này là 80,5%, với khoảng tin cậy 95%: 64 đến 92. Do cỡ mẫu nghiên cứu tương đối
nhỏ nên biên độ của tỷ lệ này rộng. V́ vậy cần có những nghiên cứu lớn hơn nữa
để -đánh giá đầy đủ và chính xác hiệu quả phương pháp thở ALDLT qua mũi. Trong
nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thoa(5) trên 21 trẻ sơ sinh suy hô hấp,
có 61,9% điều trị thành công với thở ALDLT qua mũi. Bassiouny-MR(6)
nghiên cứu trên 44 trẻ sinh non tháng bị suy hô hấp được thở ALDLT qua mũi có tỷ
lệ thành công là 61%.
Hiện nay, việc chọn lựa phương
pháp hỗ trợ hô hấp giữa thở máy và thở ALDLT qua mũi ở trẻ sơ sinh c̣n nhiều bàn
căi.(7-9)
Đặc biệt ở vùng Scandinavia và nhiều vùng khác trên thế giới, có truyền thống
ban đầu sử dụng phương pháp thở ALDLT qua mũi, trong khi đó ở các trung tâm châu
Âu và Bắc Mỹ -lại ưa dùng sớm đặt ống thông nội khí quản và thở máy. Một nghiên
cứu đa trung tâm ở Đan Mạch và Thủy Điển,(10) cho thấy những trẻ sơ
sinh suy hô hấp được điều trị hỗ trợ hô hấp bằng thở ALDLT qua mũi nếu được dùng
thêm một liều duy nhất surfactant (Curosurf, 200 mg cho mỗi kilogram cân nặng)
sẽ giảm nhu cầu thở máy sau đó.
KẾT LUẬN:
Thở ALDLT qua mũi là một phương pháp hỗ
trợ hô hấp không xâm lấn, đơn giản, dễ sử dụng, ít biến chứng và có thể giúp
bệnh nhi tránh phải đặt ống thông nội khí quản và thở máy khi chưa thật sự cần
thiết trong điều trị suy hô hấp. Tuy nhiên, cần nhiều nghiên cứu trên mẫu lớn
hơn nữa để có những chỉ định chính xác và thích hợp.
TÓM TẮT
36 trường hợp bị suy hô hấp nặng (19 nam
và 17 nữ) được nghiên cứu nhằm đánh giá ban đầu về hiệu quả phương pháp thở áp
lực dương liên tục qua mũi trong điều trị suy hô hấp do nhiều nguyên nhân khác
nhau như: viêm phổi nặng (20 trường hợp), sanh non (5), sanh ngạt (3), nhiễm
trùng huyết sơ sinh (2), phù năo (3), sốc sốt xuất huyết. Sau khi thở ALDLT,
t́nh trạng hô hấp được cải thiện: nhịp thở giảm (p<0,05), mạch giảm (p<0,05) sau
12 giờ thở, SaO2 tăng sau một giờ áp dụng. Tỷ lệ thành công là 80,5%
(95% khoảng tin cậy: 64-92). Có 2 trường hợp bị biến chứng: một trường hợp
chướng bụng, và một phù mặt (tỷ lệ biến chứng 5,5%).
Phương pháp hỗ trợ hô hấp này giúp giảm
nhu cầu thở máy trong -điều trị suy hô hấp ở trẻ em. Tuy nhiên cần có những
nghiên cứu rộng lớn hơn để đánh giá đầy đủ hiệu quả trên.
SUMMARY
Preliminary assessement of the nasal continuous positive
airway pressure efficacy in children
To evaluate the effect of nasal continuous
positive airway pressure (CPAP) on pediatric patients with severe respiratory
failure, 36 patients were studied. The results showed that nasal CPAP reduces
significantly respiratory rate and pulse rate after 12 hour of application
(p<0.05). SaO2, PaO2 increased significantly after one
hour of nasal CPAP (p<0.05). The success rate was 80.5%. Two cases of
complication were noted: one with facial edema and abdominal distention in the
other.
Nasal-CPAP is safe and simple. This method
reduces the need for subsequent mechanical ventilation in children with
respiratory failure, but further studies are needed to confirm these results.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Bạch Văn Cam - Thở áp lực dương liên tục qua mũi. Xử trí cấp cứu nhi,
trang 15, 1998.
2.
Vơ Công Đồng - Thở áp lực dương liên tục qua mũi. Tài liệu thực tập cấp
cứu, trang 17.
3.
Tạ Thị Ánh Hoa - Rối loạn trao đổi khí trong suy hô hấp, Nhi Khoa sau Đại
học, tập 2, trang 746 - 758, 1997.
4.
Vơ Công Đồng - Điều trị bằng Oxygen, Nhi Khoa sau Đại học, tập 1, trang-
184 - 209, 1995.
5.
Nguyễn Thị Kim Thoa - Thở áp lực dương liên tục qua mũi trong điều trị
suy hô hấp sơ sinh. Công tŕnh nghiên cứu Nhi khoa, trang 73, Hội nghị Nội Nhi
Khu vực phía Nam, 12/1998.
6.
Bassiouny-MR; Gupta-A; el-Bualy-M. Nasal continuous positive airway
pressure in the treatment of respiratory distress syndrome: an experience from a
developing country. J-Trop-Pediatr. 1994 Dec; 40(6): 341-4
7.
Lundstrom-KE. Initial treatment of preterm infants--continuous positive
airway pressure or ventilation- Eur-J-Pediatr. 1996 Aug; 155 Suppl 2: S25-9
(Medline)
8.
Thomas B. Rice. Adult Respiratory Distress Syndrome. In Nelson textbook
of pediatrics, 1996 by W.B. Saunders company
9.
Marin H. Kollef, Daniel P. Schuster: The Acute Respiratory Distress
Syndrome, N. Engl J Med, 1995, 332.
10.
Verder-H; Robertson-B; Greisen-G; Ebbesen-F; Albertsen-P; Lundstrom-K;
Jacobsen-T. Surfactant therapy and nasal continuous positive airway pressure for
newborns with respiratory distress syndrome. Danish-Swedish Multicenter Study
Group. N-Engl-J-Med. 1994 Oct 20; 331(16): 1051-5. (Medline)