Đặt vấn đề:
Trong nhiều năm qua, bệnh mạch
vành được chia thành những thể lâm sàng chính như cơn đau thắt ngực ổn định, cơn
đau thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim. Ngoài ra c̣n có thể bệnh đặc
biệt hơn là cơn đau thắt ngực biến thể Prinzenzymtal và hội chứng X hay thiếu
máu cơ tim vi mạch (microvascular ischemia). Trong đó, cơn đau thắt ngực không
ổn định là t́nh trạng trung gian giữa cơn đau thắt ngực ổn định và nhồi máu cơ
tim. Trong thời gian gần đây, với nhiều- tiến bộ trong chẩn- đoán và điều trị
bệnh mạch vành, một số xét nghiệm sinh học đặc biệt là troponin, đă cho thấy
rằng trong số những bệnh
nhân (BN) được chẩn đoán
cơn đau thắt ngực không ổn định (ĐTNKOĐ) cũng có gia tăng troponin- tức có t́nh
trạng hoại tử cơ tim. Có sự gia tăng nguy cơ tử vong ở những người ĐTNKOĐ có
tăng troponin hay c̣n gọi là nhồi máu cơ tim không ST chênh lên hoặc không sóng
Q. Nguy cơ biến cố tim mạch (tử vong và tái nhồi máu) ở những BN nhồi máu cơ tim
không sóng Q (tăng troponin và bất thường ĐTĐ) tương tự như những BN có nhồi máu
cơ tim với ST chênh lên có sóng Q trên ĐTĐ.(1,2) Do nguy cơ tử vong,
và sự cần thiết điều trị tích cực nên ngày nay người ta xem t́nh trạng này là
hội chứng động mạch vành cấp (HC ĐMVC). Trong hội chứng này, theo một số tác giả
không bao gồm nhồi máu cơ tim cấp (NMCTC) với ST chênh lên, có lẽ v́ sinh lư
bệnh và việc xử trí có một vài điểm khác biệt.
Sinh lư bệnh của hội chứng động mạch vành cấp
Ở những BN có nguy cơ cao bệnh mạch vành
(tăng cholesterol máu, cao huyết áp, tiểu đường.), th́ các yếu tố nguy cơ này
làm tổn thương tế bào nội mô và khởi phát quá tŕnh xơ vữa. Sau đó các đại thực
bào gắn vào các phân tử kết dính của tế bào nội mô và tiêu hóa LDL và trở thành
tế bào foam. Các tế bào này là thành phần quan trọng trong mảng xơ vữa chứa đầy
lipid.(3) Sau khi mảng xơ vữa vỡ ra hoặc bị ăn ṃn, một lớp tiểu cầu
bao phủ lên bề mặt mảng vỡ (bám tiểu cầu). Nhiều tiểu cầu tụ tập thêm vào (kết
dính tiểu cầu) và trở nên hoạt hoá. Các tiểu cầu nối kết fibrinogen và hệ thống
đông máu hoạt hóa hơn nữa bởi sản sinh thrombin và tạo huyết khối.(4)
Nếu tắc nghẽn mạch hoàn toàn xảy ra th́ nhồi máu cơ tim có sóng Q sẽ tiến triển,
thường biểu hiện ST chênh lên. Nếu nghẽn mạch không hoàn toàn (tức chỉ giới hạn
ḍng chảy) th́ nhồi máu cơ tim không sóng Q hoặc cơn đau thắt ngực không ổn định
tiến triển và biểu hiện lâm sàng có thể kèm thay đổi ST-T [chênh xuống, sóng
T(-)] có thể gia tăng enzym tim. Mức độ nặng của HC ĐMVC phụ thuộc vào số lựợng
lipid trong mảng xơ vữa và độ dày của màng tơ huyết.(5)
Chẩn đoán
A. Đau ngực: Sau đây là một số triệu
chứng lâm sàng kinh điển, trên thực hành lâm sàng có thể gặp những triệu chứng
không điển h́nh:
1. Cơn đau ngực khi gắng sức mức độ vừa
đến nặng- mới khởi phát, đặc biệt kèm theo triệu chứng xảy ra lúc nghỉ.
2. Gia tăng- đau ngực so với các- cơn đau
thắt ngực ổn định trước đây (gia tăng số lần đau trong ngày, mức độ đau, kéo dài
khoảng thời gian đau (hoặc triệu chứng tương đương), cơn đau thắt ngực thường
xảy ra ban đêm và lúc nghỉ, ít đáp ứng với điều trị nội khoa.
3. Kéo dài khoảng thời gian đau thắt ngực
lúc nghỉ (kéo dài hơn 15 phút), không giảm khi sử dụng nitro-glycerin.
B. Điện tâm đồ (ĐTĐ): ĐTĐ là phương
tiện khách quan quan trọng nhất trong đánh giá BN nghi ngờ HC ĐMVC. ĐTĐ là xét
nghiệm đầu tiên tốt nhất v́ rẻ tiền, dễ có được, và nhanh chóng giúp thầy thuốc
lâm sàng quyết định ngay. Giới hạn của ĐTĐ là độ nhạy cảm thấp khi chỉ có 40-50%
BN nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên ở ĐTĐ lần đo đầu tiên.(6,7) ST
chênh lên và blốc nhánh trái mới xuất hiện trên ĐTĐ là dấu hiệu khá chắc chắn
trong chẩn đoán nhồi máu cơ tim v́ gần 95% các dấu hiệu này là nhồi máu cơ tim
thật sự. Trong khi đó, ST chênh xuống và sóng T(-) là không đặc hiệu và có dưới
15% tiến triển thành nhồi máu cơ tim không sóng Q và 20% là cơn đau thắt ngực
không ổn định, số c̣n lại là cơn đau thắt ngực ổn định hoặc không liên quan bệnh
lư tim mạch.(8) Những BN bị tắc nghẽn cấp nhánh mũ của ĐMV có thể
không thay đổi hoặc chỉ có ST chênh lên nhẹ ở các chuyển đạo vùng dưới và h́nh
ảnh soi gương với T hướng lên ở các chuyển đạo vùng trước.(3) ĐTĐ 12
chuyển đạo chuẩn thường khó phát hiện các thay đổi khi nhồi máu cơ tim thất phải
và vùng sau (posterior infarction). Do đó có thể sử dụng bổ sung các chuyển đạo
bên phải (V3R, V4R, V5R) và chuyển đạo vùng sau (V7, V8, V9) trong khi đo ĐTĐ
nhằm cải thiện độ nhạy cảm và độ đặc hiệu của ĐTĐ lúc nghỉ.(7,9,10)
C. Các chỉ điểm sinh học về hoại tử cơ tim:
Tế bào cơ tim giải phóng ra nhiều enzym và các thành phần tế bào khác vào trong
tuần hoàn khi hoại tử cơ tim xảy ra. Trước đây, SGOT và SGPT, LDH đă từng được
sử dụng như là những enzym không đặc hiệu cho cơ tim trong chẩn đoán NMCT. Ngày
nay, những enzym không đặc hiệu này được thay thế bởi các chỉ điểm nhạy cảm hơn.
Hiện nay, CK-MB, troponin I và T là những chỉ điểm đặc hiệu và nhạy cảm nhất
trong chẩn đoán NMCT. Tuy nhiên, gia tăng các chỉ điểm này cũng có thể gặp ở suy
tim, viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim và suy thận. Myoglobin được sử dụng nhằm
phát hiện sớm nhồi máu cơ tim bởi v́ nồng độ myoglobin gia tăng có thể phát hiện
trong ṿng 1-2 giờ sau khi bắt đầu có hoại tử cơ tim. Do myoglobin không đặc
hiệu cho cơ tim, cho nên cần phối hợp với các chỉ điểm đặc hiệu khác trong chẩn
đoán NMCT. Các chỉ điểm cho hoại tử cơ tim cần thực hiện vào lúc nhập viện và
khoảng các 6-8 giờ sau cho các BN đau ngực cấp có nghi ngờ HC ĐMVC.
1/
CK-MB: Ở BN NMCT, nồng độ CK-MB trong huyết
tương tăng lên trong ṿng 3-12 giờ sau khi khởi phát đau ngực, đạt đến nồng độ
đỉnh trong ṿng 24 giờ và sau đó trở về giá trị ban đầu trong ṿng 48-72 giờ.
Giới hạn trên của khoảng trị b́nh thường là 0-12 UI/L và gia tăng chỉ với lượng
nhỏ CK-MB cũng gợi ư NMCT.(11) Bởi v́ dạng CK-MB tồn tại trong mô là
CK-MB2 được chuyển thành CK-MB1 bởi enzym lysin carboxypeptidase và được giải
phóng vào huyết tương. Khi nhồi máu cơ tim tiến triển, toàn bộ CK-MB2 không thể
chuyển ngay thành CK-MB1. Do đó tỉ lệ CK-MB2/CK-MB1 gia tăng.(3) Giá
trị tuyệt đối của CK-MB2 > 1 UI/L hoặc tỉ lệ CK-MB2/CK-MB1> 1,5 làm cải thiện độ
nhạy cảm và độ đặc hiệu trong chẩn đoán NMCT trong ṿng 6 giờ đầu so với nồng độ
CK-MB thông dụng.(12) Mặc dù troponin I và T nhạy cảm hơn CK-MB trong
chẩn đoán NMCT nhưng CK-MB rất ích lợi trong chẩn đoán sớm NMCT trong 6 giờ đầu
để nhằm điều trị thuốc tiêu sợi huyết hoặc xác minh tái nhồi máu.
2/
Troponin I và T: Các troponin là những chỉ
điểm hoại tử cơ tim mới và quan trọng hiện nay nhằm xác định hoại tử cơ tim.
B́nh thường troponin không phát hiện ở người khoẻ mạnh, nên sự gia tăng với nồng
độ nhỏ cũng xác định có tổn thương cơ tim (c̣n gọi là vi nhồi máu) và nồng độ
gia tăng trong 6-12 giờ sau đau thắt ngực khởi phát, nồng độ đỉnh đạt được trong
ṿng 12-24 giờ. Giá trị này vẫn c̣n gia tăng kéo dài 7-14 ngày. Đây cũng là ưu
điểm trong phát hiện NMCT đến muộn, nhưng cũng là hạn chế v́ khó đánh giá nhồi
máu tái phát.(13) Giá trị ngưỡng tối ưu của troponin I để xác định
NMCT là 1 ng/ml với độ nhạy cảm 96% và độ đặc hiệu 93%. Độ- nhạy cảm và độ đặc
hiệu thay đổi phụ thuộc vào sự lựa chọn giá trị ngưỡng.(14) Giá trị
ngưỡng của troponin T được xác định là 0,1ng/ml.(15,16) Hiện nay giá
trị ngưỡng của các chỉ điểm hoại tử cơ tim vẫn chưa được chuẩn hóa, đặc biệt là
troponin I bởi v́ nhiều nhà sản xuất đưa ra các giá trị ngưỡng khác nhau làm cho
việc so sánh các trị số ấy trở nên khó khăn.(6)
Phân tầng nguy cơ
Việc phân tầng nguy cơ có tầm quan trọng
trong việc quyết định BN cần nhập viện hay không, theo dơi tiếp tục hay điều trị
tích cực (nội khoa với tiêu sợi huyết hay can thiệp nong ĐMV và đặt giá đỡ trong
ḷng mạch vành). Khai thác bệnh sử, thăm khám lâm sàng và ĐTĐ không đủ để đánh
giá nguy cơ BN đau ngực tại pḥng khám. Do đó, nhiều BN đau ngực không do bệnh
tim được nhập viện không cần thiết vào các đơn vị chăm sóc mạch vành nhưng lại
có đến 2-10% BN NMCT cấp lại cho xuất viện khỏi pḥng khám cấp cứu, thường gặp
nhất là những BN đau ngực với biến đổi nhẹ ĐTĐ.(17)
Một số nhà nghiên cứu đề xuất phác đồ phân
tầng nguy cơ thành 2 bước: Phân tầng nguy cơ cấp I chủ yếu dựa vào dữ kiện lâm
sàng và ĐTĐ. Phân tầng nguy cơ cấp II chủ yếu dựa vào các chỉ điểm hoại tử cơ
tim (myo-globin, CK-MB, troponin I và T), nghiệm pháp gắng sức, siêu âm tim gắng
sức, chụp nhấp nháy với phóng xạ hạt nhân sestamibi.
--------- ---- ---------- ----
|
|
Đau ngực cấp
|
|
|
|
|

|
|
|
|
|
|
  
|
Phân loại ĐTĐ
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
ST chênh lên
|
|
ST chênh xuống
|
|
ĐTĐ không chẩn đoán được hoặc b́nh thường
|
|
  
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tăng
CK-MB Troponin I và T xác định nguy cơ cao
|
|
Tăng CK-MB, Troponin I và T
xác định nguy cơ gia tăng biến cố bất lợi
|
(+)
|
Myoglobin và CK-MB hoặc troponin 0, 3, 6 giờ
|
|
  
|
|
|
|
(-)
|
|
|
|
|
|
|
|
Xử trí- NMCT cấp
|
|
Xử trí như HC ĐMVC
|
|
Phân tầng nguy cơ bằng trắc nghiệm gắng sức hay chẩn đoán h́nh ảnh
|
|
 
|
|
(+)
|
|
- (-)
|
|
|
|
|
|
|
|
Nhập viện đánh giá thêm, điều trị như đau thắt ngực ổn định
|
|
Xuất viện, điều trị ngoại trú
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Sơ đồ 1: Phân tầng nguy cơ
1. Các chỉ điểm hoại tử cơ tim: Nguy cơ tử vong hoặc nhồi máu cơ
tim ở những BN đau thắt ngực không ổn định có troponin(+) xác định khoảng
15-20%, trái lại chỉ là 2% ở những BN có troponin(-).(18)
Do đó, những BN đau ngực có troponin(+) cần được nhập viện để đánh giá hơn nữa
và điều trị tích cực hơn.
2. Nghiệm pháp gắng sức: Ở những bệnh nguy cơ thấp (triệu chứng
ổn định, ĐTĐ b́nh thường hoặc thay đổi nhẹ), nghiệm pháp gắng sức cho thấy an
toàn mặc dù không xét nghiệm enzym tim trước khi thực hiện nghiệm pháp gắng sức.(17)
Nghiệm pháp gắng sức là biện pháp hiệu quả để phân loại những BN cần nhập viện
hay xuất viện an toàn dựa vào các thông số trong gắng sức (đau ngực dữ dội kéo
dài, ST chênh sâu và chậm phục hồi, khả năng gắng sức.).(19-21)
3. Chụp
phóng xạ hạt nhân (bao gồm SPECT.): Đây là kỹ
thuật dự đoán tốt nhất cho nhồi máu cơ tim và tốt hơn rơ rệt so với tư liệu lâm
sàng. Ở những BN có triệu chứng gợi ư thiếu máu cơ tim mà ĐTĐ không có ư nghĩa
chẩn đoán, th́ SPECT có độ nhạy cảm 90-100%, trái lại giá trị dự đoán không bệnh
gần 100%.(17,22) Giới hạn của kỹ thuật này là không thể phân biệt dễ
dàng nhồi máu cơ tim cấp và nhồi máu cơ tim cũ, hoặc thiếu máu cơ tim cấp. V́
thế phối hợp với enzym tim là cần thiết.
4. Siêu
âm tim: Ở những BN nghi ngờ NMCT cấp, siêu âm
tim qua lồng ngực là phương tiện hữu ích xác định bất thường vận động khu trú
gợi ư thiếu máu cơ tim, hoặc các dấu hiệu kết hợp (dăn thất buồng thất, phân
suất tống máu.) và một số biến chứng NMCT (huyết khối, thông liên thất, vỡ khối
cơ tim.).(17) Nếu sau khi xét nghiệm enzym tim (-) và ĐTĐ lúc nghỉ
thay đổi có thể khiến cho việc đọc kết quả nghiệm pháp gắng sức khó khăn th́
những đối tượng này có thể xem xét siêu âm tim gắng sức hoặc bằng thuốc.
Điều Trị Hội chứng động mạch vành cấp
Trong thời đại tiêu sợi huyết, tiên lượng
của NMCT không sóng Q tương tự như NMCT có sóng Q nhưng hai t́nh trạng bệnh lư
này có một vài điểm khác nhau về sinh lư bệnh và điều trị tiêu sợi huyết. Sau
đây là một số điểm quan trọng trong điều trị chủ yếu dựa vào hướng dẫn mới nhất
của Hiệp hội Tim Hoa kỳ về Xử trí Đau thắt ngực không ổn định/Nhồi máu cơ tim
không có ST chênh lên được tạp chí Circulation xuất bản ngày 05-09-2000(23)
và Hướng dẫn xử trí cấp cứu Hội chứng Động mạch vành cấp.(4)
-Điều trị chống thiếu máu cơ tim:
1. Nghỉ ngơi tại giường có theo dơi ĐTĐ
liên tục nhằm phát hiện t́nh trạng thiếu máu và loạn nhịp ở những BN đau ngực
đang lúc nghỉ. Bởi v́ đột tử và rung thất là nguyên nhân tử vong có thể ngăn
ngừa trong giai đoạn sớm.
2. Nitroglycerin dạng viên đặt dưới lưỡi
hoặc dạng xịt, tiếp theo là sử dụng đường tĩnh mạch nhằm giảm đau thắt ngực
nhanh và các triệu chứng kèm theo. Khi triệu chứng vẫn không giảm sau sử dụng 3
viên ngậm dưới lưỡi (hoặc xịt) cách nhau 5 phút, có thể bắt đầu sử dụng thuốc
chẹn bêta. Nitroglycerin truyền tĩnh mạch khởi đầu với liều 10mg/phút
và gia tăng 10mg/phút
cho mỗi 3-5 phút cho đến khi ghi nhận có đáp ứng triệu chứng- hoặc huyết áp.
3. BN có dấu hiệu tím tái, suy hô hấp hoặc
có nguy cơ khác cần được bổ sung oxygen. Thở oxygen phải được sử dụng nếu độ bảo
hoà oxygen (SaO2) giảm dưới 90%.
4. Morphin sulfat 1-5mg tiêm tĩnh
mạch được dùng cho những BN triệu chứng không giảm sau khi dùng liên tục 3 viên
nitroglycerin ngậm hoặc triệu chứng tái diễn dù đă điều trị thiếu máu cơ tim đầy
đủ. Trừ khi có chống chỉ định v́ tụt huyết áp, bất dung nạp, có thể sử dụng cùng
morphin với nitroglycerin tĩnh mạch với sự theo dơi cẩn thận huyết áp, và có thể
nhắc lại 5-30 phút khi cần.
5. Thuốc chẹn bêta phải bắt đầu sớm nếu
không có chống chỉ định. Các thuốc này nên sử dụng đường tĩnh mạch, tiếp theo
sau đó bằng đường uống ở các BN nguy cơ cao cũng như các BN nội trú mà đau ngực
lúc nghỉ hoặc sử dụng đường uống cho những BN có nguy cơ vừa hoặc thấp. Theo dơi
bao gồm: kiểm tra tần số tim, huyết áp, theo dơi ĐTĐ liên tục và nghe t́m ran
phổi và t́nh trạng co- thắt phế quản.
6. Thuốc chẹn kênh Ca có thể sử dụng để
kiểm soát triệu chứng do TMCT đang xảy ra hoặc tái diễn ở những BN đă sử dụng
liều đầy đủ nitrat và chẹn bêta và ở những BN không thể dung nạp với liều đầy đủ
của một trong hai thứ thuốc này, hoặc sử dụng ở các BN đau ngực biến thể. Các
thuốc dihydropyridin giải phóng nhanh (như nifedi-pin) cần tránh dùng khi không
dùng đồng thời thuốc chẹn bêta với liều đầy đủ trong HC ĐMVC, bởi v́ các thử
nghiệm có đối chứng gợi ư làm gia tăng hậu quả bất lợi. Khi thuốc chẹn bêta
không thể sử dụng được, các thuốc chẹn kênh Ca có tác dụng làm chậm nhịp tim có
thể thay thế (verapamil, tiltiazem).
7. Các thuốc ức chế men chuyển cho thấy
giảm tỉ lệ tử vong ở những BN- NMCT hoặc suy giảm chức năng thất trái, BN tiểu
đường có rối loạn chức năng thất trái. Ngoài ra thuốc ức chế men chuyển có thể
xem xét dùng khi có huyết áp cao nhưng không kiểm soát được bằng nitrat hoặc
thuốc chẹn bêta.
Điều trị Kháng tiểu cầu và Kháng đông:
Điều trị chống huyết khối rất cần thiết
nhằm làm giảm tiến triển của bệnh đến tử vong, NMCT hoặc tái nhồi máu. Việc điều
trị phối hợp aspirin, heparin không phân đoạn, và thuốc đối kháng thụ thể -GP
IIb/IIIa là phương thức hiệu quả nhất.
1. Thuốc kháng tiểu cầu cần khởi đầu ngay. Aspirin là thuốc lựa chọn
đầu tiên và sử dụng càng sớm càng tốt sau khi có biểu hiện lâm sàng và tiếp tục
không hạn định. Trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng ở BN ĐTNKOĐ/ NMCT không ST
chênh lên, hầu hết đều chứng tỏ hiệu quả to lớn của thuốc aspirin dù có sự khác
biệt trong thiết kế nghiên cứu, thời gian tham gia nghiên cứu, thời gian theo
dơi và liều lượng. Aspirin nên bắt đầu với liều hàng ngày là 160 hoặc 325mg ở
những BN ĐTNKOĐ/NMCT không có ST chênh lên. Ở những BN nghi ngờ HC ĐMVC chưa sử
dụng aspirin, liều đầu tiên có thể nhai nhằm tạo nồng độ cao nhanh trong máu.
Những liều sau có thể nuốt, sau đó liều hàng ngày là 75-325mg. Một số chống chỉ
định cần lưu ư như dị ứng với thuốc này, cơ địa dễ chảy máu, bệnh loét dạ dày tá
tràng tiến triển, cao huyết áp nặng chưa điều trị.
2. Dẫn xuất Thienopyridin (Ticlopidin và
clopidogrel) được sử dụng khi BN không thể dùng aspirin v́ tăng nhạy cảm hoặc
bất dung nạp đường tiêu hoá. Đây là nhóm đối kháng adenosin diphosphat (ADP),
tác dụng ức chế tiểu cầu bất hồi phục và cần nhiều ngày mới đạt hiệu quả điều
trị. Tác dụng phụ bất lợi của ticlopidin làm giới hạn việc sử dụng, bao gồm rối
loạn tiêu hóa (tiêu chảy, đau bụng, buồn nôn, nôn mửa), giảm bạch cầu trung tính
gặp # 2,4% và giảm nặng chiếm 0,8%, hiếm hơn là xuất huyết giảm tiểu cầu.
Clopidogrel được ưa chuộng hơn ticlopidin v́ an toàn hơn.
3. Thuốc Kháng đông đường tiêm, Heparin không phân đoạn
(unfractionated) hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) phải được thêm vào
điều trị kháng tiểu cầu (aspirin hoặc dẫn xuất thienopyridin). Kết quả từ các
nghiên cứu so sánh điều trị phối hợp aspirin và heparin không phân đoạn (hoặc
heparin trọng lượng phân tử thấp) với điều trị aspirin đơn thuần, cho thấy điều
trị phối hợp giảm 50-60% tỉ lệ tử vong và NMCT trong tuần đầu. Heparin không
phân đoạn, do gắn không đặc hiệu vào protein và tế bào nên khả dụng sinh học kém
làm cho hiệu quả kháng đông thay đổi. Trong điều trị phải theo dơi PPT và phải
điều chỉnh sao cho nằm trong giới hạn 1,5-2,5 lần nhóm chứng. Ưu điểm của
heparin trọng lượng phân tử thấp là dễ sử dụng đường dưới da, không phải theo
dơi thường xuyên, ít gây giảm tiểu cầu do heparin.
3. Thuốc đối kháng thụ thể GP IIb/IIIa nên được sử dụng thêm vào
aspirin và heparin không phân đoạn cho những BN tiếp tục bị thiếu máu hoặc BN có
nguy cơ cao và những BN có dự định can thiệp mạch vành xuyên da. Eptifibatid và
tirofiban được chấp thuận cho trường hợp này. Bám dính, hoạt hóa và kết tập tiểu
cầu có thể tạo ra huyết khối động mạch và là điểm mấu chốt trong bệnh sinh của
HC ĐMVC. Thụ thể GP IIb/IIIa được xem là c̣n đường chung cuối cùng để kết tập
tiểu cầu và dẫn đến gắn kết các đại phân tử bám dính lưu hành như fibrinogen,và
yếu tố von Willebrand mà chúng tạo chuỗi nối ngang vào các tiểu cầu lân cận, làm
cho kết tập tiểu cầu. Việc sử dụng thuốc đối kháng thụ thể -GP IIb/IIIa làm ngăn
chặn sự gắn kết của fibrinogen và yếu tố von Willebrand vào tiểu cầu do đó ngăn
ngừa được kết tập tiểu cầu. Có 3 loại thuốc đang được sử dụng bao gồm Abciximab,
Eptifibatid, tirofiban, ngoà- ra c̣n có lamifiban. Từ các thử nghiệm ngẫu nhiên
CAPTURE, PURSUIT và PRISM-PLUS, ở những bệnh nhân HC ĐMVC không có ST chênh lên,
cho thấy hiệu quả kháng tiểu cầu tăng thêm khi phối hợp thuốc đối kháng thụ thể
-GP IIb/IIIa với aspirin và heparin ngay khi nhập viện và khoảng thời gian quanh
điều trị can thiệp, hiệu quả làm giảm tử vong, NMCT 34% và giảm biến cố do can
thiệp mạch vành- là 41%.(26)
4. Thuốc tiêu sợi huyết: Trong một số thử nghiệm lâm sàng, người ta
đă thất bại trong việc sử dụng tiêu sợi huyết đối với những bệnh nhân
ĐTNKOĐ/NMCT không có ST chênh lên. Điểm khác biệt quan trọng về sinh lư bệnh
giữa NMCT có ST chênh lên và ĐTNKOĐ/NMCT không có ST chênh lên là thành phần
huyết khối chủ yếu trong NMCT có ST chênh lên là fibrin, c̣n trong ĐTNKOĐ/ NMCT
không ST chênh lên là tiểu cầu. Điều trị tiêu sợi huyết làm giải phóng thrombin
và làm gia tăng khuynh hướng tạo huyết khối một cách nghịch lư do thrombin làm
hoạt hoá tiểu cầu hơn nữa.(4) Điều này lư giải cho việc thất bại điều
trị tiêu sợi huyết ở những BN ĐTNKOĐ/ NMCT không có ST chênh lên.
Điều trị tái thông ĐMV (coronary
revascularization)
Phương thức điều trị này bao gồm
cả can thiệp ĐMV qua da (nong, đặt giá đỡ trong ḷng ĐMV) và mổ bắc cầu ĐMV.
Điều trị tái thông ĐMV nhằm cải thiện tiên lượng, giảm triệu chứng, ngăn ngừa
biến chứng và cải thiện t́nh trạng chức năng. Ở những BN có dấu hiệu thiếu máu
cơ tim tái diễn có thể kèm thay đổi ST hoặc T (-) sâu hoặc chỉ điểm hoại tử cơ
tim (+) cần điều trị nội khoa tích cực với aspirin, thuốc chẹn bêta, nitrat,
heparin, thuốc đối kháng thụ thể -IIb/IIIa. Nếu BN có triệu- chứng TMCT, hoặc
suy tim hoặc loạn nhịp nặng cần điều trị tái thông ĐMV ngay. Nếu BN ổn định với
điều trị nội khoa tích cực mà chức năng thất trái suy giảm (EF<40%) th́ xem xét
tái thông ĐMV sớm. Nếu BN có EF >40% có thể thực hiện nghiệm pháp gắng sức. Nếu
nghiệm pháp thuộc nguy cơ thấp th́ điều trị nội khoa tiếp tục, c̣n ngược lại th́
điều trị tái thông ĐMV. Xem xét thủ thuật tái thông mạch máu với can thiệp ĐMV
qua da hoặc mổ bắc cầu ĐMV tùy theo tổn thương giải phẫu ĐMV.
1. Xem xét mổ bắc cầu ĐMV cho những BN:
- Có bệnh mạch vành nhánh trái quan trọng
- BN có hẹp 3 nhánh ĐMV. Hiệu quả sống sót
sẽ lớn hơn ở những BN có bất thường chức năng thất trái (EF<50%).
- BN có tổn thương 2 nhánh với
đoạn gần nhánh xuống trái trước và chức năng thất trái bất- thường (EF<50%) hoặc
có dấu hiệu thiếu máu trên các trắc nghiệm không xâm nhập.
- Có thể xem xét can thiệp ĐMV qua da hoặc
mổ bắc cầu ĐMV ở những BN có bệnh 1 hoặc 2 nhánh mà không hẹp nhánh xuống trái
trước quan trọng nhưng có vùng cơ tim c̣n sống rộng và có tiêu chuẩn nguy cơ cao
ở các trắc nghiệm không xâm nhập (stress test, stress echo.).
2. Can
thiệp ĐMV qua da cho những BN có bệnh ĐMV
nhiều nhánh với tổn thương giải phẫu hợp lư, chức năng thất trái b́nh thường và
không mắc bệnh tiểu đường. Điều trị thuốc đối kháng thụ thể GP IIb/IIIa đường
tĩnh mạch ở những BN ĐTNKOĐ/NMCT không có ST chênh lên khi tiến hành can thiệp
ĐMV qua da.
Chăm sóc và điều trị sau xuất viện:
1.
Hướng dẫn cẩn thận cho BN sử dụng thuốc, liều
lượng, cách dùng, tác dụng phụ của thuốc, các sinh hoạt hằng ngày và chế độ
kiêng khem. Trước khi xuất viện phải hướng dẫn BN cách ghi nhận các triệu chứng
liên quan với nhồi máu cơ tim cấp và cách thức t́m kiếm sự giúp đỡ y tế (khẩn
trương đến cơ sở y tế, gọi điện thoại cấp cứu.)
2. Thời
gian tái khám 2-6 tuần cho những BN điều trị
nội khoa hoặc tái thông ĐMV nguy cơ thấp và 1-2 tuần cho những BN có nguy cơ
cao.
3.
Thuốc vẫn tiếp tục điều trị sau xuất viện như
aspirin hoặc clopidogrel, thuốc chẹn bêta khi không có chống chỉ định, thuốc hạ
lipid máu sau khi áp dụng chế độ ăn kiêng mà LDL-cholesterol >100mg/dL. Thuốc ức
chế men chuyển cho BN có suy tim sung huyết, suy giảm chức năng thất trái
(EF<0,4), cao huyết áp, tiểu đường.
4. Tất
cả các BN đều phải được hướng dẫn sử dụng nitroglycerin dạng viên ngậm dưới lưỡi
hoặc dạng xịt. Nếu cơn đau kéo dài hơn 2-3
phút, phải ngưng các hoạt động và tránh môi trường tạo ra stress. Nếu sau 5
phút, viên ngậm đầu tiên không giảm triệu chứng có thể thêm viên thứ 2 hoặc thứ
3 cách nhau mỗi 5 phút. Nếu cơn đau kéo dài >15-30 phút cần goị điện thoại cấp
cứu hoặc đến pḥng cấp cứu bệnh viện gần nhất, tốt nhất bằng xe cấp cứu hoặc
phương tiện thay thế an toàn và nhanh nhất.-
Kết luận
Với những tiến bộ về chẩn đoán đặc biệt là
troponin, việc sử dụng tốt các xét nghiệm phân tầng nguy cơ sẽ giúp BN tiếp nhận
điều trị sớm hơn, giảm những biến chứng, giảm tỉ lệ tử vong và tiến triển NMCT.
Việc điều trị phối hợp aspirin, các loại heparin, thuốc đối kháng thụ thể GP
IIb/IIIa đem đến nhiều hứa hẹn cho BN HC ĐMVC. Những BN không đáp ứng với điều
trị nội khoa tích cực hoặc tổn thương nhiều nhánh ĐMV có dấu hiệu suy giảm chức
năng thất trái- cần được xem xét phương thức điều trị tái thông mạch máu.
Summary
Acute coronary syndrome: Current Opinions in Diagnostic
Approach and Treatment
Acute coronary syndrome (ACS) consists of
clinical forms as acute myocardial infarction with ST segment elevation and
unstable angina/non-ST elevation infarc-tion. In recent years, the determination
of specific cardiac troponins (troponin T & I) has the sensitive markers of
myocardial necrosis which were demonstrated more sensitive than CK-MB and
improved diagnosis of ACS, especially in chest pain patients with minor changes
on ECG. Taking medical history, specific cardiac markers, ECG and some
non-invasive testing (exercise ECG, stress Echo, SPECT) help physicians making
clinical decision. Risk stratification can clarify whether patients need to
hospitalize for further evaluation or discharge from Emergency Department. The
aggressive therapeutic treatment or early revascularization are dependent on
clinical conditions, response to treatments, coronary anatomy, and results of
non-invasive tests.
Tài liệu tham khảo
1. Moti Haim, Solomon Behar,Valentina Boyko, Hanoch Hod,
Shmuel Gottlieb. The prognosis of a first Q-wave versus non-Q-wave myocardial
infarction in the reperfusion era. Am J Med 2000;108:381-386
2. Frank V. Aguirre, Liwa T. Younis, Bernard R., Allan M.
Ross,- Robert P. McMahon,- Morton J. Kern, Peter B. Berger,- George Sopko,-
William J. Rogers,- Leslee Shaw,- Genell Knatterud,- Eugene Braunwald. Early and
1-Year Clinical Outcome of Patients' Evolving Non-Q-Wave Versus Q-Wave
Myocardial Infarction After Thrombolysis. Circulation. 1995;91:2541-2548
3. Christopher P. Cannon. Diagnosis and management of
patients with unstable angina. Curr Probl Cardiol Nov 1999; 24:681-744.
4. ECC Guidelines: Acute coronary syndromes. Circulation
August 2000;102:I-172
5. Gregory C. Robertson. Management of intermediate coronary
syndrome: Role of conservative treatment, Glycoprotein IIb/IIIa receptor
inhibitors, and direct intervention. Am J Cardiol 2000;85:21B-26B
6. Micheal C. Kontos, Robert L Jesse. Evaluation of the
emergency department chest pain patient. Am J Cardiol 2000;85:32B-39B
7. Hearns PA. Differentiating ischemia, injury, infarction:
expanding the 12-lead electrocardiogram. Dimens Crit Care Nurs ;1994
Jul-Aug;13(4):172-8;
8. Roberts, R., Fromm, R. E. (1998). Management of Acute
Coronary Syndromes Based on Risk Stratification by Biochemical Markers: An Idea
Whose Time Has Come. Circulation 98: 1831-1833
9. Kenneth Khaw, Abel E. Moreyra, Alan K. Tannenbaum,
Timothy J. Brewer, Jai B. Agarwal. Improved detection of posterior myocardial
wall ischemia with the 15-leads electrocardiogram. Am Heart J 1999;138:934-40.
10. Matetzky S, Freimark D, Feinberg MS, Novikov I, Rath S,
Rabinowitz B, Kapiinski E, Hod H. Acute myocardial infarction with isolated ST
segment elevation in posterior chest leads V7-9: "hidden" ST segment elevations
revealing acute posterior infarction. Am Coll Cardiol 1999 sep; 34(3):748-53.
11. John H. Alexander,- Rodney A. Sparapani,- Kenneth W.
Mahaffey, Jaap W. Deckers,- L. Kristin Newby,- E. Magnus Ohman,- Ramịn Corbal-,-
Sergio L. Chierchia,- Jean B. Boland, Maarten L. Simoons, Robert M. Califf,-
Eric J. Topol,- Robert A. Harrington. Association Between Minor Elevations of
Creatine Kinase-MB Level and Mortality in Patients With Acute Coronary Syndromes
Without ST-Segment Elevation. JAMA. 2000;283:347-353
12. Ryan TJ, Antman EM, Brook NH, Califf RM, Hillis LD,
Hiratzka LF, Rapaport E, Riegel B, Russell RO, Smith EE III,et al.1999 update:
ACC/AHA Guideline for management of patients with acute myocardial infarction: a
report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task
Force on Practice Guideline (Committee on Management of Acute Myocardial
Infarction). J Am Coll Cardiol 1999;34:890-911.
13. Graham S Hillis, Keith A A Fox. Cardiac troponins in
chest pain can help in risk stratification. BMJ- 4 December 1999; 319:1451-1452
14. Micheal C. Kontos, Robert L Jesse. Evaluation of the
emergency department chest pain patient. Am J Cardiol 2000; 85:32B-39B
15. Ellen S. McErlean, Sue A. Deluca, Frederick van Lente,
Franklin Peacock IV, J. Sunil Rao, Craig A. Balog, Steven E. Nissen. Comparison
of troponin T versus creatine kinase-MB in suspected acute coronary syndromes.
Am J Cardiol Feb 2000;85:421-426
16. Christopher R. deFilippi, Monica Tocchi, Rohit J.
Parmar, Salvatore Rosanio, Gerard Abreo, Marjorie A. Potter, Marschall S. Runge,
Barry F. Uretsky. Cardiac troponin T in chest pain unit patients without
ischemic electrocardio-graphic changes: angiographic correlates and long-term
clinical outcomes. Am J- Coll- Cardiol- July 2000;35:1827-1834.
17. J Douglas Kirk, Deborah B. Diercks, Samuel D.
Turnipseed, Ezra A. Amsterdam. Evaluation of chest pain suspicious for acute
coronary syndrome: Use of an accelerated diagnostic protocol in a chest pain
evaluation unit. Am J Cardiol March 2000;85:40B-48B
18. Christian W. Hamm, Eugene Braunwald. A Classification of
Unstable Angina Revisited. Circulation. June 2000;102:118-120
19. William R. Lewis, A. Amsterdam, Samuel Turnipseed, J.
Douglas Kirk. Immediate exercise testing of low risk patients with known
coronary artery disease presenting to the emergency department with chest pain.J
Am Coll Cardiol 1999;33:1843-1847
20. Deborah B. Diercks, W. Brian Gibler, Tiepu Liu, Michael
R. Sayre, Alan B. Storrow. Identification of patients at risk by graded exercise
testing in an emergency department chest pain center.Am J- Cardiol- August-
2000;86:289-292
21. William R. Lewis, A. Amsterdam, Samuel Turnipseed,- J.
Douglas Kirk.Immediate exercise testing of low risk patients with known coronary
artery disease presenting to the emergency department with chest pain. J Am-
Coll- Cardiol- June 2000;33:1843-1847.
22. Gary V. Heller, Stephen A. Stowers, Robert C. Hendel,
Steven D. Herman, Edouard Daher, Alan W. Ahlberg, Jack M. Baron, Carlos F.
Mendes de Leon, John A. Rizzo, Frans J. Th. Wackers. Clinical Value of Acute
Rest Technetium-99m Tetrofosmin Tomographic Myocardial Perfusion Imaging in
Patients With Acute Chest Pain and Non-diagnostic Electrocardiograms. J Am Coll
Cardiol- 1998; 31:1010-1017.
23. Eugene Braunwald, Elliott M Antman, John W Beasley,
Robert M Califf- at- al. ACC/AHA Guidelines for the Management of patients with
unstable angina and non-ST segment elevation myocardial infarction. Circulation-
September 9, 2000; 102:1193.
24. Eric Boersma, K. Martijn Akkerhuis, Pierre Th-oux,
Robert M. Califf,- Eric J. Topol,- Maarten L. Simoons. Platelet Glycoprotein
IIb/IIIa Receptor Inhibition in Non-ST-Elevation Acute Coronary Syndromes. Early
Benefit During Medical Treatment Only, With Additional Protection During
Percu-taneous Coronary Intervention. Circulation 1999; 100:2045-2048
25. David F. Kong, Micheal A. Blazing, Christopher M.
O'Connor. Advances in the approach to acute coronary syndromes. Hospital
Practice 15 Apr 2000; p 61-82
26. Yerem Yeghiazarians, Joel B. Braunstein, Arman Askari,
Peter H. Stone. Unstable angina pectoris. New Engl J Med- 2000 ;342:101-114.