Trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính (BPTNMT) và hen phế quản, ngoài việc tránh các tác nhân kích thích niêm
mạc hô hấp (khói thuốc lá, bụi, dị nguyên không khí), sử dụng liệu pháp oxygen,
thuốc kháng viêm và kháng sinh khi cần thiết; việc điều trị chủ yếu vẫn phải
dùng đến thuốc giăn phế quản (PQ) nhằm giảm triệu chứng khó thở và cải thiện
chức năng hô hấp. Hiện nay, có ba loại thuốc giăn PQ chính được sử dụng trong
lâm sàng: chủ vận
b2,
kháng-cholinergic, và methyl-xanthin. Tuy vậy, không phải thuốc nào cũng có đầy
đủ dữ kiện để có thể xác định cách dùng tối ưu trên lâm sàng. Hơn nữa, vẫn c̣n
nhiều ư kiến trái ngược nhau về cách dùng thuốc giăn PQ, chẳng hạn có nên dùng
liên tục hay chỉ dùng khi cần thiết khi điều trị lâu dài, hoặc có nên phối hợp
thuốc kháng-cholinergic với chủ vận
b2 hay không.
Nhiều tác giả đă dựa vào các thông số dược lư học lâm sàng để thử xác định cách
dùng hiệu quả nhất.
Thuốc Chủ vận
b2
Thuốc chủ vận
b2
là thuốc được chọn đầu tay trong các bệnh hô hấp có hiện tượng co thắt phế quản.
Các thụ thể giao cảm
b2
chủ yếu hiện diện trong phổi và được phân bố khắp hệ thống đường dẫn khí và phế
nang. Cơ chế gây giăn PQ của thuốc chủ vận
b2 là trực tiếp
gắn với các thụ thể b2
trên bề mặt tế bào cơ trơn, gây giăn cơ. Mặt khác, thuốc chủ vận
b2 c̣n ức chế sự
phóng thích chất trung gian từ các tế bào viêm, cải thiện sự thanh thải chất
tiết ở đường hô hấp. Để tránh những tác dụng bất lợi có thể xảy ra do kích thích
thụ thể
b1, các tài
liệu hiện nay đều khuyến nghị nên sử dụng các thuốc có tác dụng chọn lọc với thụ
thể
b2.
Các thuốc chính hiện dùng là
salbutamol, terbutalin và fenoterol. Đa số đều là những chế phẩm được dùng ở
dạng thuốc hít. Tác dụng giăn PQ kéo dài khoảng 4 đến 6 giờ và được gọi là thuốc
chủ vận
b2
tác dụng ngắn, để phân biệt với những thuốc chủ vận
b2 mới hơn
(salmeterol và formoterol), có tác dụng giăn phế quản dài đến 12 tiếng.
Salbutamol là một thuốc chủ vận
b2 có tính chọn
lọc cao và là thuốc an toàn nhất thuộc nhóm này. Terbutalin cũng có tính chọn
lọc tương tự đối với thụ thể giao cảm
b2
và c̣n được dùng dưới dạng thuốc uống (tiền dược bambuterol). Tác dụng mạnh và
tính ít chọn lọc của thuốc chủ vận
b2, được nhiều
tác giả cho là làm tăng tỉ lệ biến chứng của hen phế quản, trong khi một số tác
giả khác cho rằng sử dụng đều đặn thuốc chủ vận
b2 làm cho khó
kiểm soát bệnh hen hơn.(1-4) Fenoterol được chứng minh là có hiệu lực
giăn PQ mạnh như salbutamol, những khác biệt về tác động toàn thân được xem là
không có ư nghĩa lâm sàng khi dùng với liều chuẩn.(5)
Tăng tử vong và biến chứng hen phế quản có thể là do chẩn đoán và điều trị chưa
đúng mức.(6) Tuy vậy, hướng dẫn điều trị hen phế quản hiện nay khuyến
nghị rằng trong đa số các trường hợp, chỉ nên dùng thuốc chủ vận
b2 khi cần
thiết, và khi tăng nhu cầu là chỉ định để bắt đầu dùng hoặc tăng liều thuốc
thuốc kháng viêm dùng đều đặn.(7)
Salmeterol khởi phát tác dụng chậm hơn
(chừng 15 phút) so với các thuốc tác dụng ngắn; do đó không thích hợp để dùng
trong cơn hen cấp. Tác dụng kéo dài của nó thuận lợi cho việc kiểm soát các cơn
hen về đêm và ngừa khó thở khi gắng sức. Tác dụng giăn PQ của salmeterol trên
bệnh nhân BPTNMT, nếu dùng lâu dài, có thể làm giảm phần nào - nhưng có ư nghĩa
- khó thở sau khi gắng sức và cải thiện được chất lượng cuộc sống.(8)
Formoterol cũng là một chủ vận b2
chọn lọc, có tác dụng giăn PQ khởi phát nhanh và kéo dài hơn salmeterol. Trong
hen phế quản, hiệu lực giăn PQ của formoterol khi dùng với liều hít 12-24
mg ngày 2 lần, tỏ ra bằng hoặc lớn hơn hiệu lực của
salbutamol, fenoterol hoặc terbutalin. Đến nay vẫn c̣n ít số liệu về tác dụng
của thuốc này trong BPTNMT, nhưng có lẽ cũng giống như tác dụng của salmeterol.(9)
Gần đây, có ư kiến cho rằng trong các đợt kích phát BPTNMT, điều trị bằng chủ
vận
b2 rất hữu
ích, v́ ngoài tác dụng giăn PQ, thuốc chủ vận
b2
tác dụng kéo dài (salmeterol và formoterol) có thể làm giảm các đợt viêm cấp, v́
làm Haemophilus influenzae ít dính vào tế bào biểu mô hô hấp.(10)
Tuy vậy, các hệ quả khi sử dụng lâu dài vẫn chưa được kết luận dứt khoát, cần có
thêm nhiều nghiên cứu thêm mới có thể giải đáp rơ ràng.
Sự lờn thuốc khi dùng liên tục dài
ngày đă được chú ư trong những năm gần đây. Đối với thuốc chủ vận
b2 tác dụng ngắn
dạng hít, ít thấy bằng chứng về dung nạp hiệu quả giăn PQ, nhưng lại có nhiều
bằng chứng về mất khả năng bảo vệ chống lại các kích thích co phế quản.(11)
Đối với thuốc chủ vận
b2
tác dụng kéo dài, như formeterol và salmeterol, dùng lâu ngày sẽ giảm hiệu quả
giăn PQ. Ư nghĩa lâm sàng quan trọng của hiện tượng này là bệnh nhân dùng
salmeterol sẽ kém đáp ứng với tác dụng giăn PQ của salbutamol, vốn cần thiết để
cắt cơn hen kịch phát. Có bằng chứng gợi ư rằng dùng chung với corticosteroid sẽ
ngăn chặn hoặc đảo ngược được sự điều ḥa ngược thụ thể
b2.(12)
Nhưng dùng liều cao thuốc chủ vận
b2
có thể ức chế tác dụng kháng viêm của corticosteroid do tương tác với các yếu tố
đáp ứng với glucocorticoid trên gen đích trong nhân tế bào.(13)
Các tác dụng phụ của thuốc chủ vận
b2 khi dùng đường
uống hoặc tĩnh mạch thường xảy ra hơn khi dùng dạng hít. Tác dụng phụ thường
thấy là: nhịp tim nhanh (kích thích phản xạ đối với các thụ thể
b1 ở tim sau khi
giăn kháng sực ngoại biên), run, tăng đường huyết và giảm kali-máu. Khi dùng lâu
dài, cơ thể sẽ quen dần với những tác dụng phụ này. Tuy vậy, tác dụng phụ của
chủ vận
b2
có thể trở thành vấn đề quan trọng đối với số đông bệnh nhân BPTNMT, ngay cả khi
dùng thuốc hít, v́ bệnh này phải cần đến thuốc giăn PQ liều cao nhiều hơn so với
hen phế quản.
Tác dụng giăn mạch của thuốc chủ
vận
b2 trên tuần hoàn
phổi có thể nguy hiểm, nhất là khi BPTNMT trở nặng, v́ t́nh trạng co mạch do
thiếu oxygen bị đảo ngược dưới tác dụng của thuốc có thể làm cho máu đi tắt
nhiều hơn, dẫn đến hạ ôxy-máu hơn.(14)---
Thuốc kháng-cholinergic
Thần kinh đối giao cảm ở đường hô
hấp chủ yếu chi phối các đường dẫn khí lớn ở phổi. Thuốc kháng-cholinergic ức
chế tác động của acetylcholin được tiết ra ở đầu tận sợi đối giao cảm trên cơ
trơn - đó là một tác động thông qua thụ thể muscarinic M3 làm co cơ
trơn - nên có tác dụng giăn PQ nhờ giảm trương lực đối giao cảm của cơ trơn
đường hô hấp. Do vậy, thuốc kháng-cholinergic ít có tác dụng trên người b́nh
thường mà chỉ thể hiện tác dụng giăn PQ trên những bệnh nhân bị co thắt phế quản
dưới tác động của kích thích đối giao cảm. Thuốc kháng-cholinergic được dùng
nhiều nhất hiện nay là ipratropium bromid. Hợp chất này có hoạt tính tại chỗ và
kém được hấp thu qua phổi và đường tiêu hóa, nên thường được dùng dưới dạng hít.
Một thuốc mới là oxitropium bromid, cũng là một chất đối kháng thụ thể
muscarinic không chọn lọc, có tác dụng dài hơn nhưng khởi phát muộn hơn và không
mạnh bằng ipratropium bromid.
Thuốc kháng-cholinergic được xem
là hữu hiệu trong điều trị BPTNMT hơn là trong hen phế quản. Tuy nhiên, trong
hen phế quản cũng có một trương lực đối giao cảm nhất định, nhất là ở người già
bị hen kèm viêm phế quản, nên cũng có đáp ứng với loại thuốc này. Thuốc
kháng-cholinergic vẫn hữu ích cho bệnh nhân không đáp ứng hoặc không dung nạp
được các thuốc giăn PQ khác dùng điều trị hen. Trong hen phế quản, nhóm thuốc
này không hiệu quả bằng thuốc chủ vận b2
v́ chúng chỉ ngăn ngừa sự co thắt phế quản qua trung gian đối giao cảm, tuy vậy
trong cơn hen cấp cũng có thể dùng thuốc kháng-cholinergic dạng khí dung. Trái
lại, trong BPTNMT thuốc kháng-cholinergic có hiệu quả tương tự hoặc hơn hẳn
thuốc chủ vận
b2.(15)
Tăng trương lực đối giao cảm là một yếu tố quan trọng trong BPTNMT hơn là trong
hen phế quản và được xem là yếu tố duy nhất có thể đảo ngược được, có lẽ do tác
dụng hữu ích của thuốc kháng-cholinergic trên sự phân tiết của tế bào h́nh ly.
Ipratropium bromid tỏ ra thích hợp để
điều trị thường qui v́ tác dụng khởi phát tương đối chậm và kéo dài so với thuốc
chủ vận b2:
tác dụng đạt được 50% sau 3 phút, 80% sau 30 phút, và đạt tối đa sau 1-2 giờ và
kéo dài đến 6 tiếng. Vấn đề dung nạp thuốc không nghiêm trọng lắm dù thuốc được
dùng vài ba năm.(16) Ngoài ra, ipratropium bromid ít được hấp thu nên
không thấy độc tính toàn thân. Những nghiên cứu lâm sàng c̣n thấy ipratropium
bromid và oxitropium bromid không ảnh hưởng đến sự thanh thải chất tiết ở phổi,
hoặc trên thể tích và độ quánh của đàm trên bệnh nhân BPTNMT.(17)
Tác dụng phụ đáng lưu ư nhất là ức chế tiết nước bọt khi dùng liều cao hơn liều
điều trị. Để tránh tác dụng phụ trên mắt (glaucoma), có thể dùng ống ngậm khi
xịt thuốc. Đôi khi có thể thấy co thắt phế quản nghịch thường do sự ức chế thụ
thể M2
tiền tiếp hợp trên sợi đối giao cảm (b́nh thường ức chế sự phân tiết
acetylcholin).
Tiotropium bromid - một thuốc
kháng-cholinergic mới - có tác dụng kéo dài, chỉ cần dùng ngày một lần dưới dạng
hít, đang được nghiên cứu sử dụng trong BPTNMT. Về cấu trúc, đây là một hợp chất
ammoni hóa trị có liên quan với ipratropium bromid. Do đó, người ta hy vọng
tiotropium bromid cũng hữu hiệu và an toàn khi dùng trong BPTNMT và hen phế
quản.
Methylxanthin
Theophyllin là thuốc cường giao cảm
thông dụng nhất thuộc nhóm này, có dạng uống và tiêm tĩnh mạch, nhưng không có
dạng hít.- Những nghiên cứu giữa thập niên 90 cho thấy ngoài tác dụng giăn PQ
thuốc c̣n có tác dụng kháng viêm. Tuy vậy, theophyllin làm giảm oxygen ở tuần
hoàn năo, nên có thể gây co giật khi dùng liều cao.(18) Những tác
dụng khác của thuốc là: lợi tiểu, kích thích cơ tim và kích thích hô hấp. Tác
dụng phụ của thuốc bao gồm buồn nôn, nhức đầu, nhịp tim nhanh, khó ngủ. Tác dụng
giăn PQ của theophyllin không mạnh bằng tác dụng của thuốc chủ vận
b2 và thuốc
kháng-cholinergic. Hơn nữa, liều giăn PQ thường cao hơn liều chống hen(19)
và gần với liều gây độc tính. Cơ chế gây giăn PQ của theophyllin nói chung chưa
được hiểu rơ, liều có tác dụng in vivo thấp hơn nhiều so với liều in
vitro.(20) Liều khởi trị thường dùng đối với theophyllin là từ 12
đến 16 mg/kg mỗi ngày, tối đa không quá 400 mg/ngày, trong ṿng ít nhất là 3
ngày đầu. Sau đó, có thể tăng lên 16-20 mg/ngày, tùy theo đáp ứng lâm sàng của
bệnh nhân. Dạng chế phẩm phóng thích chậm có thể giúp tránh được các tác dụng
phụ. Độ thanh thải theophyllin thường giảm ở người có bệnh gan, viêm phổi, nhiễm
siêu vi và suy tim, và điều này đặc biệt quan trọng ở bệnh nhân BPTNMT cao tuổi.
Do vậy, liều dùng phải được điều chỉnh tùy từng
người,
tùy chế phẩm.- Các tài liệu kinh điển khuyến nghị cần theo dơi nồng độ trong
huyết tương sau khi uống thuốc 4 giờ (không nên vượt quá 20
mg/ml) để chỉnh liều thích
hợp đối với các đối tượng dễ có nguy cơ xảy ra độc tính. Hiện nay, theophyllin
ít được dùng như một thuốc giăn PQ v́ không an toàn bằng các thuốc giăn PQ mới.-
CROMOLYN NATRI
Cromolyn natri thường được dùng
như một điều trị bổ trợ trong hen phế quản. Cơ chế tác dụng của thuốc vẫn chưa
được biết rơ. Có giả thuyết cho rằng thuốc này có tác dụng ổn định các tế bào
viêm (đặc biệt là tế bào mast, đại thực bào, bạch cầu trung tính và bạch cầu ái
toan), ức chế sự phóng thích các chất trung gian từ- những tế bào này, nhưng tác
dụng này rấ- khó chứng minh trên người.(21) In vivo, cromolyn
hầu như không có tác dụng giăn PQ trừ khi dùng liều thật cao và dưới dạng ḥa
tan. Thuốc chỉ có tác dụng dự pḥng co thắt phế quản, nhưng không hữu ích một
khi t́nh trạng co thắt phế quản đă xảy ra. Trên lâm sàng, cromolyn natri thường
dùng dưới dạng thuốc hít cho bệnh nhân hen phế quản c̣n trẻ. Đối với bệnh nhân
BPTNMT, thuốc có rất ít tác dụng.
Phối hợp thuốc kháng-cholinergic và chủ vận
b2 trong BPTNMT
Những năm gần đây, có một xu hướng
dùng phối hợp thuốc kháng-cholinergic với chủ vận
b2 trong điều trị triệu chứng
BPTNMT. Sự phối hợp này gây giăn phế quản qua hai cơ chế tác động độc lập với
nhau, vừa ức chế đối giao cảm (kháng-cholinergic), vừa kích thích giao cảm (chủ
vận b2)
trên hệ thần kinh thực vật chi phối cơ trơn đường hô hấp. Một thử nghiệm lâm
sàng đa trung tâm (Combivent Inhalation Study Group)(22)
được thực hiện trên 652 bệnh nhân BPTNMT từ vừa đến nặng, với phối hợp hai thuốc
này dưới dạng hít và được sử dụng trong 85 ngày, cho thấy các triệu chứng chủ
quan của bệnh nhân được cải thiện rơ rệt hơn so với khi dùng từng thuốc riêng
lẻ. Tác dụng giăn PQ xảy ra sớm và thời gian tác dụng được kéo dài. Tuy nhiên,
hiệu quả của thuốc khí dung hoặc thuốc dạng hít có thể thay đổi tùy theo kỹ
thuật dùng thuốc và thiết bị xịt thuốc. Đối với đường dùng thuốc đặc biệt này,
thích hợp nhất và dễ sử dụng nhất cho bệnh nhân có lẽ là dùng các ống hít dịnh
liều (metered-dose inhaler, MDI). Cũng theo Combivent Inhalation Study Group,
việc phối hợp thuốc kháng-cholinergic với chủ vận
b2 không làm tăng thêm tác dụng phụ. Nhờ
vậy, những chế phẩm phối hợp hai thuốc trên có thể giúp cho bệnh nhân tuân thủ
dùng thuốc tốt hơn.----
Kết luận
Trong bệnh hen phế quản và BPTNMT,
điều trị bằng thuốc giăn PQ chỉ là điều trị triệu chứng, thường được chỉ định
trong các đợt trở nặng hoặc có triệu chứng khó thở cấp do co thắt phế quản. Xu
hướng chung hiện nay trong việc sử dụng thuốc giăn PQ là:
-
Ít dùng methylxanthin v́ những tác dụng phụ toàn thân
khó kiểm soát, đặc biệt là khi dùng đường tĩnh mạch trên bệnh nhân lớn tuổi hoặc
ở trẻ em;
-
Cromolyn natri chỉ có tác dụng dự pḥng co thắt phế
quản, được sử dụng hạn chế trên bệnh nhân hen như một điều trị bổ trợ, chứ không
phải là thuốc giăn PQ thật sự, và hoàn toàn không có tác dụng trong BPTNMT;
-
Thuốc chủ vận
b2
có tác dụng chọn lọc được dùng như thuốc giăn PQ đầu tay trong các bệnh đường hô
hấp, đặc biệt trong hen phế quản, và tùy yêu cầu điều trị (cắt cơn nhanh, dự
pḥng cơn hen hoặc khó thở về đêm) mà chọn thuốc có tác dụng ngắn (salbutamol,
terbutalin) hoặc kéo dài (salmeterol. formoterol), nhưng không nên dùng dài hạn
v́ sẽ bị lờn thuốc;
-
Thuốc kháng-cholinergic (ipratropium bromid,
oxitro-pium bromid, tiotropium bromid) được ưu tiên sử dụng trong BPTNMT, có thể
sử dụng dài ngày với hiệu quả cao khi dùng phối hợp với thuốc chủ vận
b2 dưới
dạng hít;
-
Các thuốc giăn PQ hiện đang thông dụng trên lâm sàng
(Bảng 1) đều được dùng ở dạng khí dung, nên bệnh nhân cần được hướng dẫn cách
dùng đúng kỹ thuật để đạt hiệu quả cao nhất.
Hướng nghiên cứu hiện nay về thuốc
giăn PQ là phát triển những thuốc mới có tác dụng chủ vận chọn lọc hơn nữa trên
thụ thể giao cảm
b2
hoặc các thuốc ức chế chọn lọc thụ thể đối giao cảm M2
và M3; (23) -đánh giá khả năng dung
nạp khi điều trị lâu dài với thuốc kháng-cholinergic và/hoặc phối hợp thuốc
kháng-cholinergic với chủ vận
b2. Những nghiên cứu này hiện nay
chỉ mới được thực hiện trên một số ít bệnh nhân. Khả năng áp dụng thuốc giăn PQ
mới trên lâm sàng cho bệnh nhân hen và BPTNMT phải chờ cho đến khi có kết luận
rơ ràng.(24)
SUMMARY
BROCHODILATOR AGENTS FOR THE TREATMENT OF BRONCHIAL ASTHMA
AND CHRONIC OBSTRUCTIVE PULMONARY DISEASES.
Bronchodilator therapy is often
prescribed to relieve the symptoms, reverse airway obstruction and ameliorate
the quality of life in asthmatics and COPD patients. The dosage form mostly
preferred is inhaled solution with bronchodilator effects because of its low
risk of systemic effects. Several categories of bronchodilator agents have been
demonstrated effective in symptomatic treatment of patients with bronchial
asthma or COPD. Among them the selective
b2-adrenergic
agonists and anti-cholinergics have been shown useful brochodilators with
important clinical implications.
Short-acting
b2-adrenergic
such as salbutamol, terbutaline have documented efficacy in the management of
asthmatic attacks on an as-needed basis, whereas newer inhaled long-acting
b2-adrenergic
agonist (salmeterol, formoterol) are of high efficacy in the prevention of
nocturnal dyspnea or in the maintenance of symptom-free period for patients. The
efficacy of long-term
b2-agonist
administration is a problem in the management of chronically ill patients. In
the regard of respiratory symptom amelioration, recent studies showed that
inhaled anti-cholinergic agents such as ipratropium bromide are more beneficial
for COPD patients rather than for asthmatics. A combination of ipratropium
bromide and beta2-agonists has been shown providing a rapid onset and
prolonged action of bronchodilation. Furthermore, this combination can be given
in a reduced dose, thereby avoiding side-effects. Theophylline may be benefit
for some patients with bronchospasm, but it is now less desirable because of its
narrow therapeutic dose range. Inhaled cromolyn sodium may be useful in
prevention of dyspnea attacks but it is lack of true bronchodilator action.
Appropriate inhalation technique is an essential factor should be considered for
the efficacy of bronchodilator therapy.
Tài liệu tham khảo
1.
Pearce N, Grainger J, Atkinson M, Keane A et al . Case-control study of
prescribed fenoterol and death from asthma in New Zealand, 1977-1981. Thorax
1990;45:170-175.
2.
Spitzer WO, Suissa S, Ernst P, Horwitz RI, et al. The use of beta
agonists and the risk of death and near death from asthma. N Engl J Med
1992;326:501-506.
3.
Sears MR, Taylor DR, Print CG, Lake DC, Li QQ, Flannery EM et al. Regular
inhaled beta-agonist treatment in bronchial asthma. Lancet
1990;336:1391-1396.
4.
Van Schayck CP, Dompeling E, van Herwaaden CLA, et al. Bronchodilator
treatment in moderate asthma or chronic bronchitis: continuous or on demand- A
randomized controlled study. BMJ 1991; 303:1426-1431.
5.
Lipworth BJ, Newnham DM, et al. Comparison of the relative airways and
systemic potencies of inhaled fenoterol and salbutamol in asthmatic patients.
Thorax
1995;50:54-61
6.
Stableforth D. Deaths from asthma. Thorax 1983; 38: 801-805.
7.
NHLBI/WHO workshop report. Global strategy for asthma management and
prevention. Bethesda, MD, USA: National Institute of Health, National Heart,
Lung, and Blood Institute. 1/1995.
8.
Jones PW, Bosh TK. Improvement in quality of life in COPD patients
treated with salmeterol. Am J Respir Crit Care Med 1995;154:A64.
9.
Bartow RA; Brogden RN. Formoterol. An update of its pharmacological
properties and therapeutic efficacy in the management of asthma. Drugs.
1998; 55(2): 303-322.
10.
Dowling RB, Johnson M, Cole PJ, Wilson R. Effect of salmeterol on Haemophilus
influenzae infection of respiratory mucosa in vitro. Eur Respir J
1998;11:86-90.)
11.
Cockcroft DW, O-Byrne PM, Swystun VA, Bhagat R. Regular use of inhaled albuterol
and the allergen-induced late asthmatic response. J Aller Clin Immunol
1995; 96:44.
12.
Mak JCW, Nishikawa M, Shirasaki H, Miyayasu K, Barnes PJ. Protective effects of
dexamethasone on isoproterenol-induced downregulation of pulmonary b2R.
J Clin Invest
1995;96:99-106.
13.
Adcock IM, Stevens DA. Interactions of glucocorticoids and b2-agonists.
Eur Respir J 1996; 9:160-168.
14.
Barnes PJ. Bronchodilators: basic pharmacology. In: Calverley P, Pride N, eds.
Chronic obstructive pulmonary disease. London:Chapman & Hall, 1995:
391-417.
15.
Rennard SI, Serby CW, Ghafouri M, Johnson PA, Friedman M. Extended therapy with
ipratropium is associated with improved lung function in patients with COPD. A
retrospective analysis of data from seven clinical trials. Chest
1996;110:62-70.
16.
Gross NJ, Skorodin MS. Anticholinergic, anti-muscarinic bronchodilators. Am
Rev Respir Dis 1984; 129: 856-870.
17.
Taylor RG, Pavia RD, Agnew JE, Lopez-Vidriero MT, Newman SP, Lennard-Jones T et
al. Effect or four weeks- high dose ipratropium bromide treatment on lung
mucociliary clearance. Thorax 1986;41:295-300.
18.
Nishimura M, Suzuki A, Yoshioka A, Yamamoto M, Akiyama Y, Miyamoto K et al.
Effect of aminophylline on brain tissue oxygenation in patients with COPD.
Thorax
1992;47:1025-1029.
19.
Finney, M.J., Karlsson, J.A., and Persson, C.G. Effects of bronchoconstrictors
and bronchodilators on a novel human small airway preparation. Br. J.
Pharmacol.,1985, 85:29-36.
20.
Weinberger M, Hendeles L. Theophylline in asthma. N Eng J Med
1996;334:1380-1388.
21.
Bernstein, B. Cromolyn sodium in the treatment of asthma: Coming of age in the
United States. J Allergy Clin Immunol 1985;76:381.
22.
Combivent Inhalation Study Group. Routine nebulized ipratropium and albuterol
together are better than either alone in COPD. Chest 1997;112
(6):1514-1521.
23.
Barnes PJ. New therapy for chronic obstructive pulmonary disease. Thorax
1998;53;137-147.--
24.
Torphy TJ, Barnette MS, Underwood DC, et al. Ariflo (SB 207499), a second
generation phosphodiesterase 4 inhibitor for the treatment of asthma and COPD:
from concept to clinic. Pulm Pharmacol Ther 1999;12:131-135.