|
HỘI NGHỊ THẦN KINH HỌC HOA KỲ LẦN THỨ 52
Từ ngày 29/4 đến 5/5/2000 đă diễn ra hội
nghị lần thứ 52 của hội thần kinh học Hoa Kỳ (American Academy of Neurology) ở
San Diego - California. Hội nghị được tổ chức mỗi năm 1 lần ở các tiểu bang Bắc
Mỹ hay Canada và đă thu hút rất nhiều các bác sĩ thần kinh khắp thế giới tham
dự. Hội nghị lần này có gần 10.000 người và khoảng gần 1/3 là các nhà thần kinh
học của các nước khác.
Phần báo cáo khoa học bao gồm 1181 bài báo
cáo (832 poster và 349 báo cáo khoa học). Ngoài ra c̣n có một chương tŕnh huấn
luyện rất phong phú kéo dài trong 7 ngày để lấy các tín chỉ dành cho các bác sĩ
thực hành do các chuyên gia thần kinh đảm nhiệm trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Tuy nhiên, chi phí tham dự của khóa huấn luyện này rất cao tùy theo chương tŕnh
giảng dạy như lớp chuyên đề buổi sáng (70 đô-la cho 1g45) hoặc là 1 buổi huấn
luyện kĩ năng thực hành (350 đô-la). Ngoài ra c̣n một trung tâm vi tính để các
hội viên liên lạc qua thư điện tử cũng như biết các thông tin cập nhật mỗi ngày.
Các chương tŕnh huấn luyện đều được thu vào băng và CD-ROM để phát hành sau đó.
Chúng tôi xin tŕnh bày nội dung của một
số báo cáo khoa học. Các đề tài thường được đề cập nhiều là: tai biến mạch máu
năo, Parkinson và rối loạn vận động, bệnh xơ cứng rải rác từng đám, bệnh
Alzheimer, động kinh, dịch tễ học thần kinh, nhức đầu, các tiến bộ trong kỹ
thuật chẩn đoán (SPECT, cộng hưởng từ chức năng, cộng hưởng từ khuếch tán, điện
từ năo kí).
1/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NĂO:
Có 98 đề tài về thiếu máu năo cục bộ, 18
đề tài về xuất huyết năo và 5 đề tài về xuất huyết màng năo (poster và báo cáo
khoa học).
Một số đề tài đáng lưu ư là báo cáo của
Harner và CS ở Minesota về các thông tin chẩn đoán của cộng hưởng từ khuếch tán
(diffusion weighted MRI) trên BN có khả năng đột quỵ cho thấy kỹ thuật này chẩn
đoán chính xác hơn một nửa trường hợp không chẩn đoán được bằng kỹ thuật cộng
hưởng từ kinh điển.
- Về nhiễm trùng Chlamydia và nguy
cơ đột quỵ, một số tác giả California (Hsu và CS) đối chiếu 126 trường hợp nhồi
máu năo với 206 người của nhóm chứng cùng tuổi, phái, các yếu tố nguy cơ. Cả 2
nhóm này đều được định lượng kháng thể chống Chlamydia pneumonia trong
huyết thanh th́ thấy sự khác biệt trong 2 nhóm này không có ư nghĩa thống kê,
kết luận là không có chứng cứ C. pneumonia là yếu tố nguy cơ của đột quỵ.
- Một số tác giả ở Seatle (Green và CS)
nghiên cứu mối tương quan giữa hạ Kali máu, một khẩu phần ăn giảm potassium và
sử dụng lợi tiểu với nguy cơ nhồi máu năo trên 5.641 người lớn hơn 65 tuổi. Thời
gian theo dơi từ 4-8 năm với khẩu phần ăn hàng ngày nhỏ hơn 2,3g potassium và
nồng độ kali máu nhỏ hơn 4mEq/l. Kết quả cho thấy potassium huyết thanh thấp
liên quan đến sự gia tăng nguy cơ đột quỵ, đặc biệt ở các nhóm sử dụng lợi tiểu
không giữ K+, nhóm có rung nhĩ, có nguy cơ tương đối cao hơn về đột
quỵ nếu có nồng độ kali huyết thanh thấp. Giảm khẩu phần ăn có potassium kết hợp
liên quan đến gia tăng tỉ lệ đột quỵ ở BN không sử dụng lợi tiểu.
- Một số tác giả ở Baltimore (Yahia và CS)
nghiên cứu trên 48 BN bị tắc toàn bộ động mạch năo giữa một bên bán cầu nhận
thấy khác với sự phỏng đoán trước kia, khoảng thời gian cửa sổ từ lúc khởi phát
triệu chứng đến lúc có dấu hiệu rơ suy giảm chức năng thần kinh th́ nhỏ hơn 48
giờ. Điều này đưa đến kết luận là mọi can thiệp phải được thực hiện sớm trong
ṿng 24 giờ đầu sau đột quỵ.
- Về ứng dụng đều trị trong đột quỵ có một
số báo cáo về hiệu quả và tính an toàn của GV150526 là chất đối kháng chọn lọc
của glycin ở thụ thể NMDA, chất bảo vệ tế bào clomethiazol, yếu tố tăng trưởng
sợi bào trafermin làm duy tŕ sự sống của các tế bào thần kinh trong xử trí đột
quỵ giai đoạn cấp. Các nghiên cứu này cũng c̣n phải được thực hiện ở quy mô lớn
hơn.
- Một số các nghiên cứu khác t́m hiểu về
tiên lựợng như tiên lượng tử vong của các BN rung nhĩ và đột quỵ, tiên lượng của
các BN bị lỗ khuyết năo, yếu tố chỉ điểm về tiên lượng (bạch cầu lúc nhập viện).
Cụ thể là kết quả ghi nhận trên BN lần đầu bị đột quỵ th́ rung nhĩ là yếu tố
điểm chỉ độc lập về tử vong thời điểm 30 ngày và 1 năm sau. Sự tăng bạch cầu lúc
nhập viện là yếu tố nguy cơ cao và độc lập của tử vong, t́nh trạng lâm sàng
không cải thiện, do đó cần duy tŕ thời gian nằm viện lâu hơn.
2/ BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC TỪNG ĐÁM (XCRRTĐ):
Có 123 đề tài về bệnh lư này phản ánh rơ
tầm quan trọng của bệnh XCRRTĐ tại các nước Âu Mỹ.
- Một số tác giả Israel (Chapman và CS)
nghiên cứu trên 205 BN bị XCRRTĐ có mang allen APOE
e4. Kết quả ghi nhận có mối tương
quan của allen này với tốc độ diễn biến trầm trọng của bệnh. Đây là yếu tố di
truyền đầu tiên được xác định và cần phải lưu ư để hiệu chỉnh về đặc điểm tiên
lượng trong các nghiên cứu lâm sàng.
- Về giả thiết nhiễm trùng của bệnh
XCRRTĐ, một nghiên cứu đa trung tâm ở Canada và Anh (Poland và CS) trên 125 BN
so với lô chứng là 40 ngừơi đă kết luận không có mối tương quan giữa Clamydia
pneumonia và bệnh lư này. Tuy nhiên, một nghiên cứu đa trung tâm khác của
Pháp, Hà Lan và Canada (Marie và CS) trên 225 BN bị XCRRTĐ so với nhóm chứng là
900 người đă hỗ trợ cho giả thuyết khẳng định có sự liên quan giữa tiền căn
nhiễm bạch cầu đơn nhân và bị bệnh XCRRTĐ sau đó. C̣n nhiễm trùng hô hấp có thể
chỉ là yếu tố làm thay đổi khả năng miễn dịch hay có thể là yếu tố thúc đẩy.
- Có rất nhiều nghiên cứu về tác dụng cũng
như hiệu quả điều trị của Odansetron (kháng thụ thể 5HT3) trên biểu hiện run khi
chú ư của BN bị XCRRTĐ, tác dụng của Topiramate làm cải thiện triệu chứng đau
thần kinh tam thoa tái phát của BN bị XCRRTĐ. C̣n
b-Interferon trong thời gian
qua với rất nhiều nghiên cứu đa trung tâm đă cho thấy có hiệu quả làm giảm số
lần tái phát và làm chậm diễn biến của bệnh đến t́nh trạng khuyết tật. Nghiên
của Paty và CS (Canada) trong hội nghị trên 63 BN đă ghi nhận
b-Interferon làm chậm quá tŕnh chuyển đổi từ thể lâm
sàng tái phát - hồi phục sang thể tiến triển nặng của bệnh XCRRTĐ.
- Một nghiên cứu đa trung tâm của Yulin Ge
và CS ở Philadelphia về hiệu quả của Glatiramer Acetat (biệt dược là Copaxone)
trên bệnh XCRRTĐ thể tái phát hồi phục bằng sự theo dơi các sang thương trên
cộng hưởng từ hạt nhân (số sang thương, thể tích sang thương, thể tích chủ mô
năo). Nghiên cứu trên 27 BN cho thấy chất này có tác dụng chống viêm, bảo vệ
hàng rào mạch máu năo và làm chậm quá tŕnh teo năo ở BN bị XCRRTĐ.
- Một nghiên cứu của Khan và CS (Michigan)
trên 9 BN bị XCRRTĐ thể thoái triển nhanh kháng với qui tŕnh trị liệu kinh điển
cho thấy Cyclophosphamid truyền tĩnh mạch mỗi tháng có thể là phương pháp điều
trị hiệu quả và dễ dung nạp trong thể lâm sàng này (khi không đáp ứng với liều
cao Methyl Prednisolon hay các thuốc điều chỉnh miễn dịch).
3/ BỆNH PARKINSON:
Có 101 đề tài về bệnh Parkinson trong đó
có 21 báo cáo tại hội trường. Một số chủ đề đáng chú ư:
- Nghiên cứu của Danielle và CS (Roma) cho
thấy kích thích nhân dưới đồi bằng điện cao tần có một số hiệu quả tốt trên chức
năng nhận thức của BN Parkinson.
- Nghiên cứu của Pahwa và CS (Florida)
trên 16 BN bị Parkinson với thời gian mắc bệnh trung b́nh là 12,4 năm được đặt
điện cực kích thích nhân dưới đồi 2 bên đă cải thiện rơ các giai đoạn "bật" và
"tắt" cũng như các xáo trộn vận động. Nguy cơ tai biến do kỹ thuật này gây ra
không đáng kể so với hiệu quả nó mang lại.
- Báo cáo của Vieregge và CS (Đức) về thử
nghiệm hiệu quả của Nicotin dạng dán trên 32 BN Parkinson không hút thuốc, đánh
giá hiệu quả sau 12 tháng cho thấy không phải là phương pháp điều trị phụ trợ
nội khoa.
- Một số nghiên cứu khác tập trung vào
đánh giá hiệu quả và độ an toàn của một số thuốc mới như thuốc ức chế COMT, chủ
vận thụ thể Dopamin (Pramipexole). Kết quả nói chung là khả quan như làm chậm sự
xuất hiện các xáo trộn vận động khi so sánh với các lô điều trị bằng Levodopa
đơn thuần.
- Báo cáo đầu tiên của Swape (Loma Linda,
CA) ghi nhận trên 9 BN Parkinson sử dụng Sidenafil (Viagra) đă cho thấy giảm hẳn
các triệu chứng rối loạn vận động, cải thiện rơ rệt các biểu hiện của hội chứng
Parkinson trên 7 trường hợp. Các tác giả này đă đặt vấn đề về cơ chế tác dụng:
có thể do tăng hoạt DARPP22 (Dopamin and Cyclic AMP regulated phosphoprotein) là
nhờ vai tṛ dẫn truyền tại thể vân qua trung gian các thụ thể Dopamin.
4/ BỆNH ALZHEIMER:
Có 54 đề tài về bệnh Alzheimer: Một số tác
giả Wincosin nghiên cứu trên 14 BN Alzheimer có đối chứng cho thấy chỉ số MRI
chức năng là yếu tố điểm chỉ về sinh học của bệnh này.
- Nghiên cứu của Ballard và CS (New
Castle) trên 22 trường hợp Alzheimer đối chiếu với 66 trường hợp bệnh sa sút tâm
thần với thể Lewy th́ thấy trong thể bệnh SSTT với thể Lewy có sự suy giảm nhận
thức và khả năng chú ư bằng cách thực hiện trên BN các trắc nghiệm về khả năng
chú ư (SRT và CRT).
- Nghiên cứu của Henderson ở Indianapolis
trên 42 phụ nữ bị Alzheimer thể nhẹ và trung b́nh điều trị với Es-trogen
(1,25mg/ngày) so với lô chứng trong thời gian 16 tuần th́ kết quả không có sự
khác biệt về mặt thống kê.
- Nghiên cứu dịch tễ học-Framingham trên
790 nam và 1295 nữ cho thấy có sự giảm nguy cơ bị bệnh Alzheimer ở phụ nữ hút
thuốc nhưng không thấy ở đàn ông hút thuốc.
5/ ĐỘNG KINH: có 44 đề tài về động
kinh.
- Nghiên cứu của Mantegazza và CS (Milan)
cho thấy nồng độ kháng thụ thể Glutamat type 3 có trong 67% các trường hợp viêm
năo Rasmussen.
- Nghiên cứu của Degiorgio và CS (HOA KỲ)
trên 195 BN bị động kinh nặng kháng trị với thuốc cho thấy kỹ thuật kích thích
thần kinh X (VNS) làm giảm đến 45% các cơn động kinh 1 năm sau.
- Nghiên cứu của French (HOA KỲ) và Amigo
(Bỉ) trên 183 BN động kinh chia làm 3 lô điều trị với Leve-tiracetam th́ thấy
thuốc có tác dụng cắt cơn tức thời với độ an toàn cao trong các trường hợp động
kinh kháng trị.
- Một nghiên cứu bệnh - chứng của Langan
và CS (Anh) trên 154 trường hợp động kinh (tuổi trung b́nh 20-40, nam nhiều hơn
nữ) th́ thấy tần số cơn động kinh có ảnh hưởng rơ đến tỉ lệ tử vong.
- Nghiên cứu của Fitzgerald và CS so sánh
Lorazepam tiêm tĩnh mạch và Diazepam (toạ dược) 15-20mg/lần trong điều trị cắt
cơn động kinh kéo dài cho thấy Diazepam có hiệu quả hơn Lorazepam ở các BN ngoại
trú (dễ sử dụng, thời gian cắt cơn dài hơn).
6/ NHỨC ĐẦU VÀ MIGRAIN:
Có 35 đề tài về nhức đầu và migrain.
- Nghiên cứu của Amazio và CS (Ư) trên 2
nhóm bị migrain (19) và lô chứng (30) đều chịu ảnh hưởng của t́nh trạng stress
trong thực nghiệm (bơm hơi bao huyết áp kế quanh cánh tay) ở thời điểm không bị
migrain. Cả 2 nhóm đều được đo điện năo kí với 19 điện cực để ghi tần suất các
sóng th́ thấy ở giai đoạn không có cơn migrain, nhóm bệnh lư có sự giảm đáng kể
sóng
a1 (8-10Hz).
Kết luận là hoạt tính điện năo của nhóm bị migrain có ngưỡng đáp ứng thấp hơn
đối với t́nh trạng stress.
- Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi và có
đối chứng khác của Ferrari và CS (Hoa Kỳ) cho thấy Rizatriptan có tác dụng kéo
dài thời gian không bị migrain hơn Sumatriptan, Zolmitriptan và Naratriptan.
- Các tác giả Kim và CS (Seoul) dùng
Doppler xuyên sọ khảo sát huyết động học mạch năo trên 33 BN được chẩn đoán là
nhức đầu mạn tính hằng ngày (c̣n gọi là thể migrain chuyển dạng) và 33 BN được
chẩn đoán là nhức đầu mạn tính căng thẳng (chronic tension type headache). Kết
quả Doppler cho thấy có sự khác biệt rất rơ giữa 2 thể nhức đầu này về huyết
động học. Do đó, các tác giả kết luận thể migrain chuyển dạng phải được xem là
một thực thể lâm sàng khác v́ phân loại của IHS chỉ đề cập đến một loại nhức đầu
mạn tính chung là nhức đầu mạn tính căng thẳng.
- Nghiên cứu của Mathew và CS (Texas) trên
66 BN bị migrain kháng trị (thể migrain chuyển dạng) được điều trị làm 2 lô bằng
Dihydroergotamin (IV) và bằng Depa-kine 500mg/8 giờ (IV) trong 2 ngày cho thấy
Depakine có tác dụng giống như DHE mà lại ít tác dụng phụ.
7/ KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN CAO:
Khác với cách đây hơn 15 năm, cộng hưởng
từ hạt nhân chiếm ưu thế rơ rệt. Có 83 đề tài về MRI qui ước, 11 đề tài về quang
phổ cộng hưởng từ (MRI Spectroscopy), 21 đề tài về EEG, 17 đề tài khác về điện
sinh lư (điện cơ kí, điện thế gợi) chỉ c̣n 7 đề tài báo cáo về CT Scan mà phần
lớn là kỹ thuật CT tưới máu (CT perfusion), có 14 đề tài báo cáo về SPECT.
- Nghiên cứu MRI trên 57 BN bị Lupus ban
đỏ của Lee và CS (Seoul) cho thấy trong thể có biểu hiện thần kinh th́ nhồi máu
vùng vỏ năo thường gặp nhiều nhất trong khi teo vỏ năo hay dấu tăng tín hiệu cận
năo thất thường thấy ở giai đoạn diễn tiến mạn tính của bệnh.
- Tác giả Novak ở Ohio cho thấy MRI với độ
phân giải cực cao (8 tesla) là kỹ thuật rất hiệu quả để khảo sát thân năo và cấu
trúc hố sau.
- Tác giả Kupersmith và CS ở New York
nghiên cứu MRI có cản từ trên 74 BN viêm thần kinh thị cấp đă thấy độ nhậy của
kỹ thuật này lên đến 93,7%. Ngoài ra, kỹ thuật MRI có tiêm cản từ và xóa cấu
trúc mỡ nên được sử dụng cho các trường hợp mất thị lực mà nguyên nhân không rơ
hay nghi ngờ có viêm thần kinh thị.
- Li và CS (Hoa Kỳ) nghiên cứu các BN bị
xơ cứng cột bên teo cơ cho thấy điện cơ kí khảo sát cơ ức đ̣n chũm là hữu ích
trong chẩn đoán thể lâm sàng hành tủy, hơn là các cơ hạ thiệt, thang dưới, thang
trên, cận sống ngực.
- Suhy và CS (San Francisco) dùng cộng
hưởng từ Proton (PrMRI) để xác định N Acetyl Aspartate (NAA) ở vơ năo BN bị xơ
cứng cột bên teo cơ so với nhóm chứng th́ thấy có sự giảm rơ rệt chất này ở nhóm
bệnh. Kết luận là kỹ thuật xác định NAA có thể dùng để đánh giá hiệu quả điều
trị, phát hiện giai đoạn sớm của bệnh.
- Cambier và CS (Hoa Kỳ) khảo sát trên 8
BN có tiêu chuẩn lâm sàng và điện năo chẩn đoán là bệnh Creutz Feld-Jacob (CJD),
các BN này được làm MRI với kỹ thuật FLAIR. Các bất thường về tín hiệu ghi nhận
ở vùng vỏ và chất xám sâu có giá trị cao để chẩn đoán dương tính bệnh CJD mà
không cần phải làm thêm các xét nghiệm xâm lấn khác.
- Một số tác giả ở Taiwan khảo sát 32 BN
bị bệnh Parkinson so với 15 người b́nh thường bằng cách dùng Tropane gắn Tc99 là
chất đánh dấu vận chuyển Dopamin. Kết quả cho thấy sự hấp thu Dopamin giảm đáng
kể ở thể vân của nhóm bị Parkinson. Kỹ thuật này như vậy rất có hiệu quả để đánh
giá sự thay đổi, vận chuyển Dopamin trong các giai đoạn của bệnh Parkinson.
MỘT SỐ NHẬN XÉT TỪ HỘI NGHỊ:
- Nghiên cứu được tiến hành bởi tập thể
nhóm (ít nhất là 5 người và nhiều nhất là 30 người), một số lớn là đa trung tâm,
đa quốc gia.
- Các báo cáo của các tác giả ngoài nước
Mỹ chiếm tỉ lệ 38,46%, các nước ngoại quốc có nhiều báo cáo nhất như Pháp, Anh,
Đức, Ư, Hà Lan.
- Chính phủ và các đại học tài trợ cho
nghiên cứu 73,08%, các hiệp hội 19,23%, các hăng thuốc 5,77%.
- Loại nghiên cứu mô tả cắt ngang chiếm tỉ
lệ cao nhất. Loại nghiên cứu thuần tập được sử dụng nhiều trong dịch tễ học thần
kinh. Nghiên cứu mù đôi - ngẫu nhiên và có đối chứng được dùng nhiều trong các
thử nghiệm tác dụng của thuốc mới. Các hồi cứu cũng chiếm một tỉ lệ lưu ư, đặc
biệt một số kinh nghiệm rút ra sau khi sử dụng các kỹ thuật chẩn đoán hay thuốc
điều trị. Nghiên cứu về các phương thức điều trị chiếm tỉ lệ 21,15%, các báo cáo
về kỹ thuật chẩn đoán cao chiếm tỉ lệ 25%.
- Không phải bất cứ kết quả nghiên cứu nào
cũng có kết quả dương tính mà một số có kết quả âm. Có những nghiên cứu rất
chuyên sâu như của một số tác giả ở Mỹ thực hiện việc ghép tế bào thần kinh trên
các BN tai biến mạch máu năo (Philadelphia), có những nghiên cứu có tính chất
đơn giản hơn như yếu tố điểm chỉ tiên lượng của bạch cầu trên BN tai biến mạch
máu năo.
- Để kết luận, chúng tôi xin ghi lại nhận
xét của một đồng nghiệp Pháp về hội nghị này: "Hội nghị thần kinh học Hoa Kỳ là
một đỉnh cao của thần kinh học thế giới".
--------- BS Nguyễn Thi Hùng
Khoa Thần kinh BV Nguyễn Tri Phương
Hội viên AAN
Vai tṛ chất chuyển hóa vitamin D trong điều trị bệnh
loăng xương
Ngày 15/8/2000, công ty Roche tổ chức sinh
hoạt khoa học về Vai tṛ chất chuyển hóa vitamin D trong điều trị bệnh loăng
xương do GS BS John Christopher Gallagher, giảng viên chuyên khoa chỉnh h́nh
trường đại học y khoa Creighton, Omaha, bang Nebraska, Mỹ, tŕnh bày.
Hiện nay trong điều trị loăng xương, đă có
nhiều phác đồ điều trị phối hợp. Điều này có tính logic hơn là đơn trị liệu bởi
v́ sinh bệnh học của loăng xương là sự kết hợp của nhiều yếu tố. Gia tăng tiêu
hủy xương là nguyên nhân chủ yếu của loăng xương và trong số những yếu tố quan
trọng góp phần làm tiêu hủy xương là sự kém hấp thu calcium và giảm nồng độ
calcitriol huyết thanh.
Về sinh bệnh học của loăng xương, ở nhiều
BN loăng xương tưp I và tưp II có kém hấp thu calcium, có thể là do lăo hóa ở
ruột, ở thận, hoặc bất thường trong việc sản xuất 1,25(OH)2D3.
Cho BN loăng xương sử dụng liều nhỏ chất tổng hợp 1,25(OH)2D3
(Rocaltrol) sẽ làm b́nh thường hóa hấp thu calcium (liều 0,25
mg x 2 lần/ngày). Tăng hấp
thu calcium làm cải thiện sự cân bằng calcium. Liều 0,5
mg/ngày thấp hơn lượng sản sinh hàng ngày của
thận, nên không có độc tính đáng kể nào.
Điều trị loăng xương sau măn kinh (tưp I)
với calcitriol và với chất đồng đẳng vitamin D đă cho thấy những hợp chất này có
hiệu quả làm giảm 50% xuất độ găy lún đốt sống, tương đương với kết quả của một
vài trị liệu khác. Hiện có vài nghiên cứu về điều trị loăng xương ở người già
(tưp II) với vitamin D. Chúng tôi vừa hoàn thành nghiên cứu STOP IT trên phụ nữ
lớn tuổi. Có khoảng 500 phụ nữ với tuổi trung b́nh là 71, được phân chia ngẫu
nhiên để sử dụng estrogen, hoặc calcitriol, hoặc estrogen + calcitriol hoặc giả
dược trong một nghiên cứu mù đôi và ngẫu nhiên. Kết quả cho thấy calcitriol,
estrogen hoặc kết hợp cả hai đều làm tăng mật độ xương sống có ư nghĩa thống kê.
Kết hợp calcitriol và estrogen có hiệu quả cao ở mật độ xương sống hơn bất kỳ
đơn trị liệu nào. Kết quả tương tự như vậy nhưng hiệu quả thấp hơn về mật độ
xương ở cổ xương đùi, xương quay và toàn thân bởi lẽ đây là những vị trí của chủ
yếu xương vỏ.
Những dữ liệu tiền cứu thu thập về găy
xương không ở đốt sống trong 3 năm, cho thấy calcitriol làm giảm xuất độ găy
xương không ở đốt sống so với giả dược, nhưng hiệu quả của phác đồ phối hợp trên
găy xương không cao hơn calcitriol đơn thuần. Như vậy giảm găy xương không có
liên quan đến sự thay đổi mật độ xương. Một ghi nhận đáng chú ư trong nghiên cứu
này là đă có ít tai nạn té ngă trong nhóm được điều trị với calcitriol hơn nhóm
giả dược.
Tóm lại, giảm găy xương không ở đốt sống
có lẽ liên quan việc giảm té ngă hơn là sự gia tăng mật độ xương. Tuy nhiên,
phác đồ phối hợp có lợi không những làm giảm số BN mất xương của đơn trị liệu mà
c̣n có tác dụng làm giảm găy lún đốt sống không do té ngă.
BS
Lê Anh Bá
Hội thảo về chất tương phản dùng trong chẩn đoán h́nh ảnh
Ngày 8/9/2000, tại Trung tâm Đào tạo và
Bồi dưỡng Cán bộ Y tế TP.HCM, Hội Chẩn đoán H́nh ảnh TP.HCM và công ty Guerbet
đă tổ chức Hội thảo về chất tương phản dùng trong chẩn đoán h́nh ảnh.
Theo BS Phan Thanh Hải, kỹ thuật chẩn đoán
h́nh ảnh đă phát triển nhanh chóng và hiện nay đang giữ vị trí trung tâm trong
tiến bộ y học. Chẩn đoán h́nh ảnh với sự hỗ trợ của kỹ thuật vi tính, phần
mềm,..đă chuyển quan điểm từ kỹ thuật ít xâm lấn sang kỹ thuật không xâm lấn và
ít nguy hại cho BN. Một trong những tiến bộ của chẩn đoán h́nh ảnh là vai tṛ
của chất tương phản v́ đă nâng cao hiệu quả của chẩn đoán. Một chất tương phản
lư tưởng là chất có giá trị chẩn đoán đặc hiệu, an toàn, ít tai biến và giá
thành thấp để có thể sử dụng rộng răi.
Về chất tương phản hiện dùng, BS Phạm Ngọc
Hoa đă tŕnh bày tổng quan về chất tương phản như chất cản quang iod (áp thẩm
cao và thấp, không ion hóa và ion hóa), chất tương phản từ.
Về tác dụng phụ của chất tương phản, BS
Nguyễn Văn Công ghi nhận tại Trung tâm Chẩn đoán Y khoa là loại có ion và độ
thẩm thấu cao gây tác dụng phụ từ 0,45% - 1,2% so với chất không ion và độ thẩm
thấu thấp là 0,09% (gấp 5 lần). Tuy giá thành của chất không ion và độ thẩm thấu
thấp mắc tiền hơn hai lần, nhưng tính theo lợi ích và an toàn cho người bệnh th́
nên sử dụng chất tương phản không ion và độ thẩm thấu thấp.
Cuối chương tŕnh hội thảo là phần tŕnh
bày của BS Nguyễn Quư Khoáng về Cách chuẩn bị BN chụp CT có chích thuốc tương
phản và xử trí khi có phản ứng. Phản ứng với chất tương phản, nhất là các
phản ứng nguy kịch như biến chứng hô hấp, tim mạch, choáng phản vệ mặc dù hiếm
xảy ra nhưng với trách nhiệm và lương tâm người thầy thuốc cần hết sức thận
trọng và cảnh giác khi chất tương phản cho BN. Cần chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng
thuốc men và phương tiện cấp cứu để tránh mọi rủi ro đáng tiếc cho BN.
Hội nghị khoa học kỹ thuật toàn quốc của Hội Gây mê Hồi
sức Việt nam
Hội nghị khoa học kỹ thuật toàn quốc của
Hội Gây mê Hồi sức Việt Nam với chủ đề: "Chào mừng thiên niên kỹ mới" đă
được tổ chức tại trường đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ ngày 11 - 12 tháng 8
năm 2000. Về dự hội nghị có hơn 300 cán bộ đang làm công tác Gây mê Hồi sức khắp
mọi miền trong nước từ Cà Mau, Minh Hải đến Cao Bằng, Lạng Sơn. GS.TS. Lê Ngọc
Trọng, thứ trưởng thường trực bộ Y Tế đă đến dự và phát biểu ư kiến về t́nh
h́nh, nhiệm vụ của chuyên khoa gây mê hồi sức hiện tại và chỉ đạo chiến lược
phát triển ngành gây mê hồi sức thời gian tới.
Ngày 11 tháng 8 năm 2000, sau phần khai
mạc, hội nghị đă được nghe đoàn gồm 9 giáo sư, bác sĩ từ trường đại học Mayo
Clinic (Hoa Kỳ) báo cáo những tiến bộ mới về 4 chuyên đề: (1) Bệnh lư
sốc ( shock ) nhiễm trùng. (2) Điều trị suy hô hấp ở người lớn (ARDS). (3) Gây
mê hồi sức ở trẻ em. (4) Gây mê cho các người bệnh cao huyết áp và suy tim.
Các đề tài do các chuyên gia Việt
Nam báo cáo:
-
Chiến lược chọn lựa máy gây mê cho bệnh viện tuyến
tỉnh, huyện.
-
Truyền máu và pha loăng máu để tiết kiệm máu
trong gây mê - phẫu thuật.
-
Gây mê cho người bệnh bị nhiễm HIV + và AIDS.
-
Giảm đau sau mổ.
Ngày 12 tháng 8 năm 2000, hội
nghị đă được nghe hơn 30 báo cáo khoa học do các giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ gây mê
hồi sức thực hiện và tŕnh bày. Sau đó ban chấp hành Hội Gây mê Hồi sức Việt Nam
đă họp để đề ra phương hướng hoạt động cuả Hội trong thời gian tới sao cho hiệu
quả tốt cũng như chuẩn bị cho hội nghị Gây mê Hồi sức các nước Đông Nan Á năm
2005 mà Hội đă đăng cai tổ chức.
Ngày 13 tháng 8 năm 2000, các đại biểu đă
được Công ty Abbott Việt Nam, cơ quan tài trợ chính hội nghị, mời tham quan công
tŕnh cầu Mỹ Thuận và du lịch miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long cho các đại
biểu.
Hội nghị đă được đánh giá thành công tốt
đẹp.
PGS. Nguyễn Văn Chừng
HỘI NGHỊ TỔNG KẾT LÂM SÀNG VỀ LIỆU PHÁP HORMON THAY THẾ
-Một hội nghị quốc tế được tổ chức vào
tháng 7/1999 tại Ư với mục đích tổng hợp các dữ liệu lâm sàng về liệu pháp
hormon thay thế (HTT). Dưới đây là tóm tắt biên bản tổng hợp của ban thư kư Hội
nghị.
Măn kinh
Măn kinh là chấm dứt kinh nguyệt vĩnh viễn
do mất chức năng nang noăn ở buồng trứng, thường được chẩn đoán hồi cứu sau 12
tháng vô kinh. Tuổi măn kinh thay đổi tùy người, trung b́nh trên thế giới là 50
tuổi, phụ nữ ở các nước đang phát triển măn kinh sớm hơn và- ít có triệu chứng
cơn bốc hỏa hơn so với phụ nữ ở các nước công nghiệp hóa. Những yếu tố ảnh hưởng
đến thời kỳ măn kinh ở các nước đang phát triển là suy dinh dưỡng, nhiễm khuẩn,
thiếu máu, số lần thai nghén, hư thai và số con.
Triệu
chứng măn kinh: Trong thời kỳ gần măn kinh
(trước măn kinh chừng 4 năm), rất khó tiên đoán được nồng độ FSH, LH, estradiol
và estrone. Hệ quả là phát sinh các triệu chứng điển h́nh như rối loạn kinh
nguyệt, rối loạn vận mạch (cơn bốc hỏa, vă mồ hôi), và các triệu chứng niệu-sinh
dục (kích ứng do khô và teo âm đạo, giao hợp đau, teo biểu mô niệu đạo dẫn đến
rối loạn tiểu tiện). Các triệu chứng không điển h́nh là hay gắt gỏng, đau khớp,
mất ngủ và thay đổi tính nết. Tần suất, mức độ, khởi phát và thời gian kéo dài
triệu chứng thay đổi tùy người và chủng tộc, và có thể tiếp tục tồn tại lâu sau
măn kinh.
Mục đích chính của liệu pháp HTT (estrogen
hoặc estrogen + progestagen) là giảm nhẹ triệu chứng. Có thể dùng HTT qua đường
uống, xuyên da, tại chỗ, nhỏ mũi hoặc cấy dưới da. Chỉ định điều trị HTT là các
rối loạn vận mạch và teo biêu mô niệu-sinh dục. Các nghiên cứu đều thấy mọi điều
trị HTT đều giảm cơn bốc hỏa, nhưng vẫn ghi nhận hiệu ứng giả dược đối với triệu
chứng này. Triệu chứng niệu-sinh dục giảm khi dùng đường uống hoặc đường âm đạo.
Tế bào âm đạo thường được cải thiện sau vài tháng dùng thuốc.
Liệu pháp HTT có hiệu quả với các triệu
chứng măn kinh, có thể tiếp tục điều trị để dự pḥng các bệnh khác như loăng
xương và bệnh tim mạch. Phụ nữ thường không tiếp tục dùng thuốc khi không c̣n
triệu chứng. Do đó, họ cần được tham vấn để tiếp tục điều trị và việc theo dơi
phụ nữ dùng HTT rất hữu ích.
Những vấn đề c̣n phải nghiên cứu thêm là:
tốt nhất nên bắt đầu điều trị vào lúc nào; sự khác biệt giữa các chủng tộc; việc
sử dụng androgen trên phụ nữ không c̣n ham muốn (libido); vấn đề tăng cân; và có
nên điều trị những phụ nữ có triệu chứng nhưng họ không thấy phiền hà ǵ.-----
Loăng xương:
Loăng xương là giảm khối lượng xương và
rối loạn vi cấu trúc mô xương, làm xương yếu đi và dễ găy. Mật độ chất khoáng
xương đi kèm với tăng nguy cơ găy xương, và phụ nữ có mật độ xương ở tứ phân vị
thấp nhất th́ nguy cơ găy cổ xương đùi tăng gấp 12 lần. Nguy cơ găy xương trong
khoảng đời c̣n lại của một phụ nữ (da trắng) 50 tuổi là 30-40%. Trước măn kinh,
phụ nữ chỉ mất xương nhẹ. Măn kinh làm mất xương tăng tốc trong ṿng 5-6 năm,
sau đó giảm đều và sau 74 tuổi lại tăng tốc nhanh hơn. Mất xương sau măn kinh có
liên quan với tăng chu chuyển xương, và hiện tượng này lệ thuộc estrogen, ngay
cả ở người cao tuổi.
Phụ nữ thường dùng HTT sớm sau khi măn
kinh và ngưng dùng sau vài năm điều trị, trong khi đa số găy xương do loăng
xương lại xảy ra sau tuổi 65. Cần thiết phải dùng liên tục mới giảm được xuất độ
găy xương.
Dùng HTT 2-3 năm mới ngăn ngừa được mất
xương. Liều thường dùng là 0,625 mg estrogen kết hợp, 1-2 mg 17-b estradiol, và 50-100
mg 17b-estradiol
xuyên da tỏ ra hiệu quả (<10% phụ nữ bị mất xương). Mới đây, c̣n thấy rằng những
liều thấp hơn vẫn hữu hiệu, nhất là khi măn kinh đă lâu. Loại progestagen được
dùng phối hợp không ảnh hưởng đến đáp ứng của khung xương với estrogen, trừ
những hợp chất có tính androgen như norethisterone acetat (có tác dụng đồng hóa
trên mô xương).
Các kết luận về hiệu quả của HTT trên găy
xương được rút ra từ những nghiên cứu bệnh-chứng và thuần tập, chứ ít có nghiên
cứu tiền cứu. Đang dùng HTT, nhất là dùng dài hạn, giảm được 30-50% số trường
hợp găy cổ xương đùi, đốt sống, và cổ tay; nhưng đă ngưng dùng th́ không c̣n
được bảo vệ. Sau khi ngưng thuốc, mất xương sẽ xảy ra lại trong ṿng 1 năm, và
chu chuyển tăng trở lại trong ṿng 3-6 tháng như phụ nữ không điều trị.
Bổ sung calci và/hoặc vitamin D có thể có
ích, nhất là ở phụ nữ cao tuổi. Phối hợp liệu pháp HTT với một thuốc chống tiêu
xương khác (ví dụ bisphosphonat) hoặc một thuốc tạo xương là một khả năng đáng
lưu ư cần được nghiên cứu. Các vấn đề khác cần nghiên cứu thêm là cơ chế ảnh
hưởng chuyển hóa xương của estrogen; hiệu quả và sự tuân thủ dùng HTT ở phụ nữ
măn kinh đă lâu.
Bệnh tim mạch-
Các nghiên cứu dịch tễ học thống nhất kết
luận rằng phụ nữ dùng HTT có nguy cơ thấp đối với bệnh mạch vành. Barett-Connor
và Grady đă rà soát lại 25 nghiên cứu đă công bố thấy rằng nguy cơ tương đối
bệnh tim mạch vành đối với phụ nữ từng dùng estrogen là 0,7 so với người chưa hề
dùng; nguy cơ tương đối của phụ nữ từng dùng estrogen/progestagen tương tự như ở
người không dùng HTT (0,66). Lợi ích chỉ lộ rơ ở những phụ nữ đang dùng hoặc mới
ngưng dùng HTT. Nguy cơ tương đối ở những đối tượng này là 0,65. Những kết quả
này đều thống nhất trên những dân số khác nhau và với những thiết kế nghiên cứu
khác nhau.
Số liệu thực nghiệm trên người và động vật
cho thấy liệu pháp HTT cải thiện được các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch vành.
Tác dụng được chứng minh rơ nhất là trên lipid: estrogen làm giảm LDL và
lipoprotein A, làm tăng HDL. Đó là những thay đổi có lợi. Estrogen c̣n thúc đẩy
sự giăn mạch lưu thông máu, và có tác dụng chống ôxy-hóa trên LDL. Tác dụng này
giải thích tại sao estrogen làm giảm thu giữ LDL trong thành mạch của súc vật
thực nghiệm.
Duy nhất mới chỉ có một nghiên cứu lâm
sàng lớn, ngẫu nhiên hóa, đă hoàn tất và được công bố năm 1998 (HERS = Heart and
Estrogen/progestin Replacement Study) trên phụ nữ bị bệnh tim mạch vành. Điều
trị liên tục phối hợp 0,625 mg estrogen ngựa kết hợp và 2,5 mg
medroxyprogesterone acetat được so sánh với giả dược. Sau thời gian theo dơi
trung b́nh là 4,1 năm, nghiên cứu này báo cáo rằng không thấy tác dụng rơ nét
của liệu pháp HTT trên sự tái diễn bệnh tim mạch vành, nhưng có một xu hướng có
ư nghĩa giảm nguy cơ khi càng dùng lâu.
Nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch
được đánh giá qua các nghiên cứu quan sát và nghiên cứu HERS, cho thấy tăng nguy
cơ 2-3 lần khi dùng HTT. Tuy vậy, trên phụ nữ không có yếu tố dọn đường, th́
nguy cơ chỉ tăng ít. Ảnh hưởng của HTT trên nguy cơ đột quỵ chưa rơ lắm. Nhiều
bằng chứng cho thấy nguy cơ này không giảm và cũng không tăng.
HTT và nguy cơ ung thư
Dựa vào việc phân tích lại số liệu trên 51
000 phụ nữ ung thư vú và 108 000 người chứng (qua 51 nghiên cứu trên toàn thế
giới), Nhóm Hợp tác Nghiên cứu về Yếu tố Hormon trong Ung thư vú báo cáo rằng
phụ nữ từng dùng HTT có nguy cơ tương đối ung thư vú tăng khoảng 41%. Nguy cơ
tăng chủ yếu ở những người đang dùng hoặc mới ngưng dùng: b́nh quân cứ mỗi năm
dùng HTT, nguy cơ tăng 2-3%. Nói chung, dùng HTT trong 1-2 năm th́ nguy cơ tăng
không đáng kể. Sau khi ngưng liệu pháp HTT 5 năm th́ hầu như không c̣n nguy cơ
trên ung thư vú. Liệu pháp phối hợp với progestagen xem ra không làm giảm nguy
cơ quá cao của estrogen.
Nguy cơ cao bị ung thư nội mạc tử cung do
sử dụng estrogen trong liệu pháp HTT có thể được giảm bớt khi dùng phối hợp với
progestagen ít nhất là 12 ngày mỗi tháng. Đôi khi progestagen tỏ ra kém được
dung nạp, do đó thầy thuốc cần khuyên BN tuân thủ dùng progestagen trong thời
gian điều trị với estrogen. Nếu không, nguy cơ ung thư tử cung do estrogen sẽ
tăng cao.
Những trường hợp được chẩn đoán ung thư vú
và ung thư nội mạc tử cung trên BN dùng HTT thường ít xâm lấn hơn trên những phụ
nữ chưa hề dùng liệu pháp này. Tuy vậy, có thể do các đối tượng dùng HTT thường
được khám phụ khoa định kỳ nên ung thư được phát hiện ở giai đoạ- sớm hơn.
Nguy cơ ung thư đại-trực tràng trên phụ nữ
dùng HTT thấp hơn nguy cơ của phụ nữ không dùng thuốc. Điều này được rút ra qua
14 nghiên cứu quan sát thấy rằng nguy cơ tương đối của ung thư đại-trực tràng
chỉ là 0,7-0,8 trên phụ nữ đang dùng hoặc mới ngưng dùng HTT.
Liệu pháp HTT trên phụ nữ có tiền
căn ung thư vú hoặc ung thư nội mạc tử cung
Cho đến gần đây, tiền sử ung thư căn đă
điều trị được xem là một chống chỉ định của liệu pháp HTT. Hiện chưa có đủ số
liệu để bác bỏ hoặc ủng hộ cho giả thiết đó. BN ung thư vú nếu được cắt bỏ buồng
trứng hoặc làm giảm nồng độ estrogen nội sinh sẽ làm chậm tái phát và cải thiện
thời gian sống thêm của BN ung thư vú. Do vậy, thầy thuốc và BN có triệu chứng
hoặc nghi ngờ ung thư vú phải thật thận trọng khi sử dụng liệu pháp HTT.
(Xem tiếp trang 287)
Đối với ung thư nội mạc tử cung t́nh h́nh
cũng tương tự. BN ung thư tử cung đă được điều trị trước đây vẫn có thể sử dụng
được liệu pháp HTT, v́ những lợi ích vượt trội của liệu pháp này so với nguy cơ
tái phát chưa lấy ǵ làm chắc chắn.
Ảnh hưởng trên tâm thần
Tuy các nghiên cứu thực nghiệm về hormon
trên động vật và kết quả của các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy các chế phẩm
HTT có tác dụng bảo vệ đối với chức năng nhận thức và bảo vệ chống bệnh
Alzheimer (thông qua tác động trên chuyển hóa
b-amyloid, thúc đẩy hoạt
động hệ đối giao cảm, giảm stress ôxy-hóa, ngăn chặn chết tế bào thần kinh hàng
loạt),- nhưng số liệu chung vẫn chưa đủ để kết luận dứt khoát. Do vậy, không nên
dùng HTt với mục đích đơn thuần là điều trị loạn thần hoặc các rối loạn chức
năng nhận thức.
Kết luận
Khó đưa ra một khuyến nghị về việc sử dụng
dài hạn liệu pháp HTT. Mặc dù có bằng chứng về ích lợi của liệu pháp HTT dài
ngày, nhưng tính chung cán cân quân b́nh giữa nguy cơ và lợi ích không lệch hẳn
về bên nào. Đối với người này có thể hưởng lợi nhiều hơn là nguy cơ, nhưng đối
với người khác có thể lợi bất cập hại. Do đó, việc sử dụng HTT phải phù hợp với
nhu cầu và ước muốn của từng BN cụ thể. Dù sao, khi đă bắt đầu dùng liệu pháp
này- dù dài hạn hay ngắn hạn -- người thầy thuốc phải xác định rơ mục đích điều
trị và trao đổi với BN để họ hiểu rơ các lợi ích và nguy cơ có thể có.
Theo Clinical Synthesis Panel on
HRT. Lancet 1999;354:152-155. (NT).---
|