HÌNH ẢNH MẠCH MÁU VÀ TUẦN HOÀN BÀNG HỆ
NGOÀI GAN TRONG UNG THƯ GAN NGUYÊN PHÁT
Huỳnh Ðức Long* Thi Văn Gừng* Thái Ngọc Dâng* Trần Ngọc Danh*
Phạm Ngọc Hoa** Ðặng Vạn Phước***
ÐẶT VẤN ÐỀ
Ung thư gan nguyên phát loại carcinoma tế
bào gan (HCC: Hepatocellular carcinoma) là loại u gan ác tính thường gặp ở Châu
Á (1-5)
và ở nước ta.(6) Phương pháp điều trị triệt để thường là phẫu thuật
cắt bỏ u gan; tuy nhiên trong nhiều trường hợp không thể có chỉ định phẫu thuật.(7)
Do vậy, gần đây phương pháp TOCE (Trans-catheter Oily ChemoEmbolization) được áp
dụng nhằm hỗ trợ cho phẫu thuật. Ðây là phương pháp kết hợp việc tiêm hỗn hợp
Lipiodol và thuốc chống ung thư với kỹ thuật gây tắc nghẽn mạch máu đến nuôi
khối u. Từ tháng 7 năm 1999, phương pháp này đã được thực hiện ở Khoa Chẩn Ðoán
Hình Ảnh, bệnh viện Chợ Rẫy như là một phương pháp điều trị hỗ trợ cho phẫu
thuật. Ðể bảo đảm kỹ thuật, nhất thiết khối u phải được gây hoại tử toàn bộ. Báo
cáo này nhằm tìm hiểu về hình ảnh mạch máu của khối u cũng như hệ thống mạch máu
đến gan, khối u và tuần hoàn bàng hệ ngoài gan trong HCC để có thể thực hiện tốt
kỹ thuật TOCE.
ÐỐI TƯỢNG và PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ðây là nghiên cứu hồi cứu mô tả hình ảnh
mạch máu của 201 trường hợp đã được thực hiện kỹ thuật TOCE, từ 30/7/1999 đến
10/8/2000 tại Khoa Chẩn Ðoán Hình Ảnh, BV Chợ Rẫy.
Ðối tượng:
201 bệnh nhân được tiến hành 244 lượt TOCE
dựa theo các tiêu chí sau:
- Chẩn đoán xác định ung thư gan dựa
vào: lâm sàng, xét nghiệm AFP, chức năng gan, hình ảnh học (CT, Siêu âm,
MRI) và nhất là kết quả sinh thiết.
- Không có chỉ định ngoại khoa.
- Không có chống chỉ định của TOCE.
Nhận dạng hệ mạch máu đến gan
Bệnh nhân được chụp hình động mạch
(ÐM) thân tạng, ÐM mạc treo tràng trên để chẩn đoán bản đồ mạch máu gan và khối
u; đồng thời đánh giá vị trí, số lượng và tính chất u. Ðối với các khối u lớn
nằm ở ngoại biên gan, có thể khám xét chọn lọc các nguồn ÐM của hệ tuần hoàn
bàng hệ ngoài gan: ÐM hoành dưới, liên sườn, vú trong, thắt lưng, thận - thượng
thận bên phải, vị trái.
Nhận dạng hệ mạch máu đến gan theo Michels
NA,(8)
với các dạng thay đổi giải phẫu hệ ÐM đến gan như sau:
- Dạng A thường gặp (55%): ÐM thân tạng
cho 3 nhánh lách, vị trái và gan chung. ÐM gan chung cho ra gan riêng và vị
tràng. ÐM gan riêng phân thành ÐM phải, giữa và trái.
- Dạng B (11%): ÐM gan trái xuất phát từ
ÐM vị trái. ÐM gan phải vẫn xuất phát từ- ÐM gan riêng.
-- Dạng C (10%): ÐM gan phải xuất phát từ ÐM mạc treo
tràng trên, ÐM gan trái vẫn từ ÐM gan riêng.
- Dạng D (7%): Giống dạng A có
thêm nhánh ÐM gan phải phụ xuất phát từ mạc treo tràng trên.
- Dạng E (8%): giống dạng A có thêm nhánh
ÐM gan trái phụ xuất phát từ ÐM vị trái.
- Dạng F (5%): ÐM thân tạng chỉ cho 2
nhánh: lách và vị trái. ÐM gan chung xuất phát từ ÐM mạc treo tràng trên và vẫn
cho ÐM gan riêng, gan phải, giữa và trái.
- Dạng G (0,5%): ÐM thân tạng cho 2 nhánh:
lách và vị trái. ÐM gan chung xuất phát từ ÐM vị trái và vẫn cho ÐM gan riêng,
gan phải, giữa và trái.
- Dạng H (1%): ÐM gan phải xuất phát sớm
từ ÐM thân tạng (không có ÐM gan chung).
Kỹ thuật thực hiện:(,9,10)
Các bước chính:
- Gây tê tại chỗ vùng bẹn, chọc dò ÐM đùi
chung.
- Ðưa Introducer 5-6F vào động mạch.
- Ðưa chọn lọc Catheter Yashiro 4-5F vào
thân tạng và mạc treo tràng trên. Bơm thuốc chẩn đoán hệ ÐM đến gan và hệ tĩnh
mạch cửa: dùng 10 - 20 ml Telebrix 350, 7- 10 ml/s, áp lực 800 -1000 PSI.
- Tùy theo kết quả có được sẽ quyết định
khảo sát chọn lọc tiếp ÐM nào.
- Tiến hành bơm hỗn hợp Lipiodol + thuốc
chống ung thư vào ÐM nuôi khối u: Lipiodol 10 ml (3 -20 ml), Doxorubicin 30 mg
(10-100 mg), Mitomycin C 10 mg (5-40 mg).
. Nếu nghi ngờ có tuần hoàn bàng hệ ngoài
gan đến nuôi khối u thì phát hiện tất cả các nhánh đó để bơm thuốc và làm tắc
nghẽn. Các ÐM nhỏ được chụp 3-7 ml Telebrix 350ml, 3-5 ml/s, 600 PSI.
|

Sơ đồ 1: Dạng A: 70%
|
Sơ đồ 2: Dạng
B: 8%
|
|

Sơ đồ
3: Dạng C: 12%
|
Sơ đồ 4: Dạng
F: 10%
|
|
Ghi chú: GC: gan chung; GR: gan
riêng; GP: gan phải; GG: gan giữa; GT: gan trái;
--------------- VT: vị tràng; L:
lách; MTTT: mạc treo tràng trên; VTG: vị tràng.
|
. Nếu phát hiện có Shunt quan trọng giữa
ÐM gan và tĩnh mạch cửa, thì làm tắc Shunt trước với Spongel sau đó mới tiến
hành bơm thuốc.(7,9)-
KẾT QUẢ
1- Hệ mạch máu đến gan
Ðộng mạch : Nhận dạng hệ mạch máu đến gan theo Michels
NA, trong nghiên cứu này thấy:
Dạng A: 70 %
Dạng B: 8%
Dạng C: 12%
Dạng F: 10%
Tĩnh
mạch cửa: Các nhánh chính của tĩnh mạch cửa
thường ít có thay đổi vị trí giải phẫu học. Trên các hình chụp mạch máu, khó
đánh giá huyết khối trong các nhánh nhỏ.
2- Hình ảnh mạch máu khối u
- Nhiều mạch máu tân sinh: 186
trường hợp (88 %) trong đó : . Khu trú có vỏ bọc: 70 %.
------ -- . Lan toả không có vỏ bọc: 30 %.
------------- + Một mạch máu đến nuôi: 85
%.
------------- + Nhiều mạch máu đến
nuôi: 15 %.
- Ít hoặc không có tăng sinh mạch máu:
15 BN (12 %).
3- Tuần hoàn bàng hệ ngoài gan
- Trong nghiên cứu này, ghi nhận 10 trường
hợp (5 %) có tuần hoàn phụ ngoài gan :
- Hoành dưới : 4 trường hợp.
- Nhánh của mạc treo: 3 trường hợp.
- Liên sườn: 2 trường hợp.-----------
- Thắt lưng: 1 trường hợp.
BÀN LUẬN
1. Khảo sát mạch máu đến gan:
Trong nghiên cứu này có 70% các
trường hợp thuộc dạng A, từ- ÐM thân tạng cho 3 nhánh ÐM: lách, vị trái, gan
chung. ÐM gan chung đi đến ÐM gan riêng rồi phân nhánh thành ÐM gan phải, ÐM gan
giữa và ÐM gan trái. Tuy nhiên, có thể gặp các dạng thay đổi về vị trí giải phẫu
học với tỉ lệ 30%. Theo Michels NA(8)
tỉ lệ thay đổi là 45%, có lẽ do mẫu tác giả khảo sát rất lớn.
|
-
Hình 1: Hệ ÐM đến gan dạng A; U
giàu mạch máu khu trú, có vỏ bọc,
|

Hình 2: ÐM đến gan dạng C: ÐM
gan phải xuất phát từ ÐM mạc treo tràng trên
|

Hình 3: ÐM đến gan dạng F: Thân
tạng cho ra 2 nhánh lách và ÐM vị trái. Hệ ÐM gan xuất phát từ ÐM mạc treo
tràng trên
|

Hình 4: Tuần hoàn bàng hệ đến
nuôi một phần U, xuất phát từ ÐM mạc treo tràng trên
|

Hình 5: Ung thư gan tái phát sau
phẫu thuật thắt ÐM gan riêng và cắt gan, có tái lập tuần hoàn bàng hệ
|

Hình 6: Ung thư gan giàu mạch
máu, lan tỏa.
|
|

Hình 7: U lan tỏa nghèo mạch máu
|
-------------

Hình 8 và 9: Khối u lớn ở ngoại
biên, có shunt ÐM gan - tĩnh mạch cửa, có tuần hoàn bàng hệ xuất phát từ hệ
ÐM thắt lưng và liên sườn
|
|
|
|
|
Trong số khảo sát này, thường- gặp
dạng B (ÐM gan trái xuất phát từ ÐM vị trái), dạng C (ÐM gan phải xuất phát từ
ÐM mạc treo tràng- trên), dạng F (ÐM gan chung xuất phát từ ÐM mạc treo tràng
trên cho ra vị tràng và các nhánh đến gan như thường lệ). Do vậy cần thiết khảo
sát đầy đủ sơ đồ mạch máu đến gan và khối u trước khi tiến hành bơm thuốc điều
trị.(11) Trước tiên chúng tôi thường khảo sát ÐM thân tạng
và mạc treo tràng trên để tìm hiểu hệ ÐM đến gan và đến mạch cửa. Tùy theo kết
quả có được, sẽ quyết định chụp chọn lọc các vị trí thay đổi giải phẫu học nào
để đánh giá chính xác sự tưới máu đến khối u.
2. Về chụp ÐM gan đơn thuần: Hiện nay
ít được sử dụng để chẩn đoán do tính chất xâm lấn cao, độ đặc hiệu và độ nhạy
kém. Ðể tăng thêm độ nhạy, tác giả Chung đề nghị bơm Lipiodol vào ÐM và sau đó 2
tuần chụp CT Scan. Ðiều này giúp phát hiện các tổn thương kích thước nhỏ hoặc
tổn thương vệ tinh nhạy hơn là chụp mạch đơn thuần.(12) Ngoài ra một
số tác giả(,12,13) kết hợp CT với tiêm thuốc cản quang vào ÐM gan (CT
Hepatic angiography) hoặc tiêm vào ÐM mạc treo tràng trên (Porto Scan) để chẩn
đoán một số nốt HCC có kích thước nhỏ. Hiện ở khoa chưa sử dụng các nghiệm pháp
này.
Trong nhóm khảo sát, các khối u thường có
kích thước lớn và được thấy dưới dạng khối u giàu mạch máu, ngấm nhiều thuốc cản
quang: Các ÐM đến khối u giãn to, u thường có dạng phình đẩy căng các mạch máu
lân cận trong đó có nhiều hồ chứa cản quang và thường có Shunt trong u với hệ
tĩnh mạch cửa. Loại có vỏ bọc thường có hình sáng quanh u ở thì mao mạch. Tổn
thương vệ tinh chiếm tỉ lệ đáng kể 42,5%. Ngoài ra có thể gặp dạng nhiều mạch
máu tăng sinh với tổn thương lan tỏa không có vỏ bọc, dạng này cũng như dạng ít
mạch máu- thường có dự hậu xấu.
3. Về tuần hoàn bàng hệ: Khi tắc
nghẽn đoạn gần của ÐM gan, tuần hoàn bàng hệ xuất hiện nhiều và mạnh mẽ ngay lập
tức.(14) Theo một số tác giả(7,9,11,15) dù có hoặc không
có tắc nghẽn ÐM gan, tuần hoàn bàng hệ ngoài gan cung cấp máu cho khối u vẫn có
thể xảy ra, thông qua sự xâm lấn trực tiếp của khối u vào các mô lân cận nhất là
vùng trần trụi của gan (bare area), ngoại biên gan và ổ bụng. Tuần hoàn bàng hệ
ngoài gan sẽ kết nối với tuần hoàn ngoại biên trong gan qua trung gian hệ mạch ở
vùng các dây chằng, mạc mạch quanh tĩnh mạch- cửa và vùng lân cận- bị khối u xâm
lấn. Theo tác giả Chung(12) ghi nhận trên 220 BN có tuần hoàn bàng hệ
ngoài gan, thấy ở các vị trí động mạch: Hoành dưới (41%), Mạc nối (25%), Vú
trong (8%), Nhánh đại tràng của mạc treo tràng trên (7%), Thượng thận (8%), Liên
sườn (5%), Bao thận (3%), Vị (2%), vị trí khác (2%).
Sự phát triển tuần hoàn bàng hệ ngoài gan
nuôi khối u làm giảm hiệu quả của phẫu thuật thắt ÐM gan cũng như thủ thuật gây-
nghẽn tắc ÐM đơn thuần (Transcatheter Arterial Embolization, TAE). Trong nhóm
khảo sát, các khối- u lớn ở vị trí mặt trên gan, cạnh sườn, mặt dưới gan- thường
có thêm các nhánh ÐM đến nuôi như: hoành dưới trái, liên sườn, nhánh nhỏ của vị
tràng, nhánh của mạc treo tràng trên. Trong nghiên cứu này chưa thấy tuần hoàn
bàng hệ xuất phát từ ÐM vú trong, mà thường thấy xuất phát từ ÐM hoành dưới và
liên sườn.-
Tuần hoàn bàng hệ gây nhiều khó khăn cho
thủ thuật, và có dự hậu thường xấu. Có thể phát hiện sớm tuần hoàn bàng hệ dựa
vào siêu âm, CT và chụp mạch bằng cách đánh giá vị trí, kích thước và tính chất
nhiều mạch máu của tổn thương cũng như sự phì đại bất thường của một số mạch máu
nằm lân cận khối u.(12)
KẾT LUẬN
Qua khảo sát hình ảnh mạch máu và tuần
hoàn bàng hệ ngoài gan trong ung thư gan nguyên phát, nhận thấy:
- Chụp mạch máu gan đơn thuần tuy ít được
sử dụng trong chẩn đoán K gan, nhưng kỹ thuật này rất quan trọng để đánh giá vị
trí, tính chất, số lượng, tổn thương vệ tinh của khối u và sơ đồ mạch máu đến
gan và khối u; rất cần thiết- trước điều trị TOCE .
-Thường gặp hình ảnh u gan ác tính giàu
mạch máu, khu trú, có vỏ bọc. Dạng này ngấm thuốc Lipiodol nhiều và có dự hậu
tốt.
-Tuần hoàn bàng hệ ngoài gan cần được nghĩ
đến và phát hiện sớm (nhất là đối với các khối u lớn nằm ở vị trí ngoại biên của
gan). Cần thiết tiêm thuốc và làm tắc hết tất cả các nhánh tuần hoàn bàng hệ mới
gây hoại tử khối u một cách triệt để.
Tóm tắt
Ung thư gan nguyên phát dạng Carcinoma tế
bào gan (Hepatocellular carcinoma, HCC) thường gặp ở Việt Nam và các nước Á
Châu. Ðể hỗ trợ cho phẫu thuật cắt bỏ khối u, từ 30/7/1999 đến 10/8/2000, tại
Khoa Chẩn Ðoán Hình Ảnh Bệnh Viện Chợ Rẫy đã thực hiện phương pháp TOCE (phương
pháp gây nghẽn mạch kết hợp với tiêm hỗn hợp Lipiodol và thuốc hoá trị) để điều
trị cho 201 bệnh nhân HCC.
Trong kỹ thuật TOCE, khảo sát hình ảnh
mạch máu của khối u cũng như hệ thống mạch máu đến gan, khối u và tuần hoàn bàng
hệ ngoài gan có tầm quan trọng quyết định hiệu quả của điều trị. Qua nghiên cứu
này cho thấy hình ảnh mạch máu có tỉ lệ thay đổi 30% và vấn đề tuần hoàn bàng hệ
ngoài gan là 5% trong HCC. Hình ảnh u gan ác tính thường gặp là giàu mạch máu,
khu trú, có vỏ bọc.
summary
ANGIOGRAPHIC FINDINGS AND EXTRAHEPATIC COLLATERALS IN
PRIMARY HEPATIC CANCER
Primary hepatic cancer (type
Hepatocellular carcinoma, HCC) diseases are frequent in Vietnam and other Asean
countries. Surgical removal of the tumor is usually the radical treatment.
Recently, TOCE (Transcatheter Oily
Chemoembo-lization) procedure is considered as an effective adjunct treatment
for non-resectionable or post operative recurrent HCC. From 30/07/1999 to
10/08/2000. 201 patients had been managed by TOCE method at Imaging Department
of Cho Ray Hospital. In this study the angiographic findings and extra-hepatic
collaterals were discussed in order to improve the result of TOCE.
-TÀI LIỆU THAM KHẢO
(Xem tiếp trong 301)
HÌNH ẢNH
MẠCH MÁU . UNG THƯ GAN NGUYÊN PHÁT
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(Tiếp theo trang 298)
Tài liệu tham khảo
1.
The liver cancer study group of Japan, Primary liver cancer in Japan:
Clinicopathologic feature and results of surgical treatment Ann Surg 1990; 211:
277-287
2.
Colombo M. Hepatocellular carcinoma. J Hepatol 1992: 225-236
3.
Rusgi V. Epidemiology of HCC. Gastroenterol Clin North Am 1987;16:545-551
4.
Ohnishi K. Prognosis of HCC smaller than 5 cm in relation to treatment
study of 100 patients. Hepatology 1987;7:1285-1290.
5.
Okuda K. Nature history of HCC and prognosis in relation to treatment
study of 850 patients. Cancer 1985; 56:919-928
6.
Nguyễn Chấn Hùng và CS. xây dựng các chương trình phòng chống Ung thư ở
TP.HCM, tạp chí Y học Trường ÐHYD TP.HCM, phụ bản số 1, tập 4-2000; 170 -176.
7.
Nakagawa. Transcatheter Chemoembolisation for HCC. Interventional
Radiology, William&Wilking third edition 1999, p:138-158
8.
Michels NA. Blood supply and anatomy of the upper abdominal organs with a
descriptive atlas, Philadelphia JB Lippincott, 372 - 373.
9.
Nakamura. Lipiodol Chemoembolisation: Principles and Techniques in
Interventional Radiology, Ilchokak 1999; 8:96-105
10.
K. Kandarpa. Hanbook of Interventional Radiology Procedures, Little Brown and
company 1996; 13: 139-141
11.
Yamada. Hepatic Artery Chemoembolization and Infusion Chemotherapy in
Interventional Radiolory, Ilchokak 1999; 7:75-95.
12.
Chung. Extrahepatic collaterals in Hepaticellular carcinoma in Interventional
Radiology Ilchokak 1999 ; 11: 133 - 145.
13.
Pentecost. Interventional therapy for hepatic malignancies in Abram-s
angiography 1997 VolIII;27:436-454
14.
Michels NA. Collateral arterial supphy to the liver after ligation of the
hepatic artery and removal of the celiac axis. Cancer 1953; 6: 708 - 724.
15.
K Hatsuo. International medical Center of Japan, bài thuyết trình về TOCE qua
cầu truyền hình ngày 12 / 01 / 2000 tại BVCR.
16.
Harrison-s Principles of Internal Medicine, Mc Graw Hill 14 thEdition, 1996; 92:
578 - 580.
17.
Nakao. Recurrent hepatocellular carcinoma after partial hepatectomy: value of
treatment with transcatheter arterial chemoembolisation. AJR 1991; 56:1177-1179
18.
Charusangavej C, Angiographic Classification of hepatic collaterals. Radiology
1982; 144: 485 - 494
19.
Bruneton JN. Carcinome hépatocellulaire dans Imaggerie des tumeurs du foie ,
Masson 1993; 1: 1-29.
20.
Patthamaruedee. S. Transarterial Chemo Embolization in ruptured hepatoma.
Symposium of 10th congress of AAR: 126 -127.
|

Hình 10: Khối K gan kích thước
lớn, có vỏ bọc, có hoại tử trong u, có tổn thương vệ tinh.
|

|