ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngộ độc khoai ḿ cao sản mới xuất
hiện trong những năm gần đây, là ngộ độc nặng có thể gây tử vong nhanh chóng nếu
không xử trí kịp thời. Từ tháng 9/1999 đến 2/2000, tại khoa Cấp cứu bệnh viện
Nhi Đồng 1, có nhận 4 trường hợp ngộ độc nặng do khoai ḿ cao sản được điều trị
thành công với sodium thiosulfat song song với các biện pháp loại chất độc như
rửa dạ dày, than hoạt. Đề tài này hồi cứu 4 trường hợp lâm sàng nhằm khảo sát
tác dụng của sodium thiosulfat, qua đó đề xuất biện pháp tích cực cho xử trí ngộ
độc cấp khoai ḿ cao sản tại các cơ sở y tế, để giảm tử vong do ngộ độc cấp
khoai ḿ cao sản ở trẻ em và nêu vấn đề pḥng ngừa.
bệnh án
1- Đặc điểm bệnh nhi:
Từ tháng 9/1999 đến 2/2000 có 4
trường hợp ngộ độc khoai ḿ cao sản từ các tỉnh được chuyển đến bệnh viện Nhi
Đồng 1, gồm 2 nam và 2 nữ, tuổi từ- 2 đến 10.-
2- Tác nhân và phương thức gây ngộ độc:
4 trường hợp đều ngộ độc do ăn khoai ḿ
cao sản luộc, có đặc điểm màu trong, dẻo, ăn có vị đắng.
Thời gian trung b́nh xuất hiện triệu chứng
ngộ độc là 5g30 -
1g45 và thời gian nhập viện sau khi có triệu chứng là 12g30
-
5g30.
3. Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng:
Nôn xuất hiện 100% và là dấu hiệu khởi đầu
của ngộ độc.
Khi nhập viện các triệu chứng được ghi
nhận là suy hô hấp (4 trường hợp), rối loạn tri giác (4), co giật (2), trụy mạch
(1) và rối loạn nhịp tim (2).
Cận lâm sàng cho thấy có cyanid trong máu,
tăng lactat máu, toan máu, ECG có rối loạn nhịp xoang.
4. Xử trí:
Song song với biện pháp loại trừ độc chất
như rửa dạ dày và than hoạt, các bệnh nhi được sử dụng sodium thiosulfat
(Sodothiol) 8% với liều 3mL/kg truyền tĩnh mạch trong 30 phút. Các dấu hiệu lâm
sàng như khó thở được cải thiện sau 1 - 1,5 giờ, bệnh nhi hết co giật và tri
giác tỉnh táo sau 1 giờ. Khí máu kiểm tra đồng thời cũng trở về b́nh thường, rối
loạn nhịp tim biến mất sau 2 - 3 ngày. Không trường hợp nào cần lập lại liều thứ
hai.
Không thấy tác dụng phụ của thuốc,
không có biến chứng và tất cả 4 trường hợp đều xuất viện với t́nh trạng hồi phục
hoàn toàn sau 4 ngày.
Bảng 1: Tóm tắt 4 bệnh án ngộ độc khoai ḿ cao sản--
|
Trường hợp
|
1
|
2
|
3
|
4
|
|
Đặc điểm:
Tuổi
Giới tính
Cư ngụ
|
10
nữ
B́nh Dương
|
2
nữ
B́nh Phước
|
2
nam
B́nh Thuận
|
3
nam
Đồng Nai
|
|
Bệnh sử:
Khởi phát sau khi ăn (giờ)
Nhập viện sau (giờ)
|
8
17
|
7
17
|
4
14g30
|
7
14g30
|
|
Triệu chứng:
Nôn
Khó thở
Rối loạn tri giác
Co giật
Rối loạn nhịp tim-
|
+
+
+
+
+
|
+
+
+
+
|
+
+
+
|
+
+
+
+
|
|
Cận lâm sàng:
cyanid máu
pH
pCO2 (mmHg)
Lactat máu (mg%)
Rối loạn nhịp xoang
Xquang phổi
|
60mg%
7,2
9
110
+
bt
|
+
bt
|
7,18
10
bt
|
7,28
8
bt
|
|
Xử trí trước nhập viện:
Rửa dạ dày
Than hoạt
Chất đối kháng
|
0
0
0
|
+
0
0
|
0
0
0
|
0
+
0
|
|
Điều trị tại bệnh viện:
Rửa dạ dày
Than hoạt
Sodium thiosulfat
|
+
+
+
|
+
+
+
|
+
+
+
|
+
+
+
|
|
Diễn tiến sau điều trị
Thời gian hồi phục:
-- Dấu hiệu hô hấp (giờ)
-- Rối loạn tri giác (giờ)
-- Co giật (phút)
-- Rối loạn nhịp tim (ngày)
Biến chứng
|
1
1
30
2
(-)
|
1,5
1
3
(-)
|
1
1
(-)
|
1
1
30
(-)
|
BÀN LUẬN:
1. Tác nhân gây ngộ độc là khoai
ḿ (sắn) cao sản, loại này được trồng từ những năm 90, để sử dụng trong công
nghiệp chế biến bột ngọt, ḿ ăn liền, glucose, phụ gia, dược phẩm, rượu(1).
Khác với khoai ḿ lương thực có cuống lá màu tím và củ có vỏ lụa màu hồng tím,
khoai ḿ cao sản có cuống lá màu xanh ánh vàng và củ có vỏ lụa màu trắng (h́nh
1).
H́nh 1: Khoai ḿ cao sản
Khoai ḿ cao sản có có hàm lượng
cyanogenic glucosid là 60 - 150 mg/kg, cao hơn gấp 3 - 5 lần khoai ḿ lương thực
(20 - 30 mg/kg) nên khả năng gây độc của loại rất cao.(1) Chỉ cần ăn
lượng ít cũng đủ ngộ độc. Liều ngộ độc ở người lớn là 20 mg, liều tử vong là 1
mg/kg, ở trẻ em liều gây độc và tử vong thấp hơn.(2)
Chất gây độc trong củ khoai ḿ là
cyanogenic glucosid (Limanarin), khi xâm nhập vào đường tiêu hoá, sẽ được thủy
phân bởi enzym tiêu hoá thành hydrocyanic acid (HCN). HCN ức chế khả năng sử
dụng oxygen của tế bào. Hệ quả là nếu nuốt một lượng nhiều sẽ dẫn đến ngộ độc
cyanid với bệnh cảnh lâm sàng của ngạt do thiếu oxygen tế bào. Nồng độ gây độc
của cyanid trong máu là trên 0,2
mg/mL và với nồng độ-trên 3
mg/mL có thể tử vong.(3)
Phần lớn HCN được chuyển hoá thành thiocyanat nhờ thiosulfat và được thải qua
nước tiểu.
2. Dấu hiệu lâm sàng phụ thuộc
lượng độc chất trong cơ thể. Những dấu hiệu báo động là khó thở, rối loạn tri
giác, và dấu hiệu nặng là co giật, trụy mạch. Trong hồi cứu này, có một trường
hợp nặng co giật, trụy mạch được định lượng nồng độ cyanid trong máu là 60
mg%. Ngoài ra c̣n ghi nhận có sự tương phản rất lớn
giữa dấu hiệu sử dụng cơ hô hấp phụ và mức độ SaO2, tất cả đều có SaO2
cao kèm vă mồ hôi, đỏ da.
3. Dấu hiệu cận lâm sàng:
do t́nh trạng động mạch hoá máu tĩnh mạch nên máu xét nghiệm từ tĩnh mạch có màu
đỏ. Xét nghiệm CoHb, Methemoglobin đều b́nh thường, theo dơi khí máu ghi nhận có
t́nh trạng toan máu, không đáp ứng với Natri bicarbonat đơn thuần, nhưng cải
thiện sau truyền sodium thiosulfat.
4. Điều trị: gồm:(4,5,6,7)
- Oxygen liệu pháp: là điều trị khởi đầu
nhằm tăng tái hoạt cytochrome oxidase và bảo vệ chống lại sự ức chế cytochrome
oxidase bởi cyanid (Isom & Way, 1982).- Sử dụng FiO2 100%, sau 4 giờ
giảm c̣n < 40% để tránh ngộ độc oxygen.
- Sodium thiosulfat liều 1-2 mL/kg
dung dịch 25% tiêm tĩnh mạch chậm.
- Loại bỏ độc chất: rửa dạ dày bằng nước
muối sinh lư và sử dụng than hoạt.
5. Trước đây trong xử trí ngộ độc
khoai ḿ, thường sử dụng xanh methylen (Bleu de Methylène) qua cơ chế ở nồng độ
cao sẽ tạo methemoglobin gắn kết với HCN thành cyanmetHb không độc.(8)
Tuy nhiên phản ứng này rất yếu, nên không hiệu quả trong điều trị ngộ độc
cyanid.(9)
Sodium thiosulfat khử độc cyanid
qua con đường chuyển hoá chính bằng cách chuyển cyanid thành thiocyanat, ít độc
hơn và thải qua nước tiểu. Do vậy, trong điều trị ngộ độc cyanid, chất đối kháng
được chọn là sodium thiosulfat. Ngoài ra, sodium thiosulfat c̣n có ưu điểm như:
không độc, không ảnh hưởng thận, sodium thiosulfat có thể dùng một ḿnh không
cần phối hợp chất đối kháng khác và là thuốc không gây phản ứng phụ.(10)
Qua đó, có thể dùng ngay cả trong trường hợp nghi ngờ ngộ độc khoai ḿ (khi chưa
chẩn đoán xác định).
Chế phẩm của sodium thiosulfat hiện đang
có ở thị trường là ống 5 mL Sodothiol 8%, liều dùng là 3mL/kg truyền tĩnh mạch
chậm để tránh gây ói do tiêm nhanh, thuốc có thể lập lại liều thứ 2 sau 30 phút
đến một giờ.
Qua hồi cứu này, cho thấy sodium
thiosulfat có tác dụng nhanh, ngoạn mục, cải thiện lâm sàng xuất hiện ngay sau
liều đầu tiên, dấu sinh tồn được ổn định sau 2 giờ, và hồi phục hoàn toàn sau
2,5 ngày.
KẾT LUẬN:
Về phương diện dịch tễ học, trẻ em có nguy
cơ ngộ độc cấp cyanid là trẻ sống ở vùng trồng khoai ḿ cao sản, thiếu thông tin
về độc tính của loại sắn này. Về xử trí ngộ độc, sodium thiosulphat là chất đối
kháng sẵn có trên thị trường, dễ sử dụng, an toàn và hiệu quả trong điều trị ngộ
độc cyanid. V́ vậy, cần có chỉ định sớm, đặc biệt là các trường hợp rối loạn tri
giác, co giật, suy hô hấp. Nên chăng trang bị sodium thiosulfat như một thuốc
cấp cứu không thể thiếu tại khoa cấp cứu các bệnh viện.
TÓM TẮT-
Hồi cứu 4 trường hợp ngộ độc cấp khoai ḿ
cao sản trẻ em được điều trị sodium thiosulfat tại khoa Cấp cứu bệnh viện Nhi
đồng I từ tháng 9/1999 đến tháng 2/2000. Tất cả các bệnh nhi tuổi từ 2 đến 10,
sống ở các tỉnh có trồng khoai ḿ cao sản.
Triệu chứng khởi phát là nôn (100%), triệu
chứng báo động nặng là thở nhanh, sâu, toan máu (100%), diễn tiến rối loạn tri
giác (100%), co giật (2 trường hợp), rối loạn nhịp tim (2 trường hợp).
Xét nghiệm nồng độ cyanid máu 60
mg% (1 trường hợp), lactat
máu 110 mg% (1 trường hợp), pH từ 7,18 - 7,28, pCO2 8- 10 mmHg, loạn
nhịp xoang ở ECG (2 trường hợp).
Các trường hợp đều được sơ cứu tại chỗ tỏ
ra không thích hợp. Tại bệnh viện các biện pháp can thiệp tích cực với oxygen,
rửa dạ dày, than hoạt, và sodium thiosulfat truyền tĩnh mạch 3mL/kg đă cải thiện
lâm sàng ngoạn mục sau 67,5-
-
15-. Bệnh nhi xuất viện được hồi phục hoàn toàn.
Đề nghị cần có những khuyến cáo về tác
dụng độc hại của khoai ḿ cao sản, và cần trang bị sodium thiosulfat tại các
pḥng cấp cứu các bệnh viện.--------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Hoàng Kim, Phạm văn Biên , Cây sắn, 1995
2.
Đỗ Hồng Ngọc. Ngộ độc khoai ḿ. Trong: Sức khoẻ trẻ em, 1991, tr 192-193
3.
Lewis R. Goldfrank, Toxicologic Emergencies, 1990, Toxic Inhalants
including Cyanide, p. 737 - 747
4.
Bạch văn Cam, Ngộ độc khoai ḿ, 1999
5.
Casarett & Doull-s Toxicology, 5th edition, 1996, p. 36, 41, 351, 849.
6.
CD Intox: cyanid p. 1 - 44, 1998
7.
Nguyễn Ngọc Sáng, Ngộ độc cấp trẻ em, Nhi khoa tập 5, 1-1996.
8.
Vũ đ́nh Hải, Nguyễn Lung. Những nhiễm độc cấp thường gặp: Sắn, tr
248-251, Nhà xuất bản Y học, 1994---
9.
AHFS, Drug information FDA, 1990, Methylen Blue, p. 2192
10.
Nguyễn Thị Dụ, Tài liệu hội thảo lần thứ 2 về cấp cứu ngộ độc cấp- 8/1998, Bảng
phân loại chất đối kháng WHO - 1997, p. 157 - 162
11.
Gary R. Strange, Pediatric Emergency Medicine, cyanid poisoning, p. 525 - 528
12.
P. Silvestre & M.Arraudeau, Le manioc, 1991
13.
Robert H. Dreisbach, Handbook of Poisoning, 12th Edition, 1987