Việt Nam tuy được xem là nằm trong vùng dịch tễ quan trọng
của các nhiễm trùng do B. pseudomallei- kể từ khi trường hợp nhiễm bệnh
được phát hiện lần đầu tại Thủ Đức (Sài G̣n) vào năm 1925,(1)- nhưng
cho đến nay chỉ có một số ít trường hợp lâm sàng được đăng tải trên các tạp chí
y học trong và ngoài nước.(2)
Trước đây, tại Trung Tâm Bệnh Nhiệt Đới cũng đă phân lập và báo cáo một số
trường hợp huyết nhiễm nặng do B. pseudomallei,(3,4)
và gần đây lại tiếp tục nhận thêm một trường hợp viêm hạch bạch huyết do nhiễm
tác nhân này với bệnh cảnh khá đặc trưng.
Bệnh án
Bệnh nhân nam, 16 tuổi, làm ruộng tại Củ Chi (TP HCM), nhập
viện ngày 26/10/1999 v́ sốt kéo dài và sưng hạch nách phải.
Bệnh sử: cách ngày nhập viện hai tháng, trong lúc cắt
lúa ngoài ruộng bệnh nhân bị chuột đồng cắn vào ngón trỏ bàn tay phải. Sau 3-4
ngày, tại vết cắn sưng tấy, đau và tụ mủ, người có sốt nhẹ trong vài ngày. Bệnh
nhân tự mua thuốc uống (không rơ loại). Sau 2 tuần, vết thương chuột cắn lành
hẳn để lại dấu sẹo lồi trên ngón tay. Cách ngày nhập viện một tháng, bệnh nhân
lại bị sốt kèm nổi khối sưng đỏ và đau ở nách phải. Sốt nhẹ đến vừa, thỉnh
thoảng ớn lạnh hoặc run, không ảnh hưởng nhiều đến các sinh hoạt thường ngày.
Sau một thời gian tự mua thuốc uống và điều trị ở nhiều pḥng khám tư không
thuyên giảm, bệnh nhân được giới thiệu đến khám bệnh tại Trung Tâm Bệnh Nhiệt
Đới.
T́nh trạng lúc nhập viện: Tỉnh táo, người gầy sút (33,5
kg). Sốt vừa 38,5oC, mạch 105 lần/phút, HA 90/60 mmHg, nhịp thở 20
lần/phút. Vết thương chuột cắn tại ngón tay đă lành (H́nh1). Hạch khuỷu tay phải
sưng vừa (1x1 cm), di động, không đau. Hạch nách phải và mô mềm quanh hạch sưng
to, đỏ, ấn đau, kích thước 2 x 3 cm.
Chẩn
đoán ban đầu: viêm mủ hạch nách.
Bệnh nhân được nhập viện, làm các xét nghiệm thường qui, cấy
máu, cấy mủ chọc hút từ hạch. Kế đó rạch rộng hạch viêm, đặt gạc dẫn lưu và điều
trị ngay với cefaclor 375 mg x 2 lần/ngày (H́nh 2).
Diễn
tiến: Trong tuần lễ đầu, bệnh nhân giảm sốt nhanh. Kết quả xét
nghiệm bạch cầu trong máu 9150 /mm3, bạch cầu đa nhân trung tính
67,1%. Cấy máu âm tính, cấy mủ hạch phân lập được loại trực khuẩn Gram âm ăn màu
lưỡng cực và cho h́nh dạng khúm có nhiều nếp nhăn (H́nh 3&4) gợi ư tới vi khuẩn
Burkholderia pseudomallei. Trên kháng sinh đồ vi khuẩn này nhạy cảm với
chloramphenicol, tetracycline và ceftazidim, trong khi đó lại đề kháng với
cotrimoxazol, cefotaxim và cefaclor !
Do kết quả khảo sát vi sinh ban đầu không phù hợp với diễn
tiến lâm sàng (bệnh nhân giảm sốt nhanh sau khi điều trị với cefaclor), đồng
thời h́nh thái khúm vi khuẩn phân lập được lại thuộc loại xưa nay ít gặp trong
các bệnh phẩm chọc hút từ mô hạch nên sau khi thông báo kết quả và hội ư với các
bác sĩ lâm sàng, vẫn tiếp tục điều trị với cefaclor, trong khi kiểm tra lại các
kết quả vi sinh.
Sau 10 ngày điều trị cefaclor, bệnh nhân được ngưng thuốc và
mau chóng bị sốt cao trở lại, áp xe hạch nách vẫn tiếp tục ra mủ (Sơ đồ 1). Kết
quả định danh (với API 20NE) xác nhận vi khuẩn phân lập được là Burkholderia
pseudomallei có khả năng gây bệnh (arabinose âm tính). Chẩn đoán melioidosis
thể viêm hạch mạn tính được xác lập. Bệnh nhân được đổi sang điều trị với
Chloram-phenicol, liều 85mg/kg/ngày tiêm mạch chậm (3g/ngày) trong 15 ngày. Kết
quả: cắt sốt sau 24 giờ, áp xe hạch hết ra mủ và liền sẹo sau 4 ngày. Bệnh nhân
xuất viện, tiếp tục uống Chloramphenicol 2g/ngày và hẹn tái khám sau 7 ngày
nhưng không thấy quay lại để tiếp tục theo dơi.
Bàn luận
Mặc dù được phát hiện khá sớm ở Thủ đức (Sài g̣n) từ cuối năm
1925(1) (chỉ sau Rangoon, Kuala Lumpur và Singapore),(5)
nhưng cho đến năm 1947 cũng chỉ có một số trường hợp lẻ tẻ melioidosis xảy ra
tại Việt Nam được ghi nhận trong y văn.(6-9) Nguyên nhân chủ yếu có
lẽ do mạng lưới chăm sóc y tế c̣n giới hạn, khả năng chẩn đoán vi sinh c̣n thiếu
thốn và bệnh lư melioidosis cũng chưa được thầy thuốc lâm sàng chưa lưu ư tới.
Bằng chứng là trong hai thời kỳ chiến tranh với Pháp (1948-1954) và Mỹ
(1966-1973), trong điều kiện chăm sóc y tế được quan tâm và có sự hỗ trợ chẩn
đoán về mặt vi sinh, đă có lần lượt tới khoảng 100 quân nhân Pháp và 343 quân
nhân Mỹ tham chiến tại Việt Nam được phát hiện bị nhiễm bệnh.(10,11)
Tuy nhiên, cũng chưa thể loại trừ các yếu tố khác như khả năng tiếp xúc
thấp với nguồn bệnh và t́nh trạng miễn dịch tốt của cộng đồng cùng góp phần làm
giảm tần suất các trường hợp mắc bệnh có biểu hiện lâm sàng.
Từ sau năm 1975 cho đến 1995, tại Trung Tâm Bệnh Nhiệt Đới
cũng không phân lập hoặc nhận được thông tin của nơi nào khác tại Việt Nam có
phân lập được B. pseudomallei từ bệnh nhân melioidosis. Tuy nhiên, cùng
với sự nâng cấp cơ sở hạ tầng của pḥng xét nghiệm vi sinh và nâng cao hoạt động
chuyên môn của các chuyên viên vi sinh từ những năm 1992-1994, trường hợp
melioidosis đầu tiên với biểu hiện huyết nhiễm tại Trung Tâm Bệnh Nhiệt Đới đă
được phát hiện vào tháng 8/ 1995 (cấy máu phân lập được tác nhân B.
pseudomallei),(12)
và đến nay đă có đến 9 trường hợp huyết nhiễm nặng được xác định về lâm
sàng cũng như phân lập được tác nhân gây bệnh.
Trường hợp lâm sàng được báo cáo trong bài này cũng là lần
đầu tiên phát hiện melioidosis thể khu trú (viêm hạch thứ phát sau nhiễm trùng
vết thương) tại Trung Tâm Bệnh Nhiệt Đới. Hầu hết các trường hợp bệnh trong cả
hai nhóm trên đều chỉ xác định được chẩn đoán và định hướng điều trị sau khi có
kết quả vi sinh.
Trên phương diện lâm sàng, melioidosis đă từng được xem là
"the great mimicker" (kẻ bắt chước tài danh)(13,14) do khả năng gây
ra nhiều bệnh cảnh lâm sàng hết sức đa dạng với nhiều mức độ nặng nhẹ khác nhau.
Ngoại trừ bệnh cảnh viêm mủ tuyến mang tai ở trẻ em tương đối đặc trưng,(15)
trong các trường hợp c̣n lại melioidosis có thể biểu hiện ở nhiều dạng: cấp
tính, mạn tính, tái phát, huyết nhiễm nặng, hoặc nhiễm trùng khu trú tại hầu hết
các cơ quan nội tạng có hoặc không có phối hợp với nhiễm trùng máu (bảng 1).(16)
Cũng do tính chất gây bệnh cảnh đa dạng đi kèm với tính nhạy cảm kém với nhiều
loại kháng sinh nên việc khảo sát vi sinh có vai tṛ rất quan trọng trong xác
định chẩn đoán cũng như thiết lập phương thức điều trị hiệu quả trong bệnh
melioidosis.
Việc điều trị huyết nhiễm do B.pseudomallei cho hiệu
quả khá giới hạn. Trước năm 1985 tại Thái lan, dù sử dụng phối hợp cả 4 loại
kháng sinh chloramphenicol, sulfamethoxazol-trimethoprim và doxycyclin kéo dài
từ sáu tuần đến sáu tháng nhưng tỷ lệ tử vong vẫn rất cao (trên 70%).(17)
Chỉ sau khi tiến hành nhiều nghiên cứu so sánh có đối chứng trong các năm 1988 -
1998, qua đó ceftazidim và amoxicillin-clavulanic acid được đưa vào sử dụng để
điều trị huyết nhiễm do melioidosis th́ tỷ lệ tử vong mới giảm c̣n chừng 40%.(18)
Trong khi đó, việc điều trị các thể nhiễm trùng khu trú do B.pseudomallei
-vẫn chưa có nhiều công tŕnh khảo sát để khuyến cáo cách điều trị tối ưu. Các
phác đồ hiện tại dành cho các thể nhiễm trùng khu trú và không có triệu chứng
nhiễm độc chủ yếu vẫn dựa trên kinh nghiệm và độ nhạy cảm cụ thể invitro của tác
nhân gây bệnh phân lập được. Cụ thể là có thể sử dụng một trong các kháng sinh
cổ điển như chloramphenicol (40mg/kg), sulfamethoxazol-trime-thoprim (20mg/kg
sulfamethoxazol-4mg/kg trimetho-prim), hoặc tetracyclin (40mg/kg)- từ 60 đến 150
ngày. Phối hợp amoxycillin-clavulanic acid (30-60 mg amoxicillin /kg / ngày với
cùng thời gian nói trên) cũng được- xem là có hiệu quả tốt trong điều trị
melioidosis thể khu trú hoặc trong giai đoạn củng cố tiếp nối giai đoạn điều trị
tấn công của các trường hợp huyết nhiễm nặng.(19) Đối với các tổn
thương tụ mủ ngoài phổi, có thể kéo dài liệu tŕnh kháng sinh từ 6 tháng đến một
năm tùy từng trường hợp. Trong những trường hợp cần điều trị kéo dài, đặc biệt ở
trẻ em hoặc thai phụ th́ phối hợp amoxycillin-clavulanic acid được dùng ưu tiên
v́ độc tính thấp so với các thuốc căn bản.(19)
Việc thu thập và báo cáo các trường hợp melioidosis với các
biểu hiện lâm sàng khác nhau một mặt tiếp tục thông tin rộng răi đến các nhân
viên y tế làm việc trong các chuyên ngành liên quan nhằm giúp làm tăng mức nhạy
cảm trong việc phát hiện sớm các trường hợp melioidosis, mặt khác là để tiếp tục
bổ sung dữ liệu dịch tể về sự hiện diện của vi khuẩn B.pseudomallei -gây
bệnh ở các tỉnh thành phía nam Việt Nam.
Summary
A case report of localized infection with
B.pseudomallei
A 16 year-old male patient resident in Củ Chi (40-km
northwest from Saigon) was admitted to the Centre for Tropical Diseases on 26
October 1999 with prolonged fever and a swollen mass in his right axilla. Two
months before admission, he suffered a rat bite on his index finger of the right
hand that developed into a wound infection. One month later, he developed
moderate and intermittent fever. At the same time, a swollen mass with redness
and pain occurred in his right axilla. On admission, the diagnosis was
suppurative lymphadenitis originating from a wound infection. Aspiration of the
mass was done, and he was treated initially with cefaclor (750mg/day).
Pathogenic Burkholderia pseudomallei (ara-negative biotype) was isolated
from aspirated pus (blood culture was negative), and the fever came back after
completion of cefaclor therapy despite incision and drainage of the swollen
lymph node. He was then treated with chloramphenicol (85mg/kg/day,
intravenously). Fever disappeared after 24 hours and the incised wound healed
after 4 days. After 15 days using chloramphenicol, the patient was discharged
and given a prescription for continuing treatment with chloramphenicol (2g/day,
orally). Despite arrangement for follow-up examination, the patient did not
return and the final outcome was not known. A brief review of melioidosis in
Southern Vietnam during the period 1925-2000 is included.
Tài liệu tham khảo:
1.
Pons R., Advier M. Melioidosis in Cochin China. Journal of Hygiene;
26:28-30, 1927.
2.
Nguyễn Minh Đường và cộng sự. Melioidosis (Trường hợp lâm sàng và tổng
quan về Melioidosis tại Việt Nam). Báo cáo Sinh Hoạt Khoa Học tại Trung Tâm Bệnh
Nhiệt Đới, 4/10/2000.
3.
Nguyễn Thị Thu Thảo, Tô Song Diệp và cộng sự. Hai trường hợp Melioidosis.
Tài liệu Hội Thảo Khoa Học Về Kháng Thuốc Ở Các Tỉnh Phía Nam. Trung Tâm Bệnh
Nhiệt Đới. Tháng 10/1997. Trang 63.
4.
Christopher M. Parry, Vanaporn Wuthiekanun, Nguyen Thi Tuyet Hoa et al.
Melioidosis in Southern Vietnam: Clinical Surveillance and Environmental
Sampling. Clinical Infectious Diseases 1999; 29:1323-6.
5.
Stanton AT., Fletcher W. Melioidosis. (Notes on a culture of B.Whitmori
from Saigon). Journal of Hygiene; 26:31-32, 1927.
6.
Morin et Massias. Un nouveau cas de meliọdose en Cochinchine par MM.
Vieille. Bull. Soc. Medico-chirurg. de l-Indochine 1926, p.459. Mesnard J (7).
7.
Mesnard J., Joyeux B., Gaulene. Un cas de meliọdose au Tonkin. Bull. Soc.
Medico-chirurg. de l-Indochine 1929, 7:.31-39.
8.
Souchard, Ragiot. Contribution à l-etude de la meliọdose en Cochinchine.
Deux cas de meliọdose chronique. Bulletin de la Société de Pathologie exotique
1933, 567-573.
9.
Green R., Mankikar DS. 1945. A febrile case of melioidosis. Br. Med. J,
1:308-311.- From: Leelarasamee A. Melioidosis in Southeast Asia. Acta Tropia
2000, 74:129-132.
10.
Rubin HL., Alexander AD., Yager RH. 1963. Melioidosis-a military medical
problem- Mil. Med. 128:538-542.
11.
Moore WL Jr. Melioidosis. In: Eickhoff TC, ed. Practice of Medicine. V.3.
Hagerstown, MD: Harper & Row; 1977: 197-214.
12.
Số liệu cấy máu khoa Vi sinh, Trung Tâm Bệnh Nhiệt Đới, 1995.
13.
Yee KC, Lee MK, Chua CT, Puthucheary SD.- Melioidosis, the great mimicker: a
report of 10 cases from Malaysia. J Trop Med Hyg. 1988 Oct;91(5):249-54.
14.
Poe RH, Vassallo CL, Domm BM. Meliodosis: the remarkable imitator. Am Rev Respir
Dis. 1971 Sep;104(3):427-31
15.
Dance DAB. Melioidosis, glanders and tularemia. Medicine international_Tropical
infections 1992, 107:4508-4511.
16.
Leelarasamee A, Bovornkitti S. Melioidosis: Review and Update. Rev Infect Dis
1989, 11:413-425.
17.
White NJ, Dance DA. Clinical and laboratory studies of malaria and melioidosis.
Trans R Soc Trop Med Hyg. 1988;82:15-20.
18.
White NJ, Dance DA, Chaowagul W, et al. Halving of mortality of severe
melioidosis by ceftazidime. Lancet. 1989 Sep 23;2(8665):697-701.
19.
Suputtamongkol Y, Dance DA, Chaowagul W, et al. Amoxycilline-clavulanic acid
treatment of melioidosis. Trans R Soc Trop Med Hyg. 1991 Sep-Oct;85(5):672-5.