Cùng với Hướng dẫn cấp cứu ngừng
tim - ngừng thở được bổ sung và hiệu đính vào năm 1986, mới đây vào tháng
9/1999, Hội Tim học Hoa Kỳ (AHA) đă giao nhiệm vụ cho một tổ nghiên cứu công tác
sơ cứu xây dựng một hướng dẫn sơ cứu dựa vào chứng cứ. Sơ cứu, theo định nghĩa
của Tổ nghiên cứu này, là sự đánh giá và can thiệp do những người ngoài cuộc
thực hiện, với những trang bị tối thiểu, trong khi chờ nhân viên y tế đến. Mục
đích của Tổ công tác sơ cứu là giảm tử vong do các tai biến cấp cứu và phân tích
các chứng cứ khoa học nhằm trả lời những câu hỏi sau:
- Những t́nh huống cấp cứu nào thường gặp
nhất dẫn đến một tỉ lệ tử vong và biến chứng có ư nghĩa-
- Cấp cứu viên không chuyên có thể giảm
được tỉ lệ tử vong và biến chứng trong trường hợp nào trong số những t́nh huống
trên-
- Chứng cứ khoa học có đủ mạnh để chứng
minh rằng sự can thiệp của cấp cứu viên không chuyên là an toàn và hiệu quả-
Theo Ủy ban An toàn Quốc gia (Hoa Kỳ), các
nguyên nhân hàng đầu dẫn đến các tai nạn cần cấp cứu là tai nạn giao thông
(41%), bạo lực (20%), tai nạn do tiếp xúc với chất độc hoặc dụng cụ thiết bị
(16%), môi trường (12%), té ngă (10%), cháy nổ (3%). Trong đa số những trường
hợp đó, việc đánh giá và can thiệp cấp cứu thông thường là xử trí xuất huyết,
bất động cột sống, găy xương, thay đổi t́nh trạng tri giác, xử trí vết thương
phần mềm và cấp cứu ngưng tim-ngừng thở. Ngoài ra, tùy nguyên nhân cụ thể, đôi
khi phải xử trí chấn thương mắt, bỏng, tăng hoặc giảm thân nhiệt, chất ăn da
hoặc gây dị ứng.---
Tổ nghiên cứu đă xem lại các bài hướng dẫn
sơ cứu và rà soát lại các nghiên cứu đă công bố để phát hiện, đánh giá và phân
loại cơ sở khoa học được dùng trong các khuyến nghị sơ cấp cứu. Nhiều nghiên cứu
trước đây đă lưu ư đến t́nh trạng chứng cứ khoa học c̣n nghèo nàn để chứng minh
cho các can thiệp chăm sóc cấp cứu ngoài bệnh viện (Callaham M, 1997; Spaite D.
và cộng sự, 1997).---
Bản Hướng dẫn sơ cứu quốc tế 2000
đang được xây dựng không có tham vọng đề cập toàn diện và đánh giá tất cả các
can thiệp sơ cứu. Đây chỉ là bước đầu nhằm khuyến khích các nghiên cứu có liên
quan đến sơ cấp cứu để tránh hiện tượng tản mạn chứng cứ khoa học như từ trước
đến nay. Dưới đây là một số t́nh huống sơ cứu dựa vào chứng cứ được bản hướng
dẫn nói trên đề cập tới.
Vài ví dụ về hướng dẫn sơ cứu dựa vào chứng cứ
Bỏng
Đưa nạn nhân ra khỏi nguồn nhiệt càng
nhanh càng tốt. Nếu áo quần nạn nhân đang cháy, dùng nước hoặc quấn chăn để dập
lửa. Chườm ngay
chỗ bỏng bằng nước để lạnh (không dùng nước đá).
Thao tác này giúp giảm đau, giảm phù nề, giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn, giảm độ sâu của
vết bỏng, nhanh lành sẹo, giảm ghép da và tử vong. Chườm muộn vẫn có ích. Theo
nghiên cứu của Ifeigsson (1972), nhiệt độ tối ưu của nước chườm là 20oC-25oC.
Những nghiên cứu khác với nhiệt độ nước từ 10oC-15oC cũng
đem lại lợi ích về mặt tử suất và tỉ lệ lành bỏng, ngay cả bỏng 50% diện tích da
trên chó thử nghiệm (King TC và cộng sự, 1962). Thời gian chườm nước lạnh thường
từ 15-30 phút. Chườm đá sẽ gây tổn thương nặng thêm v́ thiếu máu cục bộ.
Cắt bỏ phần quần áo không dính da, nhẹ
nhàng tháo đồ trang sức, cố đừng làm vỡ các bọng nước (bỏng độ IIb). Dùng vải
sạch che vùng bỏng, Không bôi các dung dịch, kem, thuốc mỡ hoặc thuốc dân gian
lên vùng bỏng. Nếu bỏng do hóa chất cần dùng ṿi nước rửa sạch.
Điện giật-
Tổn thương do điện giật thay đổi từ cảm
giác giật tê đến bỏng điện, ngưng tim ngừng thở và tử vong, tùy cường độ ḍng
điện. Bỏng có thể là hậu quả của tổn thương do điện thế thấp (<1000 V) hoặc điện
thế cao (>1000 V). Nguyên nhân gây chết tức khắc là ngừng tim ngừng thở. Loạn
nhịp tim dẫn đến rung thất, c̣n ngừng thở là do tổn thương trung khu hô hấp ở
năo hoặc do co thắt kiểu têtani hoặc liệt cơ hô hấp. Trở kháng của da giảm bớt
khi ẩm ướt, khiến tai nạn do điện thế thấp có thể trở thành tổn thương đe dọa
sinh mạng.
Không được chạm vào nạn nhân khi chưa cắt
nguồn điện. Trường hợp tai nạn do điện cao thế, ví dụ đứt dây điện rơi nhằm
người, phải báo ngay cho cơ quan hữu quan (Công ty Điện lực, Bộ phận Đường dây).
Mọi thứ đều có thể dẫn điện khi điện thế cao, do vậy không nên bước lại gần nạn
nhân hoặc cố dùng gậy để khều dây điện ra, trừ khi đă cắt điện. Nếu đă cắt điện,
đánh giá t́nh trạng nạn nhân, có thể cần phải cấp cứu tim-phổi, dùng máy khử
rung, chữa sốc và bỏng điện. Nên khám kỹ v́ có thể có tổn xương cơ-xương hoặc
cột sống kèm theo.
Ngộ độc
Cấp cứu viên phải có trang bị bảo hộ khi
sơ cứu, nhất là khi chất độc là chất khí, chất bay hơi hoặc có thể ngấm qua da.
Nếu chất độc là khí hoặc chất bay hơi, đưa nạn nhân ra khỏi nơi bị ô nhiễm càng
sớm càng tốt. Nếu là chất tiếp xúc qua da, phải dùng ṿi nước rửa sạch vùng da
nạn nhân trong khi chờ tổ cấp cứu đến. Đối với người tự tử, bất kể triệu chứng
như thế nào cũng phải đưa ngay đến bệnh viện gần nhất.
Đối với ngộ độc qua đường tiêu hóa, hiện
vẫn c̣n sự bất đồng về vai tṛ của việc gây nôn ói bằng xi-rô ipecac hoặc chống
hấp thu chất độc bằng than hoạt; hiện chưa chứng minh được những thao tác này
làm y đổi các hệ quả (tử vong, biến chứng, chi phí, thời gian nằm viện). Đến nay
vẫn chưa có đủ dữ liệu để ủng hộ hay bác bỏ việc gây nôn bằng ipecac trên nạn
chân ngộ độc. V́ thế, chỉ nên dùng ipecac khi có ư kiến của bác sĩ chuyên khoa
độc chất học. Nếu dùng, chỉ nên dùng cho những nạn nhân c̣n đáp ứng và trong
ṿng 30 phút đầu sau khi bị ngộ độc. Tác dụng khử nhiễm của ipecac được suy ra
từ các nghiên cứu trên chó và kết quả có lẽ không áp dụng được cho người. Kết
quả nghiên cứu trên người t́nh nguyện cũng không áp dụng được trong trường hợp
ngộ độc v́ người t́nh nguyện được dùng những thuốc không độc (Tandberg D. và
cộng sự, 1968; Tenenbein M. và cộng sự, 1987).
Cấp cứu viên không nên dùng than hoạt cho
nạn nhân uống, v́ khó uống và đă có báo cáo tử vong do hít sặc (Levy G., Houston
J.B., 1976).
Xuất huyết
Cấp cứu viên cần cảnh giác với các bệnh
lây qua đường máu, đồng thời phải xem mọi dịch tiết của nạn nhân đều có khả năng
gây nhiễm; do đó cần mang găng tay khi tiếp xúc với nạn nhân.
Đối với các trường hợp xuất huyết nhẹ như
xây xát, bầm máu có thể xử trí như đối với chấn thương phần mềm (xem phần dưới);
chảy máu cam có thể xử trí bằng cách bảo nạn nhân gập người về phía trước và
dùng hai ngón tay kẹp chặt cánh mũi. Mọi xuất huyết đều có thể kiểm soát bằng
cách đặt gạc sạch lên vết thương băng lại và dùng tay đè lên, khi giảm chảy máu
băng thêm một lớp thứ hai ở ngoài. Ngoài ra cần chú ư ủ ấm cho nạn nhân bị xuất
huyết nặng.
Nếu xuất huyết ở chi, cần đưa chi đó cao
hơn mức ngang tim, Nếu xuất huyết nặng tiếp tục tuy đă băng ép, cần ấn thêm động
mạch cánh tay (xuất huyết chi trên) hoặc ấn động mạch đùi (xuất huyết chi dưới).
C̣n nhiều bàn căi về việc dùng ga-rô (dây
thắt). Đặt ga-rô động mạch quá 90 phút sẽ gây các tổn thương v́ thiếu máu cục bộ
ở mô mềm, mạch máu và thần kinh và gây liệt. Cấp cứu viên không chuyên đặt ga-rô
thường chỉ chèn ép được tĩnh mạch hơn là động mạch và v́ thế thường làm tăng
xuất huyết chứ không giảm (Mellesmo S. và cộng sự, 1995; Husum H. và cộng sự,
1999). Do vậy, ga-rô là biện pháp cuối cùng được dùng trong xuất huyết ồ ạt khi
các biện pháp khác không kiểm soát được và dành cho người thông thạo thực hiện.
Ngoài ra, cần tránh hạ thân nhiệt cho nạn
nhân bị xuất huyết bằng cách- cởi bỏ quần áo ướt và quấn chăn cho họ.
Thay đổi t́nh
trạng tri giác
Thay đổi tri giác có thể là do chấn thương
hoặc do các t́nh trạng bệnh lư nội khoa như tiểu đường hoặc đột quỵ. Các dấu
hiệu và triệu chứng lâm sàng bao gồm mất tri giác, lú lẫn, hung hăng, mất định
hướng, nhức đầu, một phần cơ thể không vận động được, chóng mặt, không giữ được
thăng bằng, và nh́n một hóa hai (song thị). Mọi thay đổi về t́nh trạng tri giác
ở bất kỳ mức độ nào cũng cần được đánh giá. Các biện pháp sơ cứu cần thực hiện
bao gồm: đưa nạn nhân ra khỏi nơi nguy hiểm; đánh giá hô hấp và tuần hoàn, giữ
vững thân nhiệt và để nạn nhân ở tư thế nằm nghỉ. Nếu biết nạn nhân bị bệnh tiểu
đường và có thể uống-- được, nên cho uống nước có chứa glucose. Nên lưu ư rằng
các loại nước ngọt có vị ngọt nhân tạo (dùng cho người ăn kiêng) không chứa
glucose.
Ngất là t́nh trạng mất tri giác tạm thời.
Đau đớn, lạnh đột ngột, đứng lâu ở một tư thế trong một thời gian dài, nhất là
trong điều kiện nóng bức, là những yếu tố tạo thuận lợi cho ngất xảy ra. Thao
tác sơ cứu là đặt nạn nhân nằm ngửa, bảo vệ tránh bị chấn thương, kiểm tra đường
thở và mạch. Nếu hô hấp vẫn b́nh thường và nạn nhân không bị chấn thương, cứ để
nạn nhân nằm nghỉ. Thông thường, nạn nhân sẽ tỉnh lại trong chốc lát và không có
những rối loạn tri giác.---
Chấn thương
sọ năo
Nên nghĩ đến chấn thương sọ năo khi:
- Nạn nhân ngă từ trên cao xuống.
- Nạn nhân bất tỉnh.
- Chấn thương do lực đẩy hoặc ép (xe đụng
hoặc văng ra khỏi xe).
- Chấn thương do lặn, sét đánh, điện giật,
hoặc khi bị thương nhưng đầu không được bảo vệ.
- Chấn thương thể thao do va đập mạnh.
Cần thu thập những thông tin về cơ chế
chấn thương, t́nh trạng tri giác, thời gian bất tỉnh. Chấn động năo có thể làm
thay đổi t́nh trạng tâm thần, quên sự việc xảy ra, có thể có hoặc không mất tri
giác.
Nếu nghi có chấn thương sọ năo, cần phải:
- Quyết định xem nơi xảy ra tai nạn có
nguy hiểm đối với nạn nhân không, nếu có nên đưa nạn nhân ra khỏi chỗ đó.
- Đánh giá t́nh trạng tuần hoàn-hô hấp của
nạn nhân, cấp cứu ngừng tim - ngừng thở nếu thấy nạn nhân không thở, không bắt
được mạch.
- Đánh giá nguy cơ ói mửa và khả năng gây
tắc đường thở của nạn nhân.
- Đánh giá và kiểm soát xuất huyết.
- Giữ thân nhiệt nạn nhân ở mức b́nh
thường (ủ ấm hoặc chườm mát).
- Cố định cột sống cổ trong t́nh huống
nguy cơ cao.--
Chấn thương
tủy sống và bất động cột sống cổ
Đại đa số chấn thương cột sống cổ xảy ra
ngay trong tai nạn, nhưng có bằng chứng một số trường hợp xảy ra sau tai nạn.
Một số trường hợp là do tổn thương ban đầu lan rộng (sưng, phù, xuất huyết). Một
số khác do di lệch cột sống cổ khi bị chấn thương hoặc vận chuyển. Cần lưu ư
rằng một lực khá nhỏ cũng có thể làm tổn thương tủy sống. Trước đây, nhân viên
cấp cứu thường xem cơ chế gây chấn thương là yếu tố tiên đoán tốt nhất đối với
tổn thương cột sống và tủy sống cổ, độc lập với các triệu chứng chủ quan và các
dấu hiệu thực thể. Hiện nay, người ta đă bỏ cách đánh giá chỉ đơn thuần dựa vào
cơ chế gây chấn thương (Domeier R.M. và cộng sự, 1999). Nhân viên cấp cứu cần
tổng hợp triệu chứng đau, phân bố đau, triệu chứng thần kinh và cơ chế gây chấn
thương để đánh giá nguy cơ tổn thương cột sống và tủy sống. Việc đánh giá như
thế khá phức tạp đối với đa số cấp cứu viên không chuyên. Hơn nữa, việc thăm
khám toàn diện ngoài môi trường bệnh viện thường không đầy đủ và không thích
hợp.
Cấp cứu viên cần nghi ngờ một trường hợp
chấn thương cột sống hoặc tủy sống khi thấy:
- Chấn thương do một lực đủ mạnh làm nạn
nhân bất tỉnh.
- Chấn thương ở vùng thân trên, nhất là
đầu và cổ.
- Chấn thương làm thay dổi t́nh trạng tri
giác của nạn nhân.
- Có bằng chứng ngộ độc thuốc hoặc rượu.
Nếu nghi có chấn thương tủy sống, không để
nạn nhân cử động. Bất động đầu, cổ và thân ḿnh nạn nhân. Nếu cần cấp cứu hô
hấp, không được ngửa cổ-nạn nhân ra sau mà phải mở hàm rộng ra. Nếu cần di
chuyển nạn nhân, phải giữ bất động đầu, cổ và thân nạn nhân.
Co giật
Co giật ít khi gây tử vong nhưng những
chấn thương liên quan với co giật tương đối hay gặp. Những chấn thương nặng bao
gồm găy xương, trật khớp, bỏng, chấn động năo, tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết
trong năo. Chấn thương răng miệng cũng khá phổ biến.
Hai nguyên tắc chung xử trí sơ cứu co giật
là đề pḥng chấn thương và bảo đảm thông đường thở (kể cả sau khi hết co giật).
Bệnh nhân co giật cần được bảo vệ tránh té ngă, chèn gối hoặc vật liệu mềm để
bảo vệ đầu. Đừng gh́m chặt nạn nhân hoặc nhét vật lạ vào miệng trong khi đang co
giật. Gh́m chặt bệnh nhân có thể sẽ gây tổn thương cơ xương hoặc phần mềm. Đặt
vật lạ vào miệng là vô ích v́ hầu hết các trường hợp cắn lưỡi xảy ra ngay từ đầu
cơn co giật; làm vậy sẽ nguy hiểm v́ có thể làm găy răng hoặc hít vật lạ vào
đường thở. Ngừa ứ tắc đàm răi bằng cách để nằm đầu thấp. Sau khi co giật, bệnh
nhân thường có một khoảng thời gian ngắn bị lú lẫn hoặc mất tri giác. Cần cấp
báo cho cơ quan cấp cứu khi:
- co giật kéo dài trên 5 phút hoặc tái
diễn,
- nạn nhân có vấn đề về hô hấp,
- nạn nhân bị chấn thương, và
- sau co giật, nạn nhân không đáp ứng hoặc
lú lẫn kéo dài quá 5 phút.
Chấn thương
cơ-xương và phần mềm
Chấn thương kín phần mềm gồm bong gân và
giập cơ. Nguyên tắc sơ cứu chấn thương phần mềm là giảm xuất huyết, phù nề và
đau. Nhiều nghiên cứu trên người cho thấy chườm nước đá tại chỗ có hiệu quả giảm
đau và rút ngắn thời gian đau. Tốt nhất là dùng túi ny-lông chườm đá. Để tránh
tổn thương da v́ lạnh, mỗi lần chườm không kéo dài quá 20 phút. Chườm nóng sẽ
làm tăng lưu lượng máu, chảy máu và phản ứng viêm (Kalenak A. và cộng sự, 1975).
Dùng băng thun băng ép vùng phần mềm bị
chấn thương kín có thể giảm được phù nề. Mọi chấn thương ở chi cần xem như có
kèm găy xương. Do vậy, nên băng vết thương bằng gạc vô khuẩn (nếu có), bất động
chi nhưng đừng cố nắn nếu thấy có biến dạng. Nếu chi biến dạng và tím tái, không
bắt được mạch ở phía dưới tổn thương là trường hợp cấp cứu khẩn, cần baó ngay
cho cơ quan cấp cứu. Ngoài ra, cần duy tŕ thân nhiệt để tránh sốc.
BS Nguyễn Duy Xuyên tóm dịch từ
ECC Guidelines,
Part V: New guidelines for fisrt
aid.
Circulation 2000;102:I-77