Hiểu biết nóng bỏng và mới nhất trong lĩnh vực cao huyết áp
(HA) lại liên quan đến vấn đề xưa nhất là cao HA tâm thu đơn thuần (CHA TTĐT) ở
người lớn tuổi. Bài báo của Fagard và cộng sự đăng tải trên tạp chí Circulation
(2000; 102:1079) đưa ra bằng chứng quan trọng về đáp ứng của CHA TTĐT đối với
điều trị hạ áp. Hơn nữa, việc ứng dụng bằng chứng này ảnh hưởng đến việc xử trí
cao HA thuộc bất kỳ bản chất và lứa tuổi nào.
CHA TTĐT là thể cao HA thường gặp nhất ở người trên 65 tuổi
(Kannel WB, Am J Cardiol. 2000;85:251-5). V́ dân số này ngày càng tăng
nhanh trong tương lai, CHA TTĐT sẽ chiếm tỉ lệ cao nhất trong các thể cao HA.
Trong ít năm gần đây, đă có thay đổi cách nh́n, từ- việc lâu
nay xem nặng cao HA tâm trương đến nhận thức hiện nay rằng cao HA tâm thu và
nhất là phối hợp HA tâm thu cao và HA tâm trương thấp (nghĩa là áp lực mạch giăn
rộng) là các yếu tố quyết định chính của nguy cơ tim mạch ở người cao tuổi
(Black HR, 1999). Điều này không gây ngạc nhiên v́ độ giăn rộng của áp lực mạch
phản ảnh sự chai cứng do xơ vữa của động mạch chủ và các mạch máu lớn (Smulyan
H, Ann Intern Med. 2000;132:233-7). Hiện tượng này tạo ra một nguồn chứa
nhỏ hơn, kém đàn hồi hơn mỗi khi lượng máu ở kỳ tâm thu làm tăng áp lực, và việc
đẩy máu đi ở- kỳ tâm trương làm giảm áp lực nhiều hơn so với các mạch máu c̣n
giăn nở và đàn hồi tốt. Ngoài ra trong các mạch máu bị chai cứng, vận tốc sóng
mạch cũng nhanh hơn,- khiến cho phản hồi b́nh thường của sóng áp lực từ ngoại
biên xảy ra vào giữa kỳ tâm thu chớ không ở kỳ tâm trương, điều này làm tăng áp
lực tâm thu đă có trước đó và tước đi sự hỗ trợ chủ yếu của áp lực tâm trương.
Như vậy, áp lực mạch giăn rộng, gặp điển h́nh ở người cao tuổi, phản ảnh sự tăng
các mức độ tâm thu lẫn giảm các mức độ tâm trương.
Nguy cơ của cao HA tâm thu đă được biết rơ, và bằng chứng
không chối căi cho thấy điều trị CHA TTĐT mang lại sự bảo vệ đáng kể đối với tử
suất và tần suất biến chứng (Staessen JA et al., Lancet.
2000;355:865-872). Rơ ràng là cần tập trung nhằm làm tăng hơn nữa việc kiểm
soát tốt t́nh trạng HA ở người cao tuổi có CHA TTĐT. Việc kiểm soát như thế sẽ
kéo dài thêm tuổi thọ một chút, nhưng quan trọng hơn cả nó làm giảm các tai biến
mạch máu năo, các cơn đau tim, và các đợt suy tim nặng ở lứa tuổi này. Trong một
thử nghiệm lâm sàng về điều trị CHA TTĐT (Forette F et al. Lancet. 1998;
1347-51) cho thấy bệnh sa sút trí tuệ cũng xuất hiện chậm hơn, hứa hẹn nhiều lợi
ích hơn nữa với điều trị CHA.
Tuy nhiên, HA tâm trương thấp cũng nguy hiểm. Trong phân tích
diễn tiến của trên 7500 bệnh nhân cao tuổi bị CHA TTĐT được dùng giả dược qua
nhiều nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, người ta nhận thấy tử suất gia tăng tỉ
lệ thuận với mức đô cao của HA tâm thu lúc tham gia vào nghiên cứu, nhưng điều
đáng ngạc nhiên là tử suất cũng gia tăng với HA tâm trương càng thấp lúc bắt đầu
nghiên cứu (Staessen JA et al., 2000). Khi HA tâm trương được làm giảm quá mức
bởi điều trị hạ áp, th́ các biến cố cũng gia tăng. Như vậy, cần phải hạ thấp HA
tâm thu, nhưng phải thận trọng đừng làm giảm HA tâm trương hơn nữa vốn dĩ đă
thấp.
Như vậy, v́ sự chú ư càng tập trung nhiều hơn vào việc kiểm
soát CHA TTĐT, cần trả lời 3 câu hỏi sau đây:
1. HA
tâm thu ở mức độ nào th́ nên điều trị bằng thuốc- Điều trị không dùng thuốc nhằm
làm hạ HA, mặc dù có thể hữu hiệu ở người cao tuổi hơn là người trẻ (Whelton PK
et al. 1998), thường không đầy đủ.
2. Nên
sử dụng loại thuốc nào -
3. HA nên hạ đến mức nào -
Những dữ liệu từ nghiên cứu Systolic Hypertension In Europe
Trial về cao HA tâm thu, kể cả dữ liệu của bài báo do Fagard và CS, có thể trả
lời cho các câu hỏi này.
Về câu
hỏi một, tất cả các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, có đối chứng
về CHA TTĐT đă sử dụng HA tâm thu 160 mmHg đo được tại pḥng khám hay tại bệnh
viện là trị số ban đầu tối thiểu để đưa vào nghiên cứu. Tuy nhiên, trong một
phần của dự án Systolic Hypertension In Europe Trial được Fagard và CS báo cáo,
việc đo HA- liên tục 24 giờ-đă được thực hiện (lần đầu tiên trong một nghiên cứu
ngẫu nhiên có đối chứng) ở 695 / 4695 bệnh nhân được nghiên cứu. Như nhiều người
đă ghi nhận trên người cao tuổi có CHA TTĐT hoặc cao HA tâm thu và tâm trương
phối hợp, các trị số tâm thu đo được ở ngoài pḥng khám đều thấp hơn đáng kể ở
hầu hết các bệnh nhân so với- trung b́nh 6 lần đo tại bệnh viện (trung b́nh này
là 173 mmHg). Gần 25% bệnh nhân có HA tâm thu trung b́nh đo ở ngoài pḥng khám
là <140 mmHg và, 45% trường hợp khác có HA tâm thu <160mmHg. Các người bệnh này
có "cao HA áo choàng trắng".
Khi khảo sát hiệu quả của điều trị bằng thuốc bằng-
cách theo dơi liên tục HA 24 giờ- điện tâm đồ, và các biến cố tim mạch, không
thấy bằng chứng có ư nghĩa nào về bất kỳ sự thay đổi các trị số HA đo ngoài bệnh
viện, điện thế tim, hoặc các biến cố tim mạch ở những người được điều trị so với
những người dùng giả dược, nếu các trị số HA ban đầu đo liên tục 24 giờ-<160
mmHg. Tuy các dữ liệu này được đánh giá qua một năm theo dơi và có thể không
phản ảnh các hệ quả lâu dài, nhưng chúng gợi ư một cách mạnh mẽ rằng trước khi
đổ xô vào điều trị tất cả cả những người có HA tâm thu >160 mm Hg, cần đo HA
ngoài pḥng khám để nhận dạng cao HA áo choàng trắng.
Về các dữ kiện trong báo cáo của Fagard và CS đăng tải trên
tạp chí Circulation (2000; 102:1079), cho thấy ngày càng có bằng chứng mạnh mẽ
về những người bị cao HA áo choàng trắng không có nguy cơ gia tăng các biến cố
tim mạch, ít nhất cho đến nay sau 10 năm theo dơi ở một vài trăm bệnh nhân như
vậy (Verdecchia P. Hypertension.
2000;35:844-851). Bởi lẽ làm giảm HA tâm trương hơn nữa, thường đi kèm với điều
trị làm giảm HA tâm thu có thể có hại, nên cần phải có sự thận trọng.- Theo dơi
HA liên tục 24 giờ sẽ giúp xác nhận cao HA áo choàng trắng, nhưng tại Hoa kỳ v́
thiếu hướng dẫn nên các nhà bảo hiểm không chịu thanh toán chi phí này, tự đo HA
tại nhà là một biện pháp thay thế luôn luôn sẵn- có và chấp nhận được (Jula A,
et al. Hypertension. 1999;34:261-266). Cần đo HA như- thế ở tất cả các
bệnh nhân -nếu có thể được- có HA tâm thu >160 mmHg và không có biểu hiện tổn
thương cơ quan đích hoặc bệnh lư tim mạch cần được điều trị, ngay cả khi t́m
thấy hiệu ứng áo choàng trắng. V́ không có bằng chứng nào cho thấy là điều trị
những người có HA tâm thu <160 mmHg là có lợi và với chứng cớ là làm hạ thấp hơn
nữa HA tâm trương vốn đă thấp có thể có hại, sự cẩn trọng này rất đáng được
khuyến cáo.
Về câu
hỏi thứ hai, khi HA tâm thu được ghi nhận >160mmHg, thuốc điều
trị được khuyến cáo ngày nay trong tất cả các hướng dẫn bởi các chuyên gia là
lợi tiểu liều thấp hoặc đối kháng calci nhóm dihydropyridin (The sixth report of
the Joint National Committee on Prevention, Detection, Evaluation and Treatment
of High Blood Pressure. Arch Intern Med.
1997;157:2413-2446. WHO-International Society of Hypertension guidelines for the
management of hypertension. Hypertension. 1999: 17:151-183). Các khuyến
cáo này dựa trên các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng sử dụng thuốc này thấy
có lợi trong bảo vệ tim mạch. Ở bệnh nhân cao tuổi có cao HA phối hợp tâm thu
lẫn tâm trương, điều trị dựa trên cơ sở thuốc ức chế men chuyển gần đây được
chứng minh là tốt bằng, nếu không muốn nói là tốt hơn các điều trị bằng lợi tiểu
hoặc đối kháng calci (Hansson L, et al. Lancet. 1999;354:1751-1756). Có
thể áp dụng điều này cho những người CHA TTĐT không th́ chưa rơ.
Hiện vẫn tồn tại mối quan tâm về vấn đề làm hạ thấp không chủ
ư HA tâm trương vốn dĩ đă thấp ở bệnh nhân CHA TTĐT. Có rất ít dữ liệu cho thấy
là điều trị với nitrat uống có thể làm chậm sự gia tăng của sóng mạch chịu trách
nhiệm phần lớn HA tâm thu cao ở người lớn tuổi. Sóng mạch do đó sẽ ít ảnh hưởng
hơn đến HA tâm trương, hoặc thậm chí nếu sóng mạch tăng vừa đủ cao, nó có thể
làm tăng HA tâm trương (Starmans-Kool MJF, et al. J Hum Hypertens.
1998;12:557-561). Cần có nhiều nghiên cứu có đối chứng hơn nữa với nitrat hoặc
các thuốc khác có khả năng cải thiện các thiếu sót huyết động học do CHA TTĐT
gây nên.
Về câu
hỏi thứ ba, HA nên giảm bao nhiêu, có lẽ là hóc búa nhất v́ có
bằng chứng rơ ràng cho thấy đă xảy ra nhiều hậu quả nghiêm trọng với huyết áp
tâm trương thấp. Huyết áp tâm trương thấp có thể xảy ra tự nhiên, như là một
phần của quá tŕnh xơ vữa (Staessen JA et al., 2000), hoặc phần nào do điều trị
hạ áp (Somes GW, et al. Arch Intern Med. 1999;159:2004-9). Trong nghiên
cứu Rotterdam (Voko Z, A, et al. Hypertens. 1999;34:1181-5) trên 2351
người cao tuổi bị cao HA, nguy cơ đột quỵ ở người dùng thuốc hạ áp mà HA tâm
trương < 65 mmHg th́ cao hơn so với người có HA tâm trương giữa 65 và 74 mmHg.
Trong một tái phân tích mới đây các dữ liệu từ- Systolic Hypertension In The
Elderly Program (Somes GW, et al, 1999) những người đang dùng thuốc hạ áp bị
biến cố tim mạch có HA tâm trương thấp hơn so với người không bị biến cố tim
mạch. Nh́n chung, giảm hơn 5 mmHg HA tâm trương (trung b́nh ban đầu là 77 mmHg)
ở những người được điều trị, làm tăng một cách có ư nghĩa thống kê từ 11% đến
14% đột quỵ và biến cố tim mạch.
Như vậy, rất nhiều khả năng có một đường cong J làm tăng bệnh
tim mạch khi HA tâm trương bị hạ thấp dưới mức cần thiết để duy tŕ sự tưới máu
cho các phủ tạng trọng yếu. Ngay cả ở những bệnh nhân có HA tâm trương lúc đầu
cao, như trong nghiên cứu rộng lớn Hypertension Optimal Trial với HA tâm trương
>100 mmHg khi bắt đầu tham gia vào nghiên cứu, người ta cũng nhận thấy gia tăng
rơ ràng tỉ lệ tử vong ở những người mà HA tâm trương giảm đến mức - 70 mmHg. Như
vậy, nên luôn luôn thận trọng khi điều trị bệnh nhân bị CHA TTĐT rơ ràng đă có
HA tâm trương thấp ngay từ đầu.
Để kết luận, nhu cầu điều trị cao HA đối với hằng triệu người
cao tuổi bị CHA TTĐT đă được Fagard và CS tái xác nhận. Tuy nhiên, dữ liệu của
họ cảnh báo cần thiết phải xác định trước tiên sự hiện hữu của cao HA ngoài
pḥng khám. Một khi đă xác định, CHA TTĐT phải được điều trị nhẹ nhàng để đưa HA
tâm thu về gần mức 140 mm Hg trong khi vẫn đảm bảo không hạ HA tâm trương thấp
hơn 70 mmHg. Ngay cả những người có HA tâm thu thấp hơn cũng cần phải được điều
trị tích cực nếu họ có nguy cơ cao v́ bệnh tiểu đường, rối loạn chức năng thận,
suy tim..đi kèm. Trong tương lai, các thuốc khác hơn các thuốc đang được khuyến
cáo hiện nay có thể sẽ có tác dụng chọn lọc hơn, làm giảm các mức độ HA tâm thu
nhưng không giảm đối với HA tâm trương vốn đă thấp sẵn. Dù vậy, với sự thận
trọng thích đáng, cần bảo vệ cho những bệnh nhân nhiều nguy cơ này.
BS Nguyễn Văn Phượng dịch theo Norman M. Kaplan, MD:
News issues in the treatment of isolated systolic hypertension. Circulation
2000;102:1079.