MỞ ĐẦU
Bướu lành mạch máu (hemangioma) là một dị
tật bẩm sinh của mạch máu thường gặp ở trẻ em với xuất độ là 5-10% ở trẻ một
tuổi.(1) Tuy hiện nay
có nhiều hiểu biết về sinh bệnh học, về quá tŕnh tiến triển của bướu máu cùng
những phương tiện h́nh ảnh học hiện đại, việc chẩn đoán bướu máu (ngay cả những
bướu nằm sâu trong các cơ quan nội tạng) không khó khăn, nhưng điều trị vẫn tiếp
tục là đề tài tranh luận. Một hội nghị đặc biệt chuyên đề về điều trị bướu máu
với sự tham gia của các chuyên gia về ngoại nhi, nội nhi và da học của nhiều
quốc gia đă cố gắng giải quyết những phức tạp trong quá tŕnh theo dơi và điều
trị để đi đến những giải pháp chung với những dữ liệu được chứng minh cụ thể.(2)
Tại Việt Nam hiện chưa có báo cáo chuyên đề về điều trị bệnh này. Đa số thầy
thuốc điều trị dựa vào kinh nghiệm. Bài viết này tổng hợp các tham luận trong
hội nghị chuyên đề về điều trị bướu máu của Mỹ và Châu Âu, cùng những y văn mới
nhất.
VẤN ĐỀ tranh LUẬN VỀ ĐIỀU TRỊ:
Quá nhiều phương pháp điều trị cho bệnh
này, chứng tỏ chưa có liệu pháp nào hoàn chỉnh nên cần linh hoạt và chọn lọc kỹ.
Hiện tại vẫn phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng bác sĩ. Xử trí bướu máu phụ
thuộc nhiều yếu tố như vị trí bướu máu, độ sâu của tổn thương trong da, tuổi của
bệnh nhi (BN), biến chứng, phương tiện điều trị, khả năng chuyên môn của thầy
thuốc.(1)
Trước một BN bị bướu máu cần phải điều
trị, dù bằng bất cứ cách thức nào cũng cần cân nhắc hết sức thận trọng giữa khả
năng nguy cơ và ích lợi của việc can thiệp. Trong hội nghị nêu trên, măc dầu c̣n
nhiều ư khác nhau về điều trị , nhưng đa số cho rằng bướu máu lớn ở da mặt, đặc
biệt ở mắt môi, mũi, tai và giữa gốc mũi có nguy cơ lớn nhất là ảnh hưởng chức
năng nh́n, hô hấp, nuốt và ngay cả khi tự thoái triển nguy cơ tạo sẹo xấu cao
hơn các vị trí khác.(2) Quyết định điều trị phải tính đến tuổi BN tại
thời điểm đánh giá. Thực tế với một tổn thương tối thiểu trên một BN 2 tuần tuổi
có diễn tiến khác hoàn toàn ở BN 12 tháng tuổi với cùng một tổn thương, v́ bướu
máu tăng trưởng rất nhanh ở BN nhỏ tuổi.
1.Theo dơi diễn tiến và không điều trị:
Đại đa số các trường hợp bướu máu dạng mao
mạch và một số bướu máu dạng hang ở BN dưới 5 tuổi sẽ thoái triển dần và đến 5
năm hầu như hết hẳn và không cần thiết phải can thiệp.(3,4)
V́ vậy, cần phải thuyết phục cha mẹ BN kiên nhẫn chờ đợi. Vấn đề mổ tạo h́nh cắt
bớt vạt da dư c̣n lại sau khi bướu đă thoái hóa trở nên đơn giản hơn nhiều so
với việc điều trị cắt bỏ bướu.
Việc khuyên nhủ cha mẹ BN thường gặp khó
khăn, ngay cả ở những nước phát triển. Tại bệnh viện Nhi đồng 1, chúng tôi cần
nhiều thời gian và công sức để có thể thuyết phục cha mẹ kiên nhẫn chờ đợi mà
không điều trị. Thực tế đă sử dụng h́nh ảnh chụp những trẻ có bướu máu không
điều trị trước và sau 3-5 năm để chứng minh bướu tự thoái hóa nhằm thuyết phục
cha mẹ bệnh nhân tin tưởng và yên tâm theo dơi. Việc khám và theo dơi cần hồ sơ
cụ thể, chi tiết với từng bệnh nhân để gây ḷng tin cậy và mới đủ sức thuyết
phục. (H́nh 1 & 2)
Thậm chí cần phải thuyết phục
ngay cả nhân viên Y tế, nhất là các phẫu thuật viên kiên nhẫn không can thiệp
vào những bướu không đáng mổ. Mổ cắt bỏ bướu tỏ ra có sức hấp dẫn v́ trước mắt
làm mất bướu nhanh chóng và chứng tỏ khả năng tạo h́nh của bác sĩ. Nhưng thực
tế, trong những trường hợp bướu máu lớn vùng mặt, mũi, môi, sẹo sau mổ không đạt
yêu cầu thẩm mỹ.(4,8,17)
2. Điều trị bằng corticoid:
Kết quả điều trị bằng corticoid đường uống
hầu như giống nhau trong nhiều báo cáo:(1,2,4,)
- Khoảng 30% các trường hợp đáp ứng tốt
với điều trị: Tổn thương màu nâu đỏ của bướu nhạt dần và thoái triển dần, không
c̣n mô bướu mà chỉ c̣n lại lớp da dư.
- 40% các trường hợp đáp ứng
không hoàn toàn, sự thoái triển rất chậm và mô bướu vẫn c̣n tồn tại một phần sau
thời gian điều trị.
- 30% các trường hợp không đáp ứng sau 2
tuần điều trị: bướu không nhạt màu đi, không mềm bớt, không ngưng phát triển.
Cần ngưng điều trị.
Tỉ lệ này không tính những trường hợp dị
ứng corticoid. Đáp ứng tốt xảy ra sau 3 tuần điều trị. Trẻ nhỏ dưới 6 tháng có
khuynh hướng đáp ứng tốt hơn trẻ lớn nhưng nguy cơ biến chứng của corticoid
nhiều hơn.
Tốt nhất là uống vào buổi sáng hay chia
hai liều mỗi ngày: Prednison hay Prenisolon từ 2 đến 3 mg/kg/ngày, có tác giả
dùng liều cao hơn 5 mg/kg/ ngày.(5)
Có thể chích tĩnh mạch nếu cần, nhưng chưa
có tài liệu nào chứng minh có hiệu quả hơn uống. Tiêm tĩnh mạch liều cao
methylprednisolon được dùng để điều trị những trường hợp bướu máu đe dọa tính
mạng hoặc hội chứng Kasabach - Merritt.(6)
Không nên sử dụng corticoid liều cao, y văn đă ghi nhận tỉ lệ chết do nhiễm
trùng và biến chứng tim mạch có thể xảy ra với chế độ điều trị này sau nhiều
năm.(4,7,9)
Sử dụng corticoid trong giai đoạn bướu
tiến triển nhanh ở trẻ dưới 1 năm, với liều 2-3 mg/kg trong 2 tuần đầu, 1-2
mg/kg trong 2 tuần kế tiếp, rồi 0,5-1 mg/kg trong 2 tuần cuối rồi ngưng hẳn. Nếu
thấy vẫn c̣n những dấu hiệu tiến triển sau khi ngừng thuốc, có thể lặp lại phác
đồ trên.(2,4)
Margileth A.M.(2) kết hợp sử
dụng corticoid với băng ép hoặc xoa bóp nhẹ trên bướu cũng cho kết quả tốt.
Sử dụng corticoid chích thẳng vào bướu
(Intralesional corticosteroid) cũng hiệu quả cho những trường hợp bướu máu nhỏ,
cục bộ ở da để ngăn chặn sự lan rộng hay làm giảm thể tích bướu.(4,10)
Chống chỉ định chích corticoid thẳng vào
những bướu ở vị trí gần mắt (mí mắt, khóe mắt, chân mày, sóng mũi, thái dương)
v́ có nguy cơ gây thuyên tắc động mạch vơng mạc, liệt thần kinh vận nhăn và hoại
tử mí mắt.(11,12)
Thực tế tại thành phố Hồ Chí Minh, có nơi
sử dụng Kenacort Retard 40-80 mg chích thẳng vào bướu. Theo nhà sản xuất (Vidal,
1999), loại corticoid này không nên dùng cho trẻ em dưới 15 tuổi và là chống chỉ
định ở trẻ dưới 6 tuổi. Bướu có thể thoái hóa sau 2-3 tuầ-, nhưng tại chỗ chích
để lại vệt lơm sâu xuống dưới bề mặt da do teo mô dưới da, cơ. Việc chích chậm
áp lực thấp rất khó khăn v́ liều thuốc quá lớn so với lượng thuốc cần dùng.
3. Điều trị bằng Interferon:
-Interferon IFN-alfa 2a điều trị hiệu quả
với bướu máu đe dọa sự sống c̣n của BN ở những trường hợp thất bại với điều trị
corticoid. Interferon tỏ ra hữu hiệu đặc biệt trong những trường hợp bướu máu
dạng hang lớn- kèm theo hội chứng Kasabach Merritt (bướu máu lớn và hội chứng
giảm tiểu cầu).(13,14,15) Cả hai loại interferon alfa 2a và alfa 2b
được dùng tiêm dưới da với liều 3 triệu đơn vị /m2 cơ thể mỗi ngày.
Thời gian có đáp ứng có thể từ vài tuần đến vài tháng. Phản ứng phụ thường gặp
bao gồm dễ bị kích thích, giảm bạch cầu trung tính và bất thường enzym gan.
Barlow CF, và CS báo cáo 5/26 BN bị biến chứng liệt cứng chi dưới khi điều trị
với interferon.(16) Do vậy, việc sử dụng interferon nên chỉ định cho
trường hợp bướu máu đe dọa sự sống c̣n của BN hoặc khi thất bại với corticoid
liều cao và cần đánh giá t́nh trạng thần kinh của BN một cách chặt chẽ.
Hiện tại nhiều nơi c̣n sử dụng phương pháp
P 32 áp. Theo Van Wick (Bỉ) th́ phương pháp này đă không c̣n được sử dụng 15 năm
nay, thậm chí nhiều nơi c̣n khuyến cáo cấm sử dụng v́ người ta nghiên cứu tỉ lệ
ung thư da sau áp P 32 cao hơn người b́nh thường.-
4. Can thiệp phẫu thuật:
Trước đây, những bướu máu khổng lồ trên
mặt gây ảnh hưởng chức năng đều có chỉ định phẫu thuật sớm. Nhưng hiện nay các
phẫu thuật viên đă rất dè dặt v́ kết quả xấu về thẩm mỹ, không kể việc mất nhiều
máu có thể nguy hiểm tính mạng BN.(17)
Sau khi mổ cắt bướu và ghép da tại chỗ, thường để lại sẹo xấu v́ không cùng màu
với phần da lành. Có thể áp dụng phương pháp căng giăn vạt da (tissue expendeur)
để có được phần da lành b́nh thường dùng trong tạo h́nh xoay vạt da: Đặt một túi
nhựa có khả năng căng phồng diện tích da cần lấy (- mặt ), có van bơm nước hàng
tuần trong 6-8 tuần để căng dần dần vạt da cần sử dụng.(18)
5. Điều trị bằng thuyên tắc mạch qua da:
Thuyên tắc mạch trong các dị dạng
mạch- máu có h́nh thái bướu ở trẻ em ít được sử dụng phổ biế- như ở người lớn.
Thành công của phương pháp gây xơ được khuyến cáo nhiều ở Đức và Mỹ, như là một
phương pháp được lựa chọn trong trường hợp bướu máu dạng hang lan tỏa và dị dạng
tĩnh mạch.(19) Tại Trung tâm Y khoa MEDIC, đă áp dụng phương
pháp tắc mạch (Embolisation) trực tiếp vào tổ chức bướu, chích chất gây xơ dưới
màn huỳnh quang.
6. Điều trị bằng Laser:
Có nhiều hệ thống laser được sử dụng trong
điều trị bướu máu.
Khoảng 3 năm gần đây, có báo cáo thành
công rất đáng khích lệ của liệu pháp Laser,( 26,27) phương pháp này
có triển vọng được chọn lựa điều trị trong những năm tới. Chúng tôi cũng bước
đầu sử dụng laser tại Trung tâm MEDIC cho những trường hợp bướu máu thoái triể-
không hoàn toàn ở trẻ em trên 10 tuổi. Đây là những trường hợp được điều trị
corticoid từ nhỏ, thoái triển sau nhiều năm theo dơi c̣n tồn tại bướu trên bề
mặt rộng. Hiệu quả thẩm mỹ hơn hẳn phẫu thuật và đốt điện.
KẾT LUẬN:
Theo dơi diễn tiến và không can thiệp là
biện pháp tốt nhất hiện nay trong điều trị bướu máu. Với những bướu lớn ở trẻ em
nhất là vùng đầu mặt gây ảnh hưởng chức năng nh́n, ngửi, thở và tùy từng trường
hợp cần phối hợp nhiều phương pháp điều trị, tuy nhiên phải cân nhắc kỹ giữa
hiệu quả can thiệp cũng như tác hại lâu dài cho cuộc sống sau này của trẻ em.
TÓM TẮT:
Điều trị bướu máu hiện nay c̣n là
vấn đề cần phải bàn luận. Đối với trẻ em bị bướu máu lớn, không can thiệp và
theo dơi diễn tiến, lựa chọn thời điểm điều trị biến chứng là phương pháp điều
trị tốt nhất. Với những trường hợp cần can thiệp trong giai đoạn tiến triển,
corticoid được ưu tiên lựa chọn.- Nếu bướu làm trở ngại chức năng đ̣i hỏi phối
hợp nhiều phương pháp điều trị khác như- Interferon, thuyên tắc mạch, Laser.
SUMMARY
Treatment of hemangiomas in children: current controversy
Treatment of hemangiomas is still now a
debate issue. The best management for almost of hemangiomas in infants is no
intervention; follow-up the progress and choose the right time to solve
complications. Systemic steroids are the first line therapy in case of
proliferating hemangiomas. With lesions, particularly in the face that threaten
or interfere vital functions, it is required to combine of sevaral other
treatments: interferon, embolisation, laser photo-coagulation...
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Drolet BA et al. Hemangiomas in children. N Engl J Med 1999 ;341(3):
173-181.
2.
Frieden IJ., editor of symposium: Management of heman-giomas. Pediatr
Dermatol 1997;14:57-83
3.
Nguyễn Hoài Thu, Nguyễn Sào Trung. Phân loại bướu máu và điều trị hiện
tại. Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 1997; số 2, tập 1: 13-17.
4.
CheryL Gutman. Intervention often unneeded for hemangioma. Advanstar
Communication. Miami Beach, Fla - March, 2000.
5.
Sadan N, Wolach B. Treatment of hemangiomas of infants with high doses of
prednisone. J Pediatr 1996 Jan;128(1):141-6
6.
Ozsoylu S. High-dose intravenous methylprednisolone for Kasabach-Merritt
syndrome. J Pediatr 1991;19:676
7.
Laurence M. Boon. Complication of Systemic Corticosteroid Therapy for
Problematic Hemangioma.12 -1999. Plastic and Recontructive Surgery.
8.
Bert WO Mallley. Hemangiomas of the head and neck. June 25, 1992.
9.
Patty Reiman. Systemic Corticosteroids safe for hemangiomas- in Infants
during first year. March 2000.
10.
Reyes BA, Vazquez-Botet M, Capo H Intralesional steroids in cutaneous
hemangioma. J Dermatol Surg Oncol 1989 Aug;15(8):828-32
11.
Ruttum MS, Abrams GW, Harris GJ, et al. Bilateral retinal embolization
associated with intralesional steroid injection for capillary hemangioma of
infancy. J Pediatr Ophthalmol Strabismus
1993;30:4-7.
12.
Sutula FC, Glover AT. Eyelid necrosis following intralesional corticosteroid
injection for capillary hemangioma. Ophthalmic Surg 1987;18:103-5.
13.
Grimal, E. Duveau et coll. Efficacité et danger de l-interferon alfa dans le
traitement- des hémangiomes graves du nourisson. Arch Pédiatr 2000 ;7:163-7.
14.
Ezekowitz RAB, Mulliken JB, Folkman J. Interferon alfa-2a therapy for
life-threatening hemangiomas of infancy. N Engl J Med 1992;326:1456-63.
15.
Ricketts RR, Hatley RM, Corden BJ, Sabio H, Howell CG. Interferon-alpha-2a for
the treatment of complex hemangiomas of infancy and childhood. Ann Surg 1994;219:605-12
16.
Barlow CF, Priebe C, Mulliken JB, et al. Spastic diplegia as a complication of
interferon Alfa-2a treatment of hemangiomas of infancy. J Pediatr 1998;132:527-30
17.
-Pitanguy I, Machado BH, Radwanski HN, Amorim NF. Surgical treatment of
hemangiomas of the nose. Ann Plast Surg 1996 Jun;36(6):586-92; discussion
592-3
18.
Nguyễn Huy Phan, Lê Gia Vinh, Trần Thiết Sơn. Phương pháp giăn da trong phẫu
thuật tạo h́nh. Thời Sự Y Dược Học 2/1997, Bộ 2, số 1, trang 22-25
19.
Lisette Hilton. Sclerotherapy successfully used to treat hemangiomas. August.
2000.
20.
Garden JM, Bakus AD, Paller AS Treatment of cutaneous hemangiomas by the
flashlamp-pumped pulsed dye laser: prospective analysis. J Pediatr 1992
Apr;120(4 Pt 1):555-60
21.
Ashinoff R, Geronemus RG Failure of the flashlamp-pumped pulsed dye laser to
prevent progression to deep hemangioma. Pediatr Dermatol 1993
Mar;10(1):77-80
22.
Cheryl Gutman. Type, Site of vascular Lesion, patient age dictate Laser choice.
Portland ORE. Advanstar Communication. July , 1998.
23.
John B. Mulliken and Coll. Pharmacologic therapy for endangering hemangiomas.
Current Opinion in Dermatology 1995:109-113.
24.
Odile Enjolras. Infants with Kasabach-Merrite syndrome do not have " true"-
hemangiomas.1997.
25.
Fernando D.Burstein.Largest study on the intralesinonal Laser therapy of
hemangiomas.Craniofacial surgeon at children-s Heathcare of Atlanta 4.2000