WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

Bình luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái Bình

ĐH Y Tế Công Cộng

 

XỬ TRÍ VIÊM PHỔI CỘNG ÐỒNG TRONG KỶ NGUYÊN PHẾ CẦU KHUẨN KHÁNG THUỐC

(Tóm tắt báo cáo của nhóm Công tác Ðiều trị Streptococcus pneumoniae kháng thuốc,

Trung tâm Phòng Chống và Kiểm Soát Bệnh [CDC], Hoa Kỳ)

 


Năm 1967, lần đầu tiên tại Hoa Kỳ phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) được phát hiện giảm nhạy cảm với penicillin. Vi khuẩn này là nguyên nhân hay gặp nhất gây viêm phổi trong cộng đồng, tuy vậy tác động của phế cầu khuẩn kháng thuốc vẫn còn được bàn cãi. Phần lớn bất đồng là định nghĩa thế nào là phế cầu khuẩn kháng penicillin- Theo định nghĩa của Ủy ban Tiêu chuẩn Cận lâm sàng Quốc gia (Hoa Kỳ), phế cầu khuẩn được xem là nhạy cảm với penicillin (PNC) khi nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) - 0,06 mg/mL, nhạy trung bình khi MIC từ 0,1-1,0 mg/mL, và kháng penicillin khi MIC - 2 mg/mL. Những nghiên cứu và báo cáo gần đây gợi ý rằng phế cầu khuẩn kháng thuốc có thể tác động đến tử vong và các biến chứng của viêm phổi.

Nhóm Công tác Ðiều trị Streptococcus pneumoniae kháng thuốc gồm các nhà lâm sàng, nhà nghiên cứu và bác sĩ y học cộng đồng, được CDC triệu tập vào tháng 3/1998 đã tập trung giải quyết những vấn đề có liên quan đến tác động của phế cầu khuẩn kháng thuốc. Khuyến nghị này khu trú trong việc điều trị viêm phổi mắc phải trong cộng đồng khi nghi ngờ do phế cầu khuẩn kháng thuốc trên người không bị suy giảm miễn dịch. Có bốn vấn đề chuyên biệt được thảo luận theo từng phân nhóm riêng để rút ra kết luận.

TỔNG KẾT THẢO LUẬN NHÓM

VẤN ÐỀ 1. Sự đề kháng của phế cầu khuẩn với b-lactam có ảnh hưởng đến việc điều trị viêm phổi mắc phải trong cộng đồng hay không-

Bằng chứng cho thấy những BN nằm viện vì viêm phổi do phế cầu khuẩn có tính nhạy cảm trung bình (MIC = 0,1-1,0 mg/mL) đều đáp ứng tốt với liều b-lactam thỏa đáng dùng đường tĩnh mạch (ví dụ PNC G 4-15 triệu U/ngày đối với người lớn, và 100.000 - 300.000 U/kg/ngày đối với trẻ em trên một tháng tuổi, chia 4-6 lần/ngày; hoặc 2-12 g ampicillin natri/ngày đối với người lớn hoặc 100-300 mg/kg/ngày đối với trẻ em > 1 tháng tuổi, cũng chia 4-6 lần/ngày). Những nghiên cứu so sánh trên người lớn và trẻ em thấy rằng nhiễm phế cầu khuẩn không nhạy thuốc (MIC - 0,1 mg/mL) không ảnh hưởng kết quả điều trị viêm phổi vì đa số những BN này bị nhiễm các chủng có độ nhạy trung bình. Ðối với các chủng kháng thuốc (MIC - 2 mg/mL), dữ liệu kết quả điều trị còn trái ngược nhau. Tuy vậy, nếu phân tích kết quả gộp của các nghiên cứu trên BN (> 240 BN) nhiễm phế cầu khuẩn có độ nhạy trung bình, có thể thấy tỉ lệ thất bại điều trị tăng 5-10%.

Về dược lực học, thời gian nồng độ thuốc trong máu hoặc mô cao hơn MIC là yếu tố có ý nghĩa nhất và có tương quan với hiệu quả điều trị của b-lactam được dùng trong viêm phổi, và yếu tố quyết định chính là nồng độ thuốc tự do phải cao hơn MIC trong 40-50% thời gian khoảng cách giữa các liều. Ðối với liều PNC G trong ví dụ trên, sẽ hiệu quả đối với phế cầu khuẩn có MIC - 4 mg/mL.

Những dữ liệu nghiên cứu gợi ý rằng phần lớn các trường hợp viêm phổi do các chủng phế cầu khuẩn không hoàn toàn nhạy với penicillin có thể đáp ứng với điều trị bằng một kháng sinh b-lactam ở liều tối ưu, tuy rằng thất bại điều trị có thể xảy ra trong những trường hợp kháng thuốc cao. Do đó, cần qui định lại mức độ nhạy cảm của S. pneumoniae. Các chủng hiện nay được xem là kháng penicillin ở mức trung bình phải được xem là nhạy trong trường hợp viêm phổi. Những chủng có MIC = 2 mg/mL cũng có thể xem là nhạy cảm nếu được điều trị với PNC G liều 100.000 - 300.000 mg/kg/ngày (hoặc ampicillin natri hay cefotaxim natri 100 mg/kg/ngày). Hiện không có đủ dữ liệu ủng hộ cho việc dùng b-lactam điều trị các chủng có MIC - 4 mg/mL đối với penicillin. Do vậy, khuyến nghị cần thay đổi phân loại độ nhạy của S. pneumoniae, nếu MIC - 1 mg/mL đối với penicillin nên xem là nhạy thuốc, nếu MIC là 2 mg/mL là nhạy ở mức trung bình, và MIC - 4 mg/mL là kháng thuốc. Như vậy, những BN viêm phổi do các chủng phế cầu khuẩn có MIC - 1 mg/mL nên được điều trị bằng liều tối ưu PNC G tĩnh mạch hoặc các b-lactam chọn lọc khác.

VẤN ÐỀ 2. Trong tình hình phế cầu khuẩn kháng thuốc, phác đồ kháng sinh nào là thích hợp để điều trị theo kinh nghiệm đối với bệnh nhân ngoại trú bị viêm phổi mắc phải trong cộng đồng------------

Ðiều trị kháng sinh theo kinh nghiệm (không có xét nghiệm MIC) cho BN viêm phổi ngoại trú luôn luôn phải thiết thực chống S. pneumoniae vì vi khuẩn này là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất của viêm phổi và gây bệnh nặng hơn so với các vi khuẩn khác. Nếu có thể, nên chụp X-quang phổi và xét nghiệm đàm để khẳng định chẩn đoán. Dữ liệu giám sát dịch tễ 1997 tại bảy khu vực địa lý ở Hoa Kỳ cho thấy có 7% số S. pneumoniae gây bệnh có MIC > 2 mg/mL đối với penicillin. Ðiểm lại y văn cho thấy S. pneumoniae chiếm từ 2% đến 27% số trường hợp viêm phổi mắc phải trong cộng đồng trên BN ngoại trú. Do đó, ước tính có 7% của dữ liệu đó, tức từ 0,14% đến 1,9%, số BN viêm phổi ngoại trú bị nhiễm phế cầu khuẩn có độ kháng cao cần phải điều trị bằng những thuốc khác.

Text Box: Bảng 1: Các kháng sinh thường dùng điều trị viêm phổi*
	MIC của penicillin, mg/mL-
Kháng sinh	<0,06	0,12 - 1	Kháng thuốc
	(nhạy)	(nhạy vừa)	2	4	-8
Penicillin
PNC V
PNC G
Ampicillin natri (uống)
Ampicillin (tiêm)
Amoxicillin
Piperacillin natri
Ticarcillin
Cephalosporin
Cefotaxim natri
Ceftriaxon natri
Cefepim HCl
Cefuroxim axetil (tiêm)
Cefuroxim (uống)
Ceftizoxim
Cefprozil
Cefpodoxim proxetil
Ceftazidim
Cefaclor
Cefixim
Fluoroquinolon-
Loại mới (grepafloxacin, levofloxacin, sparfloxacin hoặc trovafloxacin)
Ofloxacin (hoặc ciprofloxacin HCl)
Macrolid
Azithromycin
Clarithromycin
Erythromycin
Kháng sinh khác
Vancomycin HCl
Clindamycin
Imipenem (hoặc meropenem)
Doxycyclin (hoặc tetracyclin)  
Chloramphenicol
Trimethoprim-sulfamethoxazole	
+++
+++
+++
+++
+++
+++
++

+++
+++
+++
+++
+++
+++
+++
+++
+++
+++
+++

+++

+++

+++
+++
+++

+++
+++
+++
+++
+++
++	
+
+++
++
+++
++
++
+

+++
+++
++
++
++
++
++
++
+
-
-

+++

++

+
+
+

+++
++
+++
++
+++
-	
-
++
-
++
+
+
-

++
++
+
+
-
-
-
-
-
-
-

+++

+

-
-
-

+++
++
-
+
-
-	
-
-
-
-
-
-
-

-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-

++

-

-
-
-

+++
+
-
-
-
-	
-
-
-
-
-
-
-

-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-

++

-

-
-
-

++
-
-
-
-
-
Ghi chú: +++ chỉ 90% phế cầu khuẩn ở mức nhạy cảm này bị kháng sinh tác động, hiệu quả lâm sàng tốt; 
++ chỉ ít nhất 75% số vi khuẩn bị tác động, hầu như có hiệu quả lâm sàng; 
+ chỉ ít nhất 50% số vi khuẩn bị tác động, có thể co hiệu quả lâm sàng; 
- chỉ ít nhất 40% số vi khuẩn bị tác động  và/hoặc ít bằng chứng hiệu quả lâm sàng;
- chỉ <40% số vi khuẩn bị tác động và/hoặc không có hiệu quả lâm sàng.
-Ðộ nhaỵ được xếp theo Ủy ban Tiêu chuẩn Cận lâm sàng Quốc gia.
-Những thuốc này là thuốc thứ yếu vì sợ gây kháng thuốc và không được FDA cho phép sử dụng trên trẻ em dưới 18 tuổi.


Bảng 1 trình bày hiệu quả của các kháng sinh thường dùng điều trị viêm phổi do phế cầu khuẩn, được xếp loại theo MIC đối với penicillin.

Bảng 2 tóm tắt các khuyến nghị điều trị theo kinh nghiệm đối với BN viêm phổi ngoại trú.

Phác đồ đầu tay thích hợp để điều trị theo kinh nghiệm gồm một macrolid (ví dụ erythromycin, clari-thromycin hoặc azithromycin), doxy-cyclin (hoặc tetracyclin) đối với trẻ em - 8 tuổi, hoặc một b-lactam uống có hoạt tính tốt kháng phế cầu khuẩn (ví dụ cefuroxim axetil, amoxicillin, hoặc phối hợp amoxicillin và clavunat kali). Chúng tôi ủng hộ việc sử dụng macrolid hoặc doxycyclin vì có phổ rộng trên các tác nhân gây bệnh không điển hình (nhất là Mycoplasma pneumoniae) bù cho hiệu lực kém đối với phế cầu khuẩn. Tuy vậy, không nên dùng macrolid cho trẻ < 5 tuổi vì ở nhóm tuổi này ít nhiễm các tác nhân gây bệnh không điển hình, tốt nhất là dùng b-lactam.

-Macrolid không phải là thuốc tối ưu đối với phế cầu khuẩn kháng penicillin, vì khoảng 60% chủng này cũng kháng macrolid, và khi đã kháng thì kháng mạnh - đăc biệt khi kháng thuốc là do enzym methylase của ribosom được mã hóa bởi gen ermAM, với MIC - 64 mg/mL.

Chúng tôi không khuyến khích sử dụng các fluoroquinolon mới để điều trị đầu tay vì chúng có hoạt phổ rộng, khi dùng rộng rãi dễ xuất hiện phế cầu khuẩn kháng thuốc, và chỉ nên dành điều trị cho những BN chọn lọc bị viêm phổi cộng đồng do phế cầu khuẩn kháng mạnh với penicillin (MIC - 4 mg/mL) hoặc dị ứng với các thuốc khác. Hơn nữa, dùng fluoroquinolon cũng có thể gây kháng thuốc ở vi khuẩn Gram âm.

Các b-lactam sau đây không được khuyên dùng vì hoạt tính in vitro kém đối với S. pneumoniae có MIC > 1mg/mL: PNC V kali, tất cả các cephalosporin thế hệ thứ nhất, cefaclor, cefixim, ceftibuten và loracarbef. Ngoài ra, cũng không nên dùng trovafloxacin (gây tổn thương gan), rifampicin (dễ bị kháng nếu dùng đơn thuần), cotrimoxazol (tỉ lệ kháng 18-26% và ít hiệu quả bằng amoxicillin khi dùng trong viêm phổi trẻ em).


-Bảng 2. Các phác đồ điều trị theo kinh nghiệm đối với viêm phổi mắc phải trong cộng đồng

Kháng sinh

MIC của PNC, mg/mL

Chú thích

<0,06

0,12-1

2

4

-8

 

Bệnh nhân ngoại trú

 

Macrolid (erythromycin, clarithromycin, hoặc azithromycin)

Doxycyclin (hoặc tetracyclin)

 

b-lactam uống (cefuroxim axetil, amoxicillin hoặc amoxicillin-clavunat kali)

Fluoroquinolon (grepafloxacin, levoflo-xacin hoặc sparfloxacin)

+++

 

 

+++

 

+++

 

 

+++

+

 

 

++

 

++

 

 

+++

-

 

 

+

 

+

 

 

+++

-

 

 

-

 

-

 

 

++

-

 

 

-

 

-

 

 

++

Có tác dụng với các tác nhân không điển hình (như Mycoplasma, Chlamydia, và Legionella spp.)

Có tác dụng với các tác nhân không điển hình; không được FDA cho dùng ở trẻ - 8 tuổi.

Không có tác dụng với các tác nhân không điển hình; để thay thế có thể dùng cefpodoxim hoặc cefprozil.

Không phải điều trị đầu tay vì sợ xuất hiện kháng thuốc; không được FDA cho dùng ở trẻ em; có tác dụng với các tác nhân không điển hình.-

Bệnh nhân nội trú (không nằm ở phòng săn sóc đặc biệt)

b-lactam tiêm (cefuroxim, cefotaxim natri, ceftriaxon natri, hoặc ampicillin natri-sulbactam natri) cộng với macrolid (erythromycin, clarithromycin hoặc azithromycin)

Fluoroquinolon (ví dụ grepafloxacin, levofloxacin, sparfloxacin hoặc trovafloxacin)--

+++

 

 

 

 

 

+++

+++

 

 

 

 

 

+++

++

 

 

 

 

 

+++

-

 

 

 

 

 

++

-

 

 

 

 

 

++

Cefotaxime và ceftriaxone có hoạt tính chống phế cầu khuẩn kháng thuốc tốt hơn so với ampicillin-sulbactam và với cefuroxim.

 

 

 

Xem chú thích ở trên đối với fluoroquinolon

Bệnh nhân đặt nội khí quản hoặc nằm ở phòng săn sóc đặc biệt

b-lactam tĩnh mạch (ceftriaxon hoặc cefotaxim natri) cộng với macrolid tĩnh mạch (erythromycin hoặc azithromycin)

b-lactam tĩnh mạch (ceftriaxon hoặc cefotaxim) cộng với fluoroquinolon (grepafloxacin, levofloxacin, sparfloxacin hoặc trovafloxacin)

Fluoroquinolon (ví dụ grepafloxacin, levofloxacin, sparfloxacin hoặc trovafloxacin)

+++

 

 

 

+++

 

 

 

 

++

+++

 

 

 

+++

 

 

 

 

++

++

 

 

 

++

 

 

 

 

++

-

 

 

 

++

 

 

 

 

++

-

 

 

 

++

 

 

 

 

++

Ceftriaxon hoặc cefotaxim được ưa dùng hơn các b-lactam khác vì hoạt tính chống phế cầu khuẩn kháng thuốc tốt hơn; clarithromycin không có dạng dùng tĩnh mạch.

Ceftriaxon hoặc cefotaxim được ưa dùng hơn các b-lactam khác; xem chú thích đối với fluoroquinolon.

 

 

Xem chú thích ở trên đối với fluoroquinolon; hiệu quả của đơn liệu pháp trên BN ốm nặng bị viêm phổi do phế cầu khuẩn chưa được chứng mính.

-Hoạt tính kháng phế cầu khuẩn tương đối của những thuốc này hơi khác nhau: trovafloxacin - grepafloxacin = sparfloxacin > levofloxacin. Nên hạn chế dùng sparfloxacin vì gây bắt nắng. Trovafloxacin, theo FDA, chỉ nên dành cho BN nhiễm khuẩn nặng và khi lợi ích của thuốc tỏ ra nhiều hơn là nguy cơ do dùng thuốc.-

-Vancomycin HCl có thể chỉ định cho trẻ bệnh nặng do viêm phổi mắc phải trong cộng đồng, cần được dùng kháng sinh chông phế cầu khuẩn kháng thuốc.

 


-VẤN ÐỀ 3. Trong tình hình phế cầu khuẩn kháng thuốc, phác đồ kháng sinh nào là thích hợp để điều trị theo kinh nghiệm đối với bệnh nhân nội trú bị viêm phổi mắc phải trong cộng đồng------------

Xử trí viêm phổi mắc phải trong cộng đồng ở BN nằm viện phần lớn tùy thuộc độ nặng khi nhập viện. BN cần được chẩn đoán nguyên nhân bằng các xét nghiệm cận lâm sàng thích hợp. Không có một phác đồ điều trị theo kinh nghiệm nào có thể phù hợp cho mọi tác nhân gây bệnh có thể gặp. Do vậy, đối với BN bệnh vừa phải, tức nằm viện nhưng không cần vào khoa săn sóc đặc biệt (SSÐB), điều trị ban đầu cần nhắm vào các tác nhân đáng nghi và có thể bỏ qua các tác nhân gây bệnh hiếm gặp (kể cả phế cầu khuẩn kháng thuốc cao, với MIC - 4 mg/mL đối với penicillin). Ðối với BN nặng, tức phải đặt ống nội khí quản hoặc nằm ở SSÐB, điều trị phải có hoạt phổ toàn diện hơn. Kháng sinh được dùng như khuyến nghị ở bảng 2.

Text Box: TÓM TẮT VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Cần nâng điểm giới hạn độ nhạy của phế cầu khuẩn gây viêm phổi với penicillin (MIC - 1 mg/mL: nhạy; MIC =2 mg/mL: nhạy trung bình; và MIC - 4 mg/mL: kháng).
2. Ðiều trị kháng sinh thích hợp, không dựa vào xét nghiệm vi khuẩn, đối với BN ngoại trú gồm macrolid, doxycyclin đối với trẻ - 8 tuổi, hoặc b-lactam uống có hoạt lực tốt với S. pneumoniae. Trên người lớn, có thể dùng fluoroquinolon uống nếu thất bại hoặc dị ứng với những thuốc trên, hoặc nhiễm phế cầu khuẩn được chứng minh có độ kháng cao. Ðối với trẻ em <5 tuổi, vốn hiếm gặp các tác nhân gây bệnh không điển hình, cần tránh dùng doxycyclin và fluoroquinolon, thì b-lactam là chọn lựa tốt nhất.    
3. Ðối với BN viêm phổi phải nằm viện, bệnh nặng ở mức trung bình, nên dùng b-lactam dạng tiêm hoặc amoxicillin-sulbactam, và một macrolid. Có thể dùng fluoroquinolon nhưng nên dành cho những BN chọn lọc.   
4. Phác đồ thích hợp điều trị theo kinh nghiệm đối với BN viêm phổi nặng gồm b-lactam tĩnh mạch và macrolid tĩnh mạch. Có thể thay bằng ceftriaxon (hoặc cefotaxim) tĩnh mạch và fluoroquino-lon. Nên cảnh giác khi chỉ dùng mỗi fluoroquinolon vì hiệu quả chưa được chứng minh.
5. Không dùng vancomycin để điều trị thường qui, chỉ nên dùng từ đầu đối với BN nghi viêm màng não. Có thể dùng cho trẻ em viêm phổi nặng và phải ngưng ngay khi xét nghiệm thấy vi khuẩn gây bệnh không cần điều trị bằng thuốc này.
6. Các phòng xét nghiệm nên báo cáo MIC của penicillin và các cephalosporin phổ rộng đối với mọi phế cầu khuẩn được phân lập từ bệnh phẩm. Các phòng xét nghiệm cần giám sát độ nhạy của các kháng sinh được đề nghị sử dụng trong điều trị viêm phổi mắc phải trong cộng đồng tại bản khuyến nghị này.

Những thuốc không thích hợp để điều trị BN viêm phổi mắc phải trong cộng đồng do phế cầu khuẩn, phải nằm viện, bao gồm các cephalosporin thế hệ thứ nhất và ceftazidim, ceftizoxim và ticarcillin vì vi khuẩn có tỉ lệ kháng cao với những thuốc này. Không nên dùng vancomycin một cách thường qui để điều trị viêm phổi ở người lớn, nhưng có thể dùng từ đầu đối với BN nghi viêm màng não mủ. Ở trẻ em bệnh nặng có thể dùng vancomycin vì fluoroquinolon không được khuyên dùng ở đối tượng này (tiêu chuẩn chọn bệnh như fluoroquinolon ở người lớn), và khi có kết quả xét nghiệm vi khuẩn, nên ngưng dùng vancomycin nếu thấy không phù hợp.

VẤN ÐỀ 4: Kết quả độ nhạy của S. pneumoniae với kháng sinh nên báo cáo như thế nào, và cần giám sát những thuốc nào nếu viêm phổi mắc phải trong cộng đồng là một hội chứng cần quan tâm---

Cách phân loại độ nhạy hiện nay (nhạy, trung gian, kháng) không có ích về lâm sàng để điều trị BN viêm phổi do phế cầu khuẩn. Nhóm Công tác này khuyến nghị cần nâng các điểm giới hạn lên đối với các chủng S. pneumoniae gây viêm phổi (không áp dụng với viêm màng não và viêm tai giữa) để có ý nghĩa lâm sàng hơn và giúp bác sĩ lâm sàng quyết định điều trị. Các điểm giới hạn được khuyến nghị là: nhạy với penicillin nếu MIC - 1 mg/mL, nhạy ở mức trung bình nếu MIC = 2 mg/mL, và kháng nếu MIC - 4 mg/mL. Do đó, khi áp dụng cần thay đổi cách báo cáo và lý giải kết quả độ nhạy trên xét nghiệm tùy hội chứng lâm sàng đang điều trị.

Thuốc cần được đưa vào nghiên cứu giám sát tùy thuộc cách tổ chức hệ thống giám sát (địa phương, dưạ vào bệnh viện, hoặc phòng xét nghiệm tham chiếu). Có 6 kháng sinh cần được mọi phòng xét nghiệm theo dõi là: penicillin, cefotaxim (hoặc ceftriaxon), erythromycin, doxycyclin (hoặc tetracyclin), clindamycin, và fluoro-quinonolon có hoạt tính chống phế cầu khuẩn. Tùy theo nguồn lực, có thể giám sát thêm co-trimoxazol và vancomycin. Cần xác định rõ dân số được khảo sát vì độ nhạy của S. pneumoniae có thể thay đổi theo các yếu tố dân số học (tuổi, dân tộc, khu vực địa lý). Kết quả báo cáo không những theo phân loại độ nhạy mà cần kèm theo trị số MIC hoặc đường kính hoạt lực.

BS Nguyễn Triển tóm dịch theo

James D. Heffelfinger et al. -

Management of community-acquired pneumonia in the era of pneumococcal resistance.

Arch Int Med 2000; 160:1399-1408.----
-


--

----

[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net