Năm 1967, lần đầu tiên tại Hoa Kỳ phế cầu
khuẩn (Streptococcus pneumoniae) được phát hiện giảm nhạy cảm với
penicillin. Vi khuẩn này là nguyên nhân hay gặp nhất gây viêm phổi trong cộng
đồng, tuy vậy tác động của phế cầu khuẩn kháng thuốc vẫn còn được bàn cãi. Phần
lớn bất đồng là định nghĩa thế nào là phế cầu khuẩn kháng penicillin- Theo định
nghĩa của Ủy ban Tiêu chuẩn Cận lâm sàng Quốc gia (Hoa Kỳ), phế cầu khuẩn được
xem là nhạy cảm với penicillin (PNC) khi nồng độ ức chế tối thiểu (MIC)
-
0,06 mg/mL,
nhạy trung bình khi MIC từ 0,1-1,0 mg/mL,
và kháng penicillin khi MIC -
2
mg/mL. Những nghiên cứu và
báo cáo gần đây gợi ý rằng phế cầu khuẩn kháng thuốc có thể tác động đến tử vong
và các biến chứng của viêm phổi.
Nhóm Công tác Ðiều trị Streptococcus
pneumoniae
kháng thuốc gồm các nhà lâm sàng, nhà nghiên cứu và bác sĩ y học cộng đồng, được
CDC triệu tập vào tháng 3/1998 đã tập trung giải quyết những vấn đề có liên quan
đến tác động của phế cầu khuẩn kháng thuốc. Khuyến nghị này khu trú trong việc
điều trị viêm phổi mắc phải trong cộng đồng khi nghi ngờ do phế cầu khuẩn kháng
thuốc trên người không bị suy giảm miễn dịch. Có bốn vấn đề chuyên biệt được
thảo luận theo từng phân nhóm riêng để rút ra kết luận.
TỔNG KẾT THẢO LUẬN NHÓM
VẤN ÐỀ 1. Sự đề kháng của phế cầu khuẩn với b-lactam có ảnh hưởng đến việc
điều trị viêm phổi mắc phải trong cộng đồng hay không-
Bằng chứng cho thấy những BN nằm viện vì
viêm phổi do phế cầu khuẩn có tính nhạy cảm trung bình (MIC = 0,1-1,0
mg/mL) đều đáp ứng tốt với
liều
b-lactam thỏa đáng dùng
đường tĩnh mạch (ví dụ PNC G 4-15 triệu U/ngày đối với người lớn, và 100.000 -
300.000 U/kg/ngày đối với trẻ em trên một tháng tuổi, chia 4-6 lần/ngày; hoặc
2-12 g ampicillin natri/ngày đối với người lớn hoặc 100-300 mg/kg/ngày đối với
trẻ em > 1 tháng tuổi, cũng chia 4-6 lần/ngày). Những nghiên cứu so sánh trên
người lớn và trẻ em thấy rằng nhiễm phế cầu khuẩn không nhạy thuốc (MIC
-
0,1 mg/mL)
không ảnh hưởng kết quả điều trị viêm phổi vì đa số những BN này bị nhiễm các
chủng có độ nhạy trung bình. Ðối với các chủng kháng thuốc (MIC
- 2
mg/mL), dữ liệu kết
quả điều trị còn trái ngược nhau. Tuy vậy, nếu phân tích kết quả gộp của các
nghiên cứu trên BN (> 240 BN) nhiễm phế cầu khuẩn có độ nhạy trung bình, có thể
thấy tỉ lệ thất bại điều trị tăng 5-10%.
Về dược lực học, thời gian nồng độ thuốc
trong máu hoặc mô cao hơn MIC là yếu tố có ý nghĩa nhất và có tương quan với
hiệu quả điều trị của
b-lactam được dùng
trong viêm phổi, và yếu tố quyết định chính là nồng độ thuốc tự do phải cao hơn
MIC trong 40-50% thời gian khoảng cách giữa các liều. Ðối với liều PNC G trong
ví dụ trên, sẽ hiệu quả đối với phế cầu khuẩn có MIC
- 4
mg/mL.
Những dữ liệu nghiên cứu gợi ý rằng phần
lớn các trường hợp viêm phổi do các chủng phế cầu khuẩn không hoàn toàn nhạy với
penicillin có thể đáp ứng với điều trị bằng một kháng sinh
b-lactam ở liều tối ưu, tuy
rằng thất bại điều trị có thể xảy ra trong những trường hợp kháng thuốc cao. Do
đó, cần qui định lại mức độ nhạy cảm của S. pneumoniae. Các chủng hiện
nay được xem là kháng penicillin ở mức trung bình phải được xem là nhạy trong
trường hợp viêm phổi. Những chủng có MIC = 2
mg/mL cũng có thể xem là
nhạy cảm nếu được điều trị với PNC G liều 100.000 - 300.000 mg/kg/ngày (hoặc
ampicillin natri hay cefotaxim natri 100 mg/kg/ngày). Hiện không có đủ dữ liệu
ủng hộ cho việc dùng
b-lactam điều trị các
chủng có MIC
- 4
mg/mL đối với penicillin. Do
vậy, khuyến nghị cần thay đổi phân loại độ nhạy của S. pneumoniae, nếu
MIC
- 1
mg/mL đối với
penicillin nên xem là nhạy thuốc, nếu MIC là 2
mg/mL là nhạy ở mức trung
bình, và MIC
- 4
mg/mL là kháng thuốc.
Như vậy, những BN viêm phổi do các chủng phế cầu khuẩn có MIC
- 1
mg/mL nên được điều trị bằng
liều tối ưu PNC G tĩnh mạch hoặc các
b-lactam chọn lọc
khác.
VẤN ÐỀ 2. Trong tình hình phế cầu khuẩn kháng thuốc, phác đồ kháng sinh nào
là thích hợp để điều trị theo kinh nghiệm đối với bệnh nhân ngoại trú bị viêm
phổi mắc phải trong cộng đồng------------
Ðiều trị kháng sinh theo kinh nghiệm
(không có xét nghiệm MIC) cho BN viêm phổi ngoại trú luôn luôn phải thiết thực
chống S. pneumoniae vì vi khuẩn này là một trong những nguyên nhân thường
gặp nhất của viêm phổi và gây bệnh nặng hơn so với các vi khuẩn khác. Nếu có
thể, nên chụp X-quang phổi và xét nghiệm đàm để khẳng định chẩn đoán. Dữ liệu
giám sát dịch tễ 1997 tại bảy khu vực địa lý ở Hoa Kỳ cho thấy có 7% số S.
pneumoniae gây bệnh có MIC > 2 mg/mL
đối với penicillin. Ðiểm lại y văn cho thấy S. pneumoniae chiếm từ 2% đến
27% số trường hợp viêm phổi mắc phải trong cộng đồng trên BN ngoại trú. Do đó,
ước tính có 7% của dữ liệu đó, tức từ 0,14% đến 1,9%, số BN viêm phổi ngoại trú
bị nhiễm phế cầu khuẩn có độ kháng cao cần phải điều trị bằng những thuốc khác.
Bảng
1 trình bày hiệu quả của các kháng sinh thường dùng điều trị viêm phổi do phế
cầu khuẩn, được xếp loại theo MIC đối với penicillin.
Bảng 2 tóm tắt các khuyến nghị điều trị
theo kinh nghiệm đối với BN viêm phổi ngoại trú.
Phác đồ đầu tay thích hợp để điều
trị theo kinh nghiệm gồm một macrolid (ví dụ erythromycin, clari-thromycin hoặc
azithromycin), doxy-cyclin (hoặc tetracyclin) đối với trẻ em
- 8 tuổi, hoặc một
b-lactam uống có hoạt tính tốt kháng phế cầu
khuẩn (ví dụ cefuroxim axetil, amoxicillin, hoặc phối hợp amoxicillin và
clavunat kali). Chúng tôi ủng hộ việc sử dụng macrolid hoặc doxycyclin vì có phổ
rộng trên các tác nhân gây bệnh không điển hình (nhất là Mycoplasma
pneumoniae) bù cho hiệu lực kém đối với phế cầu khuẩn. Tuy vậy, không nên
dùng macrolid cho trẻ < 5 tuổi vì ở nhóm tuổi này ít nhiễm các tác nhân gây bệnh
không điển hình, tốt nhất là dùng
b-lactam.
-Macrolid không phải là thuốc tối ưu đối
với phế cầu khuẩn kháng penicillin, vì khoảng 60% chủng này cũng kháng macrolid,
và khi đã kháng thì kháng mạnh - đăc biệt khi kháng thuốc là do enzym methylase
của ribosom được mã hóa bởi gen ermAM, với MIC
- 64
mg/mL.
Chúng tôi không khuyến khích sử dụng các
fluoroquinolon mới để điều trị đầu tay vì chúng có hoạt phổ rộng, khi dùng rộng
rãi dễ xuất hiện phế cầu khuẩn kháng thuốc, và chỉ nên dành điều trị cho những
BN chọn lọc bị viêm phổi cộng đồng do phế cầu khuẩn kháng mạnh với penicillin
(MIC
-
4 mg/mL) hoặc
dị ứng với các thuốc khác. Hơn nữa, dùng fluoroquinolon cũng có thể gây kháng
thuốc ở vi khuẩn Gram âm.
Các
b-lactam sau đây không
được khuyên dùng vì hoạt tính in vitro kém đối với S. pneumoniae có MIC >
1mg/mL: PNC V
kali, tất cả các cephalosporin thế hệ thứ nhất, cefaclor, cefixim, ceftibuten và
loracarbef. Ngoài ra, cũng không nên dùng trovafloxacin (gây tổn thương gan),
rifampicin (dễ bị kháng nếu dùng đơn thuần), cotrimoxazol (tỉ lệ kháng 18-26% và
ít hiệu quả bằng amoxicillin khi dùng trong viêm phổi trẻ em).
-VẤN ÐỀ 3. Trong tình hình phế cầu khuẩn kháng thuốc, phác đồ kháng sinh nào
là thích hợp để điều trị theo kinh nghiệm đối với bệnh nhân nội trú bị viêm phổi
mắc phải trong cộng đồng------------
Xử trí viêm phổi mắc phải trong cộng đồng
ở BN nằm viện phần lớn tùy thuộc độ nặng khi nhập viện. BN cần được chẩn đoán
nguyên nhân bằng các xét nghiệm cận lâm sàng thích hợp. Không có một phác đồ
điều trị theo kinh nghiệm nào có thể phù hợp cho mọi tác nhân gây bệnh có thể
gặp. Do vậy, đối với BN bệnh vừa phải, tức nằm viện nhưng không cần vào khoa săn
sóc đặc biệt (SSÐB), điều trị ban đầu cần nhắm vào các tác nhân đáng nghi và có
thể bỏ qua các tác nhân gây bệnh hiếm gặp (kể cả phế cầu khuẩn kháng thuốc cao,
với MIC - 4
mg/mL đối với penicillin). Ðối với BN nặng, tức
phải đặt ống nội khí quản hoặc nằm ở SSÐB, điều trị phải có hoạt phổ toàn diện
hơn. Kháng sinh được dùng như khuyến nghị ở bảng 2.

Những thuốc không thích hợp để điều trị BN viêm phổi mắc phải trong cộng đồng do
phế cầu khuẩn, phải nằm viện, bao gồm các cephalosporin thế hệ thứ nhất và
ceftazidim, ceftizoxim và ticarcillin vì vi khuẩn có tỉ lệ kháng cao với những
thuốc này. Không nên dùng vancomycin một cách thường qui để điều trị viêm phổi ở
người lớn, nhưng có thể dùng từ đầu đối với BN nghi viêm màng não mủ. Ở trẻ em
bệnh nặng có thể dùng vancomycin vì fluoroquinolon không được khuyên dùng ở đối
tượng này (tiêu chuẩn chọn bệnh như fluoroquinolon ở người lớn), và khi có kết
quả xét nghiệm vi khuẩn, nên ngưng dùng vancomycin nếu thấy không phù hợp.
VẤN ÐỀ 4: Kết quả độ nhạy của S. pneumoniae với kháng sinh nên báo
cáo như thế nào, và cần giám sát những thuốc nào nếu viêm phổi mắc phải trong
cộng đồng là một hội chứng cần quan tâm---
Cách phân loại độ nhạy hiện nay (nhạy,
trung gian, kháng) không có ích về lâm sàng để điều trị BN viêm phổi do phế cầu
khuẩn. Nhóm Công tác này khuyến nghị cần nâng các điểm giới hạn lên đối với các
chủng S. pneumoniae gây viêm phổi (không áp dụng với viêm màng não và
viêm tai giữa) để có ý nghĩa lâm sàng hơn và giúp bác sĩ lâm sàng quyết định
điều trị. Các điểm giới hạn được khuyến nghị là: nhạy với penicillin nếu MIC
- 1 mg/mL,
nhạy ở mức trung bình nếu MIC = 2 mg/mL,
và kháng nếu MIC -
4
mg/mL. Do đó, khi áp dụng
cần thay đổi cách báo cáo và lý giải kết quả độ nhạy trên xét nghiệm tùy hội
chứng lâm sàng đang điều trị.
Thuốc cần được đưa vào nghiên cứu giám sát
tùy thuộc cách tổ chức hệ thống giám sát (địa phương, dưạ vào bệnh viện, hoặc
phòng xét nghiệm tham chiếu). Có 6 kháng sinh cần được mọi phòng xét nghiệm theo
dõi là: penicillin, cefotaxim (hoặc ceftriaxon), erythromycin, doxycyclin (hoặc
tetracyclin), clindamycin, và fluoro-quinonolon có hoạt tính chống phế cầu
khuẩn. Tùy theo nguồn lực, có thể giám sát thêm co-trimoxazol và vancomycin. Cần
xác định rõ dân số được khảo sát vì độ nhạy của S. pneumoniae có thể thay
đổi theo các yếu tố dân số học (tuổi, dân tộc, khu vực địa lý). Kết quả báo cáo
không những theo phân loại độ nhạy mà cần kèm theo trị số MIC hoặc đường kính
hoạt lực.
BS
Nguyễn Triển tóm dịch theo
James D. Heffelfinger et al. -
Management of community-acquired
pneumonia in the era of pneumococcal resistance.
Arch Int Med 2000; 160:1399-1408.----
-