DỰ pḥng lây truyỀn HIV tỪ mẸ sang con: nên dùng
ngay thuỐc kháng retrovirus
Trong một hội nghị tham vấn kỹ thuật tại Geneva
(11-13/10/2000) do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Cơ quan Pḥng chống AIDS Liên
Hiệp Quốc (UNAIDS) phối hợp tổ chức, các chuyên gia đă kết luận về tính an toàn
và hiệu quả của các phác đồ chống retrovirus dùng dự pḥng lây truyền HIV từ mẹ
sang con, và cho rằng nên triển khai các phác đồ này chứ không khu trú trong một
số dự án thí điểm hoặc tại các địa điểm nghiên cứu.
Ư kiến của BS Awa Coll-Seck thuộc UNAIDS là: "Hoan nghênh
những khuyến nghị mới này, đặc biệt là những khuyến nghị liên quan đến việc sử
dụng nevirapin."- Theo BS Winnie Mpanju-Shumbusho của Dự án Pḥng chống lây
truyền HIV/AIS từ mẹ sang con của WHO th́ "việc chọn lựa sẽ tùy theo t́nh h́nh
từng địa phương, dưạ vào chi phí và đặc biệt là tính khả thi liên quan đến điều
kiện kỹ thuật và chất lượng chăm sóc tiền sản."
Tính an toàn của các phác đồ điều trị dự pḥng, bao gồm
zidovudin đơn thuần, zidovudin + lamivudin, và nevirapin, đă được nghiên cứu
rộng răi trên dân số các bà mẹ có và không nuôi con bằng sữa mẹ trên khắp thế
giới. Những thông tin hiện có không cho thấy bất kỳ một tác dụng bất lợi nào
trên sức khỏe người mẹ, sự tăng trưởng và phát triển của con họ, hoặc trên sức
khỏe và tỉ lệ tử vong của những em bé bị nhiễm bệnh tuy đă được dùng thuốc
pḥng.
Phác đồ dự pḥng phức tạp nhất là dùng zidovudin cho người mẹ
trước và trong khi sinh, và cho em bé sau khi sinh ra. Phác đồ đơn giản nhất chỉ
cần dùng một liều duy nhất nevirapin lúc bắt đầu chuyển dạ và một liều duy nhất
cho em bé. Những phác đồ dự pḥng này làm giảm tải siêu vi ở người mẹ và dự
pḥng cho em bé trong và sau khi tiếp xúc với siêu vi.
Khuyến nghị trước đây được đưa ra vào tháng 3/2000 cho rằng
v́ lo ngại siêu vi kháng nevirapin có thể nhanh chóng phát triển trên những phụ
nữ dùng thuốc này, do vậy chỉ nên dùng nevirapin trong phạm vi các dự án nghiên
cứu và thực hiện thí điểm mà thôi. Trong khi siêu vi kháng thuốc có thể nhanh
chóng đề kháng các phác đồ điều trị không hoàn toàn ức chế sự nhân đôi siêu vi,
như các phác đồ gồm lamivudin và nevirapin, lại có bằng chứng cho thấy siêu vi
có đột biến kháng thuốc sẽ giảm khi ngưng dùng thuốc chống retrovirus. Siêu vi
đột biến vẫn c̣n hiện diện với mức độ rất thấp, có thể làm giảm hiệu lực của các
điều trị chống retrovirus trong tương lai đối với người mẹ. Tuy vậy, hội nghị
nói trên đă kết luận rằng lợi ich của những phác đồ dự pḥng này là giảm lây
truyền từ mẹ sang con cao hơn hẳn những lo ngại liên quan đến sự phát sinh kháng
thuốc.
Ngoài việc dùng thuốc chống siêu vi, dự pḥng lây truyền HIV
từ mẹ sang con c̣n cần có các dịch vụ tham vấn và xét nghiệm thích hợp, cũng như
hỗ trợ cho các bà mẹ và con họ, kể cả việc tham vấn chọn lựa cách dinh dưỡng cho
con.
Hiện nay, có đến 20% trẻ sơ sinh con của các bà mẹ HIV (+) có
thể nhiễm siêu vi qua bú mẹ. Theo hội nghị, những khuyến nghị từ năm 1998 vẫn
c̣n giá trị. Một bà mẹ HIV (+) cần được tham vấn về các nguy cơ và lợi ích của
việc bú mẹ, và cần được hướng dẫn chọn lựa phương án thích hợp nhất đối với họ.
Nếu bà mẹ chon cách nuôi con bằng sữa mẹ, nên khuyến nghị cho bú mẹ hoàn toàn
trong những tháng đầu, và nên cai sữa khi bé có thể dùng chế độ dinh dưỡng khác
để thay thế. Hàng năm có khoảng 600000 em bé bị nhiễm HIV, chủ yếu tại các nước
đang phát triển. Từ khi có dịch AIDS đến nay, ước tính trên thế giới có khoảng
5,1 triệu em bé bị nhiễm HIV. Hơn 90% số trường hợp này là lây truyền từ mẹ sang
con. Hai phần ba số trường hợp nhiễm bệnh xảy ra trong thai kỳ và trong khi
sinh, khoảng 1/3 là lây qua bú mẹ. V́ con số phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ bị nhiễm
HIV ngày càng tăng, nên số trẻ nhiễm bệnh cũng tăng theo.
Mới đây, một nỗ lực hợp tác giữa năm công ty dược phẩm lớn
(Boehringer Ingelheim, Bristol-Myers Squibb, F. Hoffman-La Roche, GlaxoWellcome,
và Merck & Co. Inc.) với các cơ quan Liên Hiệp Quốc (WHO, UNICEF, UNFPA và
UNAIDS), Ngân hàng Thế giới, những đề nghị của Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton
(26/9/2000) nhằm t́m cách cung cấp thuốc men điều trị và dịch vụ chăm sóc người
nhiễm HIV/AIDS tại các nước đang phát triển. Cộng ḥa Congo là nước vừa nhận
được nevirapin (Viramune-) do công ty Boehringer Ingelheim cung cấp miễn phí để
sử dụng trong việc dự pḥng lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Viramune- là một thuốc ức chế enzym phiên mă ngược
không-nucleosid, được chỉ định dùng phối hợp với các thuốc chống retrovirus khác
trong điều trị nhiễm HIV-1. Kết quả của hai ngiên cứu gần đây về việc dự pḥng
lây nhiễm HIV từ mẹ sang con bằng nevirapin (nghiên cứu HIVNET 012 và nghiên cứu
SAINT) đă được báo cáo tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 về AIDS tại Nam Phi. Và
do đó, nevirapin đă được chính thức đề nghị dùng trong dự pḥng lây truyền HIV
từ mẹ sang con, trước mắt là áp dụng tại các nước đang phát triển. Dùng
nevirapin dài ngày có thể có tác dụng nổi mẩn (16%) và rối loạn chức năng gan.
Ngoài ra có thể nhức đầu, buồn nôn, và sốt. Tuy vậy, khi dùng ngắn ngày để điều
trị dự pḥng lây truyền từ mẹ sang con, như trong hai nghiên cứu trên, chỉ thấy
tác dụng phụ nhẹ. Việc phân phối nevirapin để dùng đại trà tại các nước đang
phát triển cần được theo dơi và kiểm tra chặt chẽ, đó là điều kiện tiên quyết để
tránh những nguy hiểm do việc cấp thuốc không kiểm soát có thể làm phát sinh
kháng thuốc hoặc các tác dụng phụ do sử dụng không đúng phác đồ.
Theo bản tin UNAIDS/WHO ngày 24/10/2000 và World AIDS
Day Report 28/10/2000
cắt da BAO qui đầu bảo vệ tránh nhiễm HIV-
Bằng chứng dịch tễ học từ trên 40 nghiên cứu cho thấy cắt da
bao qui đầu có tác dụng bảo vệ tránh lây nhiễm HIV qua đường t́nh dục ở nam
giới, ngoài việc pḥng chống lậu và giang mai. Hơn nữa, người mắc bệnh lây
truyền qua đường t́nh dục dễ nhiễm HIV gấp 2-5 lần so với người b́nh thường, do
đó cắt da bao qui đầu lại càng có tác dụng bảo vệ nhiều hơn. Bằng chứng hùng hồn
nhất của tác dụng này là từ một nghiên cứu mới đây trên các cặp vợ chồng ở
Uganda (Quinn TC et al, 2000), trong đó người vợ nhiễm HIV-1 c̣n người chồng
không bị nhiễm. Trong suốt 30 tháng, không xảy ra trường hợp nhiễm bệnh mới nào
trong số 50 người chồng đă cắt da bao qui đầu, trong khi có 40 trường hợp nhiễm
bệnh trong số 137 người không cắt da qui đầu. Cả hai nhóm đều được tham vấn, xét
nghiệm HIV, cung cấp bao cao su như nhau; nhưng có đến 89% số nam giới không
dùng bao cao su, và việc sử dụng bao cao su dường như không ảnh hưởng đến tỉ lệ
lây truyền HIV. Điều đó khiến Robert Szabo và Roger V. Short (Khoa Y, đại học
Monash, Melbourne, Úc) đă đặt vấn đề tại sao cắt da bao qui đầu lại giảm được
tính cảm nhiễm đối với HIV ở nam giới.
Xuất phát từ mô h́nh gây nhiễm SIV trên niệu đạo hoặc da bao
qui đầu khỉ rhesus đực, người ta nhận thấy SIV khu trú ở tế bào Langerhans ở
niêm mạc đường sinh dục. Những tế bào này dính với các tế bào lymphô CD4 kế cận
và đi vào các mô sâu hơn. Sau hai ngày, có thể t́m thấy siêu vi trong hạch bạch
huyết vùng chậu, và sau đó là trong các hạch bạch huyết toàn thân. Trên người,
các nghiên cứu mô học cho thấy trong niêm mạc mặt trong da bao qui đầu và niệu
đạo có các tế bào tŕnh kháng nguyên. Có khả năng những tế bào này là đích đến
đầu tiên của HIV ở đường sinh dục nam. HIV-1 xâm nhập vào tế bào kư chủ là nhờ
có sự hiện diện của các thụ thể CD4, CCR5 và CXCR4.
V́ xấp xỉ 70% số nam giới nhiễm HIV là qua giao hợp đường âm
đạo, và một tỉ lệ nhỏ bằng đường hậu môn. Lớp biểu mô tầng keratin-hoá che phủ
mặt ngoài da bao qui đầu và thân dương vật là hàng rào bảo vệ chống nhiễm HIV,
nhưng mặt trong da qui đầu không keratin-hóa và có nhiều tế bào Langerhans nên
dễ cảm nhiễm với HIV khi tiếp xúc với chất tiết âm đạo bị nhiễm siêu vi. Các tổn
thương viêm loét ở niệu đạo, bao qui đầu, đầu dương vật do các bệnh lây truyền
qua đường t́nh dục dễ xảy ra trên người chưa cắt bao da qui đầu (v́ bộ phận hăm
bao qui đầu [frenulum] có nhiều mạch máu và dễ tổn thương hơn), là điều kiện
thuận lợi cho HIV xâm nhập. V́ thế, cắt da bao qui đầu giảm được nguy cơ nhiễm
bệnh thông qua giảm sự cộng lực vốn có giữa HIV và các bệnh lây truyền qua đường
t́nh dục.
Theo Szabo R. và
Short RV. How does male circumcision protect again HIV infection- BMJ
2000;320:1592-1504 (NT).
Ảnh hưởng của t́nh trạng nhiễm HIV-1 và suy giảm miễn
dịch trên mật độ kư sinh trùng sốt rét và Sốt Rét lâm sàng
Tại các nước châu Phi, tỉ lệ nhiễm HIV cũng như tỉ lệ lưu
hành sốt rét rất cao. Về mặt lư thuyết, có thể có một sự kết hợp giữa hai t́nh
trạng lây nhiễm này, tuy vậy trong thực tiễn chưa có một bằng chứng thuyết phục
nào. V́ vậy, James Whitworth và cộng sự (Viện Nghiên cứu Virus, Uganda) đă
nghiên cứu ảnh hưởng của nhiễm HIV-1 và t́nh trạng ức chế miễn dịch đang tiến
triển trên mật độ kư sinh trùng (KST) P. falciparum trong máu và sốt rét
lâm sàng.
Các tác giả đă chọn một thuần tập người lớn, có hoặc không
nhiễm HIV-1, trong dân số sống ở vùng nông thôn Uganda. Những đối tượng này được
mời đến khám tại pḥng khám mỗi 3 tháng một lần (khám thường qui) và bất cứ khi
nào bị ốm. Mỗi lần khám sẽ thu thập thông tin về triệu chứng sốt gần đây, đo
thân nhiệt và xét nghiệm KST sốt rét trong máu. Mỗi lượt khám thường qui, đối
tượng sẽ được phân loại về giai đoạn lâm sàng và xét nghiệm số lượng tế bào CD4
một cách đều đặn.
Kết quả ghi nhận được, từ năm 1990 đến 1998, gồm 484 người
tham gia với 7220 lượt khám lâm sàng. Xét nghiệm khi khám, những đối tượng HIV-1
(+) thường hay có KST sốt rét trong máu hơn (328/2788 [11,8%] so với 231/3688
[6,3%], p <0,0001). Ở những lượt khám mà HIV-1 (+), thấy số lượng tế bào CD4
thấp kết hợp với mật độ cao KST trong máu, so với những lượt khám HIV-1 (-) (p =
0,0076). Sốt rét lâm sàng thường hay gặp trong những lượt khám mà HIV-1 (+)
(55/2788 [2,0%] so với 26/3688 [0,7%], p = 0,0003) và tỉ suất nguy cơ OR có cơn
sốt rét lâm sàng càng tăng khi số lượng tế bào CD4 càng giảm (p = 0,0002) và
giai đoạn lâm sàng càng tiến triển xa (p = 0,0024). Có 3377 lượt đến khám bất
thường (ngoài qui định mỗi 3 tháng một lần). Nguy cơ sốt rét lâm sàng trên các
đối tượng HIV-1 (+) cao hơn một cách có ư nghĩa so với người có HIV-1 (-) (4,0%
so với 1,9%, p = 0,009). Nguy cơ sốt rét lâm sàng có xu hướng tăng khi số lượng
tế bào CD4 giảm (p = 0,052).
Theo các tác giả, nhiễm HIV-1 kết hợp với một sự gia tăng tần
suất sốt rét lâm sàng và mật độ KST trong máu. Sự kết hợp này có xu hướng trở
nên rơ nét hơn khi có ức chế miễn dịch nhiều, và có thể có ư nghĩa quan trọng về
mặt sức khỏe cộng đồng ờ các nước châu Phi cận Sahara.-
Theo Withworth J. và cộng sự. Effect of HIV-1 and
increasing immunosuppression- on malaria parasitaemia and clinical episodes in
adults in rural Uganda: a cohort study. Lancet 2000;356:1051-1056. (NT)
Thuốc mới dành cho nhiễm HIV
Kaletra, một thuốc mới vừa được cơ quan FDA chấp thuận để
dùng kết hợp với các thuốc chống retrovirus khác nhằm điều trị t́nh trạng nhiễm
HIV ở người lớn và trẻ em trên 6 tuổi. Đây là một thuốc kết hợp lopinavir - một
chất ức chế protease của HIV - với ritonavir, một chất có tác dụng ức chế sự
chuyển hóa lopinavir, do đó làm tăng nồng độ lopinavir trong máu.
Sự chấp thuận của FDA dựa trên kết quả phân tích các tỉ lệ BN
có tải RNA siêu vi dưới ngưỡng phát hiện (<400 bản sao/mL) và mức gia tăng số
lượng tế bào CD4. Nghiên cứu ban đầu là một thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, so
sánh điều trị Kaletra + stavudin + lamivudin với nelfinavir + stavudin +
lamivudin trên 653 BN trước đó chưa dùng thuốc chống siêu vi. Tỉ lệ BN có tải
siêu vi dưới ngưỡng phát hiện vào tuần 24 ở nhóm Kaletra cao hơn tỉ lệ ở nhóm
nelfinavir, theo thứ tự là 79% so với 71% (P = 0,015). Mức tăng trung
b́nh về số lượng tế bào CD4 so với ban đầu ở hai nhóm điều trị tương tự nhau,
khoảng 150 tế bào/mm3.
Kaletra c̣n được nghiên cứu trong hai nghiên cứu nhỏ hơn,
không đối chứng, về khoảng liều trong 24 tuần và 72 tuần, và trong một thử
nghiệm lâm sàng đánh giá đáp ứng virút-học trong 24 tuần với thuốc được dùng
phối hợp với efavirenz, trên BN trước đó đă điều trị bằng nhiều thuốc ức chế
protease. Kaletra cũng được nghiên cứu trên 100 bệnh nhi từ 6 tháng đến 12 tuổi.
Trong 24 tuần điều trị, tỉ lệ số trẻ có tải siêu vi không phát hiện được trên BN
không điều trị chống siêu vi từ trước (82%) lớn hơn so với tỉ lệ được điều trị
trước (66%). Số lượng tế bào CD4 tăng trung b́nh, so với ban đầu, khoảng 330 tế
bào/ mm3 trên trẻ em được và không được điều trị từ trước.
Các tác dụng phụ của Kaletra là tiêu chảy, mệt mỏi, nhức đầu,
và buồn nôn. Kaletra c̣n đi kèm với tăng nồng độ lipid máu, một số ít trường hợp
viêm tụy, tăng nồng độ đường huyết, tái phân bố mỡ toàn thân, và có tiềm năng
gây các tương tác thuốc nghiêm trọng. Bác sĩ thực hành và BN nên đọc kỹ hướng
dẫn sử dụng thuốc để biết thuốc nào không nên dùng chung với Kaletra, cũng như
các thuốc chống siêu vi khác để đề pḥng các tương tác thuốc nghiêm trọng hoặc
tiềm năng thuốc mất hiệu quả.
Theo JAMA Vol 284, No 17, 1/11/2000:
New drug for HIV infection. (NT)
Bỏ thuốc lá và nguy cơ đục thủy tinh thể liên quan với
tuổi ở nam giới
Mặc dù hút thuốc lá được chứng minh là một yếu tố nguy cơ của
đục thủy tinh thể liên quan với tuổi, nhưng số liệu hiện nay vẫn chưa thể kết
luận một cách dứt khoát về nguy cơ đục thủy tinh thể trên những người đă bỏ
thuốc lá. V́ vậy, từ năm 1982 đến 1997, William G. Christen và cộng sự đă thực
hiện một tiền cứu thuần tập, với thời gian theo dơi trung b́nh là 13,6 năm, nhằm
mục đích khảo sát sự kết hợp giữa bỏ hút thuốc lá và xuất độ đục thủy tinh thể
liên quan với tuổi.
Thuần tập nghiên cứu gồm 20907 bác sĩ Mỹ tham gia vào Nghiên
cứu Sức khỏe Thầy thuốc I, lúc mới được nhận vào không có chẩn đoán đục thủy
tinh thể liên quan với tuổi và đă báo cáo về mức độ hút thuốc lá của ḿnh. Về
các số đo đánh giá kết cục chính, đục thủy tinh thể liên quan với tuổi dựa vào
báo cáo của chính đối tượng, được xác nhận trong bệnh án và được chẩn đoán sau
khi đă ngẫu nhiên hóa trong nghiên cứu, và tương ứng với giảm thị lực c̣n 20/30
hoặc thấp hơn, và phẫu thuật chữa đục thủy tinh thể liên quan với tuổi trong mối
tương quan với t́nh trạng hút thuốc lá và số năm bỏ hút thuốc.
Kết quả cho thấy lúc đầu có 11% số đối tượng đang nghiện
thuốc lá, 39% trước đó có hút nhưng đă bỏ, và 50% chưa hề hút thuốc lá. Liều hút
tích lũy trung b́nh lúc đầu ở người đang nghiện thuốc lá cao xấp xỉ gấp 2 lần so
với những người trước đó có hút thuốc nhưng đă bỏ (35.8 so với 20.5 gói-năm).
Trong thời gian theo dơi, xuất hiện 2074 trường hợp đục thủy tinh thể liên quan
với tuổi và 1193 trường hợp được khẳng định qua phẫu thuật đục thủy tinh thể. So
với những người đang nghiện thuốc lá, nguy cơ tương đối (RR) đa biến đục thủy
tinh thể trên những người trước kia có hút thuốc lá nhưng đă bỏ thuốc tính đến
khi nhận vào nghiên cứu chưa đến 10 năm, 10 đến dưới 20 năm, và từ 20 năm trở
lên; theo thứ tự, là 0,79 (khoảng tin cậy [KTC] 95%: 0,64-0,98); 0,73 (KTC 95%:
0,61-0,88); và 0.74 (KTC 95%: 0,63-87), sau khi đă hiệu chỉnh với các yếu tố
nguy cơ khác của đục thủy tinh thể và tuổi bắt đầu hút thuốc. Nguy cơ tương đối
ở người chưa hề hút thuốc lá là 0,64 (KTC 95%: 0.54-0.76). Trên những người
nghiện thuốc lá trước đây, nguy cơ giảm chủ yếu do tổng liều tích lũy thấp hơn
(RR của đục thủy tinh thể đối với tăng hút thuốc lá 10 gói-năm là 1,07 (KTC 95%:
1,04-1,10). Qua một số phân tích đă gợi ư rằng lợi ích do bỏ thuốc lá độc lập
với liều tích lũy. Kết quả đối với mổ đục thể thủy tinh cũng tương tự.
Theo các tác giả, những số liệu tiền cứu này cho thấy trong
khi một số tổn thương ở thủy tinh thể do hút thuốc lá có thể đảo ngược được th́
việc bỏ thuốc lá sẽ làm giảm nguy cơ đục thủy tinh thể chủ yếu qua sự hạn chế
tổn thương thủy tinh thể liên quan với tổng liều đă hút.-------
Theo Christen WG et
al.. Smoking cessation and risk of age-related cataract in men. JAMA
2000;284:713 (NT)-
Bệnh dịch Ebola tiếp diễN ở Uganda
Có ít nhất 60 người đă chết trong vụ dịch sốt xuất huyết
Ebola đang xảy ra ở miền bắc Uganda. Các viên chức của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) tại thực địa cho rằng vụ dịch có thể tiếp diễn ít nhất là hai tháng nữa.
Vallery Abramov, người phát ngôn của WHO, nói rằng "Nhân viên của chúng tôi ở
thực địa cảm thấy hiện đang ở đợt sóng đầu của vụ dịch và có thể sẽ chứng kiến
hai hay ba đột sóng nữa. Rơ ràng t́nh h́nh đang xấu đi trước khi nó trở nên sáng
sủa hơn." Hiện các nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng vụ dịch có lẽ đă bùng phát từ
đầu tháng 8/2000, nhưng chỉ được giới chức y tế chú ư vào giữa tháng 9. Đến cuối
tháng 10/2000 đă có 165 trường hợp mắc bệnh.
Người ta không biết ổ chứa siêu vi là ở đâu. Các vụ dịch xảy
ra một cách điển h́nh khi con người tiếp xúc với súc vật nhiễm bệnh, rồi lây từ
người sang người. Siêu vi hiện diện trong nước tiểu, nước bọt, máu vá các chất
dịch và- chất tiết của cơ thể. Do đó, các thành viên trong nhà, nhân viên bệnh
viện, và những ngựi chăm sóc bệnh nhân bị sốt có nguy cơ mắc bệnh rất cao.
Thời gian ủ bệnh của SXH Ebola là từ 2-21 ngày, khi một người
ngă bệnh đă lây cho nhiều người khác nhưng chưa có triệu chứng trong vài ngày
đến vài tuần. Siêu vi tấn công mọi cơ quan trong cơ thể, ban đầu gây sốt cao,
phát ban, buồn nôn, ói mửa. và tiêu chảy. Các biến chứng xuất huyết gồm xuất
huyết ở đường tiêu hóa, thận, âm đạo và kết mạc.
Siêu vi được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1976 khi dịch xảy
ra ở Sudan và Zaire, làm cho 600 người mắc bệnh. Siêu vi gây vụ dịch hiện tại
xem ra rất gần gũi với chủng Ebola ở Sudan, vốn gây bệnh với một tử suất đến
50-70%, và tương đối ít độc lực hơn chủng Ebola ở Zaire (gây tử vong 70-90%).
Abramov cảnh báo rằng người dân không nên tiến hành tang lễ theo nghi thức
truyền thống - phải tắm cho người chết, một thao tác làm tăng cao nguy cơ nhiễm
bệnh - và được khuyên không nên đi đến vùng khác.
Theo Michael
McCarthy, Lancet- 28/10/2000
Côn trùng kháng thuốc và bệnh lây truyền qua vector
Các loài muỗi đề kháng với các thuốc diệt côn trùng thường
dùng, có khả năng ít truyền bệnh giun chỉ. Đó là kết luận của một nghiên cứu mới
được công bố gần đây (Nature
2000;407:961-62). Trong công tŕnh nghiên cứu của ḿnh, Janet Hemingway và cộng
sự (Đại học Califf, Vương quốc Anh) t́m thấy trong ruột muỗi Culex
quinquefasciatus kháng thuốc diệt côn trùng ở Sri Lanka, có một loại
esterase với nồng độ cao. Phân tích sâu thêm trên loài muỗi này cho thấy nồng độ
RNA của giun chỉ Wuchereria bancrofti (gây bệnh ở hệ bạch mạch) trong
loài muỗi kháng thuốc thấp hơn nồng độ ở muỗi cùng loài c̣n nhạy cảm với thuốc
diệt côn trùng. Bà Hemingway cho rằng "Sự gia tăng hoạt tính esterase ở loài
muỗi kháng thuốc có lẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển của ấu trùng W.
bancrofti
trong các tế bào đường ruột của muỗi." Những cơ chế kháng thuốc dựa vào esterase
tương tự như trên đă được nhận thấy ở muỗi truyền bệnh sốt rét; do vậy nếu kết
quả này có thể lặp lại được thi, theo các tác giả, "sẽ có một hệ quả sâu rộng
trong việc kiểm soát bệnh lây truyền qua vector".