|

WHO
definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and
not merely the absence of disease or infirmity.
|
|
.LIỆU CÓ CHĂNG
BỆNH AMÍP RUỘT KHÔNG LỴ-
Đau bụng mạn tính và rối loạn tiêu hóa thường xuyên là
những triệu chứng phổ biến của hơn 15% những người có vẻ khỏe mạnh. Trong những
vùng lưu hành
Entamoeba histolytica, các triệu chứng này thường được chẩn đoán là bệnh
amíp ruột không lỵ (non-dysenteric amoebiasis) cho dù vẫn chưa xác lập được mối
liên hệ nhân quả giữa các triệu chứng nói trên với E.histolytica và biểu
hiện lâm sàng của bệnh amíp ruột không lỵ và hội chứng kích thích đại tràng
(irritable bowel syndrome) cũng không khác biệt. Mục đích của nghiên cứu nhằm
đánh giá ư nghĩa lâm sàng của nhiễm E.histolytica trong mối quan hệ nhân
quả với các triệu chứng nói trên.
Các bệnh nhân có triệu chứng gợi ư bệnh amíp ruột
không lỵ từ một cuộc điều tra đánh giá lưu hành độ của các triệu chứng ở bụng
trong một quần thể dân số chung (nhóm A; n=78), và từ bệnh- nhân ngoại trú (nhóm
B; n=66), đă chọn đưa vào nghiên cứu. Những người tham gia bao gồm nhóm có triệu
chứng cũng như nhóm đối chứng không có triệu chứng (nhóm C; n=100) đều được khám
lâm sàng và xét nghiệm phân, làm xét nghiệm huyết thanh học amíp, nội soi đại
tràng, xét nghiệm mô bệnh học các mẫu sinh thiết qua nội soi đại tràng và điều
trị thử chống amíp (chỉ với những người có triệu chứng) bằng metronidazole và
mebendazole.
Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa
144 bệnh nhân có triệu chứng và 100 người không có triệu chứng thuộc nhóm đối
chứng về tỉ lệ nhiễm E.histolytica
trong phân (26 [18%] so với 18 [18%]), về bằng chứng huyết thanh học nhiễm
E.histolytica (61 [42%] so với 41 [41%]), về các bất thường khi nội soi đại
tràng (5/66 so với 1/33), hoặc về các bất thường mô bệnh học (36/73 [49%] so với
10/33 [30%]). Những người mà kết quả xét nghiệm phân t́m nang (cyst) của
E.histolytica dương tính lẫn âm tính đều cho thấy không có sự khác biệt đáng
kể về kết quả huyết thanh học nhiễm E.histolytica , cũng như những bất
thường về mô học hoặc về đáp ứng với trị liệu thử metronidazole. Các tác giả đă
đề xuất một chẩn đoán hội chứng kích thích đại tràng dựa trên các tiêu chuẩn
thống nhất và chỉ số chẩn đoán Kruis ở 127 trong số 144 bệnh nhân có triệu
chứng. Chỉ có một bệnh nhân được chẩn đoán bệnh amíp ruột không lỵ và người này
lại có tái phát triệu chứng trong 6 tuần điều trị và do vậy, sự kiện tái phát đă
không đáp ứng được các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh bệnh amíp ruột không lỵ. Hơn
60% bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng kèm theo nang E.histolytica dương
tính cũng như âm tính đều có đáp ứng toàn phần hoặc từng phần với điều trị hội
chứng kích thích đại tràng.
Để kết luận, các tác giả cho rằng các triệu chứng đại
tràng mạn tính như đau bụng và rối loạn tiêu hóa thường xuyên đều không có liên
quan với việc nhiễm E.histolytica
trong quá khứ hoặc hiện tại. Hầu hết những bệnh nhân có các triệu chứng như vậy
rất có khả năng bị hội chứng kích thích đại tràng. Thực thể lâm sàng của bệnh
amíp ruột không lỵ, nếu có, chắc phải vô cùng hiếm.
bs lê hùng thái
Theo Lancet 1997; 349:89-92. Does non-dysenteric intestinal
amoebiasis exist-
T̀NH H̀NH NHIỄM HERPES SIMPLEX VIRUS TƯP II Ở MỸ
TỪ NĂM 1976 ĐẾN NĂM 1994
Bệnh nhiễm Herpes simplex virus tưp 2 (HSV-2) thường
lây truyền qua đường t́nh dục, có thể gây đau loét bộ phận sinh dục, và hay tái
phát. Ở trẻ sơ sinh nhiễm HVS-2 có thể gây tử vong. Các tác giả đă điều tra về
lưu hành độ huyết thanh và những mối tương quan của nhiễm HVS-2 tại Mỹ, và ghi
nhận những thay đổi về lưu hành độ HSV-2 huyết thanh từ những năm cuối của thập
kỷ 70.
Phương pháp: Thu thập ác mẫu huyết thanh và số liệu thăm ḍ qua
bảng câu hỏi của chương tŕnh khảo sát Quốc về sức khoẻ và dinh dưỡng (NHANES),
đợt II từ năm1976 đến 1980 và đợt III từ 1988 đến 1994. Lượng giá kháng thể
kháng HSV-2 được qua thử nghiệm miễn dịch đặc hiệu glucoprotein gG-2 của HSV-2.
Kêt quả: Từ năm 1988 đến 1994, lưu hành độ huyết thanh HSV-2
ở những người Mỹ - 12 tuổi, là 21,9% (95% khoảng tin cậy: 20,2 - 23,6%). tương
ứng với 45 triệu người trong dân chúng nhiễm bệnh. lưu hành độ huyết thanh HSV-2
trong huyết thanh ở nữ (25,6%) cao hơn nam (17,8%), và ở người da đen (45,9%)
cao hơn người da trắng (17,6%). Chưa tới 10% bệnh nhân huyết thanh dương tính có
bệnh sử nhiễm herpes sinh dục. Trong mô h́nh nghiên cứu đa biến, cho thấy các dự
đóan độc lập về huyết thanh HSV-2 dương tính là giới nữ, chủng tộc da đen hay
người Mehico gốc Mỹ, người lớn tuổi, trính độ văn hóa thấp, nghèo, sử dụng ma
túy và có nhiều bạn t́ nh. So sánh với giai đoạn 1976 - 1980, lưu hành độ huyết
thanh HSV -2 sau khi điều chỉnh theo tuổi đă tăng 30% (KTC 95%: 15,8 - 45,8%).
Lưu hành độ huyết thanh HSV-2 của người da trắng tăng gấp 5 lần ở tuổi thiếu
niên và gấp 2 lấn ở tuổi 20. Đối với người da đen và người da trắng lớn tuổi, tỉ
lệ tăng ít hơn.
Kết luận: Vào những năm cuối của thập kỷ 70, lưu hành độ huyết
thanh nhiễm HSV-2 đă tăng 30%. Ngày nay, ở những người - 12 tuổi- trên toàn nước
Mỹ, cứ 5 người dân th́ có 1 người bị nhiễm HSV-2 . Điều cần thiết là có biện
pháp ngăn ngừa nhiễm HSV-2, đặc biệt những ổ loét sinh dụctạo thuận lợi lây lan
HIV.
BS. Lê Thiện Anh Tuấn.
(Theo N. Eng L. J. Med. 1997; 337: 1105 - 11:
Herpes simplex virus typ 2 in the United States, 1976
to 1994).
RÚT KHỎI THỊ TRƯỜNG CÁC DƯỢC
PHẨM PHỐI HỢP BARBITURATES
Ủy Ban Dược Cảnh Giác của Pháp đă xem
xét các báo cáo về những phản ứng phụ liên quan đến việc dùng các dược phẩm
barbiturates phối hợp (Atrium-/span>) có chứa phenoberbital, febarmate và difebarmate để
điều trị chứng lo âu nhẹ (viên 100mg) và các triệu chứng do cai rượu (viên
300mg).
Trong khoảng các năm 1986-1996, hệ thống
theo dơi dược phẩm Pháp cũng như công ty sản xuất đă nhận được 148 báo cáo về
tổn thương gan do dùng thuốc. Trong 60% các trường hợp, việc điều trị bằng thuốc
giải lo âu đă vượt quá thời gian giới hạn cho phép (12 tuần). Những trường hợp
viêm gan, kể cả cần phải ghép gan, cổ trướng hoặc xơ gan, suy tế bào gan và vàng
da cũng như có sự gia tăng lượng transaminaz hơn 10 lần giới hạn tối đa, chiếm
một nửa các trường hợp được báo cáo. Tỷ lệ tai biến vào khoảng 4,8/100000 trị
liệu với 1,05 trường hợp phản ứng gan nghiêm trọng trên 100.000 điều trị.
Dựa vào kết quả đánh giá liên tục về tỷ
lệ lợi ích nguy cơ của các báo cáo, loại thuốc viên 100mg barbiturate phối hợp
đă bị rút khỏi thị trường, c̣n loại thuốc 300mg chỉ được giới hạn trong điều trị
hội chứng cai rượu với liệu tŕnh ghi toa không quá 4 tuần.
TƯƠNG TÁC THUỐC VỚI
TRIAZOLAM VÀ ALPRAZOLAM
Các thông tin về việc kê đơn thuốc
triazolam va-b> alprazolam vừa được xem xét lại để lưu ư các rằng
cả hai loại thuốc trên đều được chuyển hóa qua đường cytochrome P450 3A (CYP 3A)
và do đó chúng tương tác với những dược phẩm và thực phẩm được chuyển hóa theo
cùng con đường trên..
Triazolam không được dùng chung với
ketoconazole, itraconazole và nefazodole. C̣n alprazolam
th́ tương tác với ketoconazole và itraconazole.
Ds. Huỳnh Văn Nhiệm
(Theo WHO drug Information
Vol 11, No.2, 1997)
RÚT KHỎI THỊ TRƯỜNG DƯỢC PHẨM PHỐI HỢP PARACETAMOL VÀ METHIONINE
Hăng dược phẩm SmithKline Beecham đă quyết
định rút dược phẩm phối hợp paracetamol-methionine (Pameton-/span>) khỏi các nhà thuốc v́ sử dụng quá
nhiềumethionine có thể đưa đến nguy cơ gây bệnh tim mạch. Sản phẩm này chỉ được
dùng cho các BN có nguy cơ cao về hành vi tự sát, chủ yếu là các BN trong các
bệnh viện tâm thần hoặc nhà tù. Các dược phẩm cùng loại nhưng có hàm lượng
methionine thấp hơn vẫn được lưu hành trên thị trường.
|
|
[include/content.htm] |
|