Việc
phát minh ra những kỹ thuật gây mê không kích xúc là mục tiêu nghiên cứu từ
nhiều năm nay của nhiều khoa học gia ở những nước Âu-Mỹ, cho phép con người giảm
bớt, thậm chí hủy bỏ những hậu quả của sự kích xúc phẫu thuật. Sự che chở hệ
thần kinh thực vật hay "gây mê không kích xúc" là những thuật ngữ được dùng để
chỉ phương pháp gây mê này. Nó làm giảm những tai biến, giảm tỷ lệ tử vong chung
quanh phẫu thuật đối với những người đặc biệt nhạy cảm với những sự kích xúc. Sự
kích xúc (stress) là những tác động từ bên ngoài tác động vào cơ thể sinh vật
tạo nên hằng loạt những phản ứng sinh học nhằm bảo vệ sự sống của sinh vật.
Những phản ứng sinh lư bảo vệ này bao gồm vô số kích thích tố (Hormones de
stress, hormones adrenergiques) như cortisol catecholamin, ADH, STH... làm rối
loạn đáng kể một số chức năng sinh lư và đặc biệt là sự tuần hoàn, cũng như là
sự điều chỉnh lượng đường huyết và miễn dịch.
SỰ kích xúc
TRONG QUÁ TR̀NH PHẪU THUẬT
Nhiều nguyên nhân gây ra sự kích xúc trong suốt quá
tŕnh phẫu thuật. Chúng được phát hiện rơ nhất từ khi xuất hiện những kỹ thuật
tiên tiến trong việc định lượng các catecholamin (kích tố của sự kích xúc) trong
huyết tương. Hậu quả của sự kích xúc nguy hại này làm tác động lên các cơ quan
giao cảm gây nên những phản ứng tức thời khi có những tác động tai hại lên cơ
thể. Hơn nữa, thời gian bán hủy của các catecholamin rất ngắn nên phải cần định
lượng chính xác và đúng thời điểm ở những giai đoạn khác nhau trong quá tŕnh
phẫu thuật. Nghiên cứu diễn tiến của các kích thích tố khác có thời gian bán hủy
dài hơn các catécholamin cũng giúp ích cho sự phát hiện và theo dơi quá tŕnh
kích xúc.
Thời gian tiền vô cảm là thời gian đầu của sự- kích
xúc gồm sự lo lắng cho bệnh tật, lo cho các tác động mổ xẻ gây ra đau đớn là
những nguyên nhân chính của kích xúc, tuy nó thay đổi tùy theo mỗi cá nhân người
bệnh. Thời gian thứ hai là khi khởi mê mà động tác chính là đặt ống nội khí
quản, đây là động tác nguy hiểm nhất trong giai đoạn này v́ gây nhiều đau đớn,
có thể gây xáo trộn trên huyết động học đến mức tối đa như trụy tim mạch hay
ngưng tim. Nhiều nghiên cứu đă chứng minh rằng sau khi đặt nội khí quản hoạt
động hệ giao cảm tăng lên rơ rệt. Động tác phẫu thuật là yếu tố chính của sự
kích xúc trong thời kỳ phẫu thuật bởi v́ nó tạo ra những tổn thương các cơ quan,
tổ chức, tạo ra những phản xạ, đau đớn do mổ xẻ. Sự kích xúc nặng hay nhẹ tùy
thuộc chính vào sự mạnh bạo hay nhẹ nhàng của động tác mổ như động tác banh
xương ức, đóng đinh vào xương... nhất là những động tác lôi kéo những cơ quan
nội tạng. Thời gian hậu phẫu, đặt biệt là giai đoạn hồi tỉnh là thời kỳ có nhiều
sự kích xúc quan trọng như sự tái xuất hiện cảm giác đau đớn, phục hồi tri giác
khi thuốc mê không c̣n nữa, sự xuất hiện trở lại cơ chế điều ḥa thân nhiệt để
điều chỉnh sự giảm thân nhiệt trong khi gây mê, cũng như sự giảm khối lượng tuần
hoàn, tăng thán khí... Tất cả những kỹ thuật, những phương pháp vô cảm có mục
đích ngăn chặn những phản ứng sinh lư, những động tác có hại đối với cơ thể sinh
vật là gây mê không kích xúc.
GÂY MÊ KHÔNG kích xúc NHƯ THẾ NÀO-
Hầu hết những dược chất gây mê đều có tính chất làm
giảm hoạt tính của các kích tố kích xúc, những hoạt động của hệ giao cảm. Nó chế
ngự hệ thần kinh trung ương với cơ chế không đặc hiệu. Hoạt động của các trung
tâm thụ cảm của những trục thần kinh nội tiết khác đều giảm.
Phương
pháp được áp dụng đầu tiên để ngăn ngừa những sự kích xúc là phương pháp gây mê
cân bằng, dùng những dược chất thích hợp đúng liều lượng nhằm hạn chế những tác
động có hại do động tác phẫu thuật.
Phương pháp thứ hai là dùng những dược chất nhóm thuốc
phiện bởi v́ những chất này sẽ ngăn chặn những cảm giác đau đớn có hại. Người ta
nhận thấy rằng những chất này nó không chế ngự- hoạt động của hệ giao cảm nhưng
lại ngăn chặn hay làm giảm hoạt động của hệ này khi gặp đau đớn do động tác phẫu
thuật.
Phương pháp thứ ba là thực hiện vô cảm vùng, gây tê,
cắt đứt tất cả các cảm giác đau đớn đến từ các thụ cảm ngoại biên nên tránh được
sự kích xúc.
Sự lựa chọn phương pháp nào tùy thuộc vào người bệnh,
loại bệnh nhưng chính là tùy thuộc vào phương pháp điều trị và động tác phẫu
thuật. Nếu dùng một liều lượng thuốc mê nhiều, sẽ gây ảnh hưởng trên hệ tim mạch
nhất là nhóm thuốc mê thuộc họ Halogène có tính ức chế co bóp của cơ tim, v́ vậy
không thể dùng cho những trường hợp chức năng tim suy yếu. Nếu dùng nhóm thuốc
phiện, tuy tác dụng của nó trên hệ tim mạch không nặng nề, nhưng phải cẩn thận
v́ có thể gây suy hô hấp kéo dài nên chỉ dùng cho những cuộc mổ ngắn, và nhất là
nó gây nghiện. C̣n phương pháp vô cảm vùng, nếu gây tê hoàn hảo tuy ngăn chặn
những cảm giác đau đớn, nhưng người bệnh vẫn c̣n tri giác nên lo sợ, gây tiết
nhiều những kích tố kích xúc và v́ vậy cần kết hợp liệu pháp tâm lư và sử dụng
những thuốc an thần, giảm đau đúng liều lượng.
Ngày nay, đối với mỗi giai đoạn nguy kịch khác nhau
trong quá tŕnh phẫu thuật, người ta sẽ dự tính đưa ra các phương pháp và kỹ
thuật gây mê nhằm loại bỏ hoặc giảm t́nh trạng kích xúc cùng các hậu quả của nó.
Việc giảm kích xúc tiền phẫu, trong đó có t́nh trạng
lo lắng, hồi hộp chủ yếu dựa vào quá tŕnh tiền mê bằng cách dùng thuốc giảm lo
âu hoặc là thuốc an thần, giảm đau. Vai tṛ của việc thăm khám tiền mê nhằm giải
thích và trấn an người bệnh rất quan trọng. Tuy nhiên, sự phức tạp của yếu tố
tâm sinh lư liên quan đến những thuốc tiền mê trên sự kích xúc trước mổ chưa
được nghiên cứu sâu rộng. Sử dụng thuốc giảm đau trước mổ khi có đau đớn được
xem như bắt buộc, ngăn ngừa hậu quả tai hại của đặt nội khí quản, soi thanh
quản. Sử dụng lượng thuốc phiện liều cao cho phép ngăn ngừa những phản ứng bất
lợi khi đặt nội khí quản cũng như giảm thiểu những xáo trộn huyết động học.
Nhưng chưa có một công tŕnh nghiên cứu nào nhằm so sánh những sự thuận lợi của
những phương pháp vừa nêu trên.
Những nghiên cứu nhằm giảm hay ngăn hẳn kích xúc của
những động tác mổ xẻ đă được thực hiện trong những năm gần đây. Người ta có thể
ngăn chặn sự xáo trộn giao cảm của người bệnh lúc bị rạch da bằng cách dùng liều
lượng thuốc mê cao đủ để người bệnh không c̣n cảm giác đau đớn. Thuốc mê có thể
dùng là Halothane, Enflurane, Isoflurane, Morphine hay Fentanyl. Gây tê tủy sống
cho kết quả chắc chắn v́ nó luôn luôn cắt đứt mọi sự dẫn truyền thần kinh nên
không c̣n cảm giác đau đớn. Tất cả những phương cách trên cũng đều có thể áp
dụng để chống lại đau đớn trong lúc phẫu thuật, nhưng thông thường là người ta
tăng nồng độ thuốc mê hô hấp đang dùng. Sử dụng Fentanyl liều cao trong phẫu
thuật tim mạch cho phép kiểm soát hầu như hoàn toàn kích thích đau đớn, tuy
nhiên người ta ghi nhận có sự xáo trộn lúc xẻ xương ức là một động tác nặng nề
gây nhiều đau đớn. Với phương pháp này cũng ít gây xáo trộn huyết động học khi
hồi tỉnh do tính giảm đau, nhưng phải cho người bệnh thở máy để đề pḥng suy hô
hấp.
thời gian hồi tỉnh cũng là thời gian nhiều khó khăn v́
người bệnh không c̣n được che chở của các dược chất.
thời gian này có thể giảm bớt bằng cách sử dụng thuốc giảm đau đúng mức
và phục hồi thân nhiệt từ từ. Khi người bệnh được gây tê ngoài màng cứng nên lợi
dụng phương pháp này để làm giảm đau sau mổ bằng cách chích thêm thuốc tê hay
thuốc á phiện vào catether. Điều này khó ḷng thực hiện được với phương pháp gâ-
mê cổ điển dù người gây mê có ư thức dùng thuốc giảm đau đúng mức và sớm đúng
lúc.
TẠI SAO DÙNG GÂY MÊ KHÔNG kích xúc-
Trong thời gian phẫu thuật, biện pháp ngăn chặn hoàn
toàn mọi sự kích xúc bằng các phương pháp đă mô tả ở trên là không cần thiết đối
với các người không có bệnh tim- Thật vậy, các hậu quả của sự kích thích hormon,
gây ra bởi cơn kích xúc, thường không gây nguy hại đối với tất cả mọi người
bệnh, và cũng không tùy thuộc hoàn toàn vào cách thực hiện và chỉ định phương
pháp vô cảm. Một phương pháp vô cảm này chỉ được chỉ định trong một vài điều
kiện đặc biệt sẽ rất nguy hại cho những người có bệnh tim mạch kèm theo. Cần
phải ngăn ngừa mọi kích thích giao cảm, đối với người bệnh suy mạch vành, những
kích xúc có thể gây nên những cơn cấp tính: loạn- nhịp thất, thiếu máu cơ tim,
giảm cung lượng tim, phù phổi cấp do rối loạn độ đàn hồi hoặc hoại tử cơ tim.
Những người cao huyết áp cũng có thể bị những cơn cao huyết áp ác tính khi chịu
kích thích giao cảm, cũng như những người bệnh suy tim hay bệnh cơ tim tắc nghẽn
sẽ rất nhạy cảm với những sự kích xúc. sự lựa chọn phương pháp nào trong những
hoàn cảnh bệnh lư này sẽ vô cùng khó khăn, cần thiết phải giữ vững sự ổn định về
huyết động, ngăn ngừa những sự kích xúc. Một vài bệnh cảnh đặc biệt như gây mê
phẫu thuật cho những người bệnh mạch vành nặng để thực hiện những thủ thuật tuy
ngắn, nhưng gây đau đớn, vô cùng nguy hại cho người bệnh như thông mạch vành...
Phương pháp gây mê không phải là một cách duy nhất để
tránh những hậu quả của sự kích xúc phẫu thuật, cần thiết phải tiến hành điều
trị theo nguyên nhân của từng loại bệnh. Thí dụ như những thuốc dăn mạch vành
dùng trong, trước lúc mổ cũng là một cách để làm giảm thiểu nguy cơ do kích động
giao cảm lúc gây mê phẫu thuật.
Ngoài những trường hợp bệnh tim mạch, những chỉ định
của phương pháp gây mê không kích xúc c̣n áp dụng trong những trường hợp bệnh
đặc biệt như bệnh tiểu đường nặng, cần phải điều chỉnh lượng đường huyết bằng
cách dùng kích thích tố insulin v́ đường huyết tăng cao- một phần do kích thích
tố kích xúc làm tăng đường huyết. Ngoài ra, theo lư thuyết cần phải kiểm soát sự
hoạt động của một vài kích tố như catecholamin, cortisol... người ta nhận thấy
nó có vai tṛ thuận lợi trong sự ức chế phản ứng miễn dịch của những hành động
phẫu thuật, nhưng cho tới bây giờ chưa có một nghiên cứu nào chứng minh rơ điều
này.
KẾT LUẬN
Giảm thiểu hoặc hoặc hủy bỏ nếu được những kích xúc do
phẫu thuật có thể thực hiện bằng những phương pháp vô cảm đặc biệt dưới thuật
ngữ gây mê không kích xúc. Cơ chế của nó là ngăn chặn đường cảm giác đau đớn
bằng phương pháp gây tê hoặ- bằng phương pháp gây mê toàn diện với nồng độ thuốc
mê đủ cao để ngăn chặn, hạn chế những cảm giác đau đớn có hại do động
tác phẫu thuật. Nhưng chỉ định của những phương pháp vô cảm này khá phức tạp nên
ít được áp dụng rộng răi trong công tác gây mê hàng ngày và chỉ mới áp dụng cho
những người bệnh có bệnh tim mạch.
Résumé
Anesthesie sans stress
Le stress défini par Selye comme une contrainte
extérieure à l-organisme, entraine des réactions hormonales: catécholamines,
cortisol, rénine, hormone antidiurétique, hormone somato- trope... qui
perturbent sensiblement certaines fonctions physiologiques et en particulier la
circulation mais aussi la régulation de la glycémie ou l-immunité.
La mise au point des techniques d-anesthesie
permettant de minimiser, voire de supprimer, les conséquences du stress
chirurgical, a fait l-objet de nombreux travaux depuis plusieurs années. Les
protections neurovégétatives ou la "stress free anesthesia" sont les termes
utilisés pour définir ces techniques. Ce sont l-anesthesie locorégionale, la
rachianesthesie totale, l-anesthesie générale avec les anesthesiques volatils
halogénés à hautes concentrations ou les fortes doses de morphiniques etc...
Elles visent à diminuer la morbidité et la mortalité perioperatoire chez les
sujets atteints de certaines affections qui les rendent parti-culièrement
sensibles au stress.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Baligh D., Hammerle
A.F, Hortnagl H. A Comparative study on the effect of halothane-N2O
Anesthesia and Neuro-leptanalgesia on plasma catecholamines during the intra and
postoperative period. Anesthesiology 1979, 28:517-522.
2/ brown F.F, Owens N.D, Spitznagel El r.
Cryer P.E. Plasma epinephrine and norepinephrine levels during anesthesia:
Enflurane-N2O-O2 compared with Fentanyl-N2O-O2.
Anesthesia. Analgesia 1982, 61: 366-370.
3/ Cryer P.E.
Physiology and pathophysiology of the human sympathoadrenal neuroendocrine
system N. Engl. J.Med. 1980, 303: 436-441.
4/ John D Haigh., Jesse
B. Hall, Gregory A. Schmidt Preoperative assessment of the high risk surgical
patients. Principles of critical care. Volume I, 1992: 947 - 957.
5/ Marty J, Desmonts
J.M. Stress free anesthesia comment- pourquoi- Mises au point en anesthesie
réanimation 1984, 215 - 220.
6/ Pflug A.E, Halter
J.B, effect of spinal anesthesia
on adrenergic tone and the neuroendocrine responses to surgical stress in
humans. Anesthesiology. 1981, 55:120-6.