DẪN NHẬP
-Năm 1995, trên thế giới có 1/3 dân số nhiễm vi khuẩn
lao, 9 triệu người mắc bệnh lao mới và 3 triệu người chết v́ lao trong năm.
Trong đó 95% bệnh lao và 98% tử vong đă xảy ra tại các nước nghèo và 75% số bệnh
lao thường xuất hiện ở trong lứa tuổi lao động sản xuất (15-50 tuối).
Nguyên nhân bệnh lao trở nên trầm trọng là do dân số
gia tăng nhanh, nghèo đói, bệnh lao không được nhiều quốc gia chú trọng trong
việc- pḥng chống cho đạt hiệu quả và dịch HIV.. Nhiều trường hợp lao lây nhiễm
(t́m có vi khuẩn lao trong đàm bởi soi kính trực tiếp) không được phát hiện và
điều trị. Bệnh lao không được tổ chức điều trị đầy đủ thuốc và không được quản
lư chặt chẽ đă đưa đến bệnh lao kháng thuốc và đa kháng.
Năm 1991, Tổ Chức Y Tế Thế Giới (TCYTTG) đă nhận thấy
Việc quản lư điều trị lao hữu hiệu
là mấu chốt đem lại thành công cho chương tŕnh chống lao quốc gia (CTCL) nên đă
khuyến cáo nhanh chóng dùng phác đồ hóa trị lao ngắn ngày (HTLNN) và kiện toàn
mạng lưới quản lư điều trị lao từ trung ương đến tận phường xă.
Năm 1992, TCYTTG đă đưa ra chiến lược chống lao mới:
DOTS là điều trị lao có kiểm soát với phác đồ HTLNN. Chiến lược này dựa trên
việc thực hiện đủ 5 yếu tố: (1) Chính quyền các cấp phải cam kết thực hiện CTCL.
(2) Phát hiện bệnh lao thụ động bằng xét nghiệm soi đàm trực tiếp cho những
người có triệu chứng nghi lao. (3) Điều trị lao với phác đồ HTLNN. (4) Hệ thống
tiếp liệu thuốc chống lao phải thường xuyên đầy đủ và cung cấp miễn phí cho BN.
(5) Thiết lập và duy tŕ một hệ thống theo dơi lao có hiệu quả.
Nhiều Quốc gia trên thế giới đă áp dụng triển khai
chiến lược chống lao mới trên, đă đạt tỷ lệ âm hoá nguồn lây lao trên 80%. Thực
hiện lâu dài chiến lược trên sẽ làm giảm nguồn lao và lây truyền lao trong cộng
đồng.
Vấn đề là c̣n một tỷ lệ rất nhỏ bệnh lao có vi khuẩn
lao kháng thuốc nên đă thất bại với điều trị. Vấn đề này đang được các nhà quản
lư CTCL của mỗi nước xem xét và giải quyết cho thích hợp.
- V́ thiếu kinh phí, phần lớn CTCL các nước nghèo
không thể cung cấp thuốc chống lao hàng 2
để có thể cứu chữa cho những bệnh lao đă thất bại.- Tuy nhiên, với CTCL có khả
năng kinh phí, đang cần những thông tin hướng dẫn việc sử dụng đúng cách các
thuốc lao hàng 2.
Sau đây là Hướng dẫn quản lư điều trị lao đa kháng
thuốc xuất bản năm 1997 để cung cấp thông tin cho các trung tâm điều trị lao
đa kháng thuốc thực hiện có hiệu quả.
LAO ĐA KHÁNG THUỐC VÀ CHIẾN LƯỢC ƯU TIÊN
PH̉NG NGỪA
1. Một số định nghĩa:
Lao kháng thuốc: một trường hợp lao, thường là lao phổi, có vi khuẩn
lao (VKL) kháng với l hay nhiều thuốc kháng lao được phát hiện.
- Nếu BN đă điều trị kháng lao, sau đó mới t́m thấy
VKL kháng thuốc gọi là kháng mắc phải
sau điều trị.
- Nếu BN trước đó chưa điều trị kháng lao bao giờ, mà
t́m có VKL kháng thuốc gọi là kháng tiên phát (chắc chắn là BN chưa điều
trị thuốc lao trước đó).
- Nếu nghi ngờ BN trước đó có thể đă dùng thuốc kháng
lao th́ gọi là "kháng ban đầu". Kháng thuốc ban đầu gồm kháng tiên phát và kháng
mắc phải nhưng không xác nhận được.
Lao thất bại với phác đồ tái trị.
Tái điều trị với phác đồ 2SHRZEHRZE5HRE hay 5H3R3E3, BN vẫn c̣n xét nghiệm đàm
soi trực tiếp (+) sau 5 tháng hay 8 tháng và đă được- điều trị có kiểm soát bởi
nhân viên y tế.
Lao
mạn tính: Lao mạn tính là lao thất bại với phác đồ tái trị và BN được điều
trị có kiểm soát. Lao mạn tính thường (chứ không phải luôn luôn) có VKL kháng
thuốc và thông thường là đa kháng.
-Lao
đa kháng thuốc: lao kháng ít nhất 2 thuốc H và R (2 thuốc chính). Đầu thập
niên 1990 có nhiều báo cáo về lao đa kháng, đây là hệ quả của việc dùng không
đúng nguyên tắc 6 thuốc trị lao thiết yếu SHRZE TB1. Lao đa kháng thuốc thường
gây ra lao mạn tính. Hiếm có trường hợp lao mới bị đa kháng thuốc v́ nhiễm VKL
đa kháng. Lao mới đa kháng thuốc chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong số lao mới kháng
thuốc tiên phát.
2. Nguyên nhân lao đa kháng
Lao đa kháng do con người (thầy thuốc hoặc BN) đă có
các sai sót khi chỉ định phác đồ điều trị không đầy đủ thuốc kháng lao cần
thiết, do tổ chức quản lư điều trị lao không chu đáo, không kiểm soát và do khâu
cung cấp thuốc lao không đạt chất lượng, số lượng và liên tục, và do BN dùng
thuốc không liên tục, không đủ số thuốc đă được cung cấp. Những sai sót
thường gặp là:
- Phác
đồ điều trị lao phổi không đủ mạnh, thí dụ giai đoạn tấn công chỉ có 2 hay 3
thuốc trong khi đó BN đă có VKL kháng với H.
- Thêm vào 1 thuốc lao khác sau khi điều trị thất bại
(đàm kiểm soát c̣n +).
- Cách dùng thuốc không đầy đủ số thuốc được cấp (BN
chỉ dùng thuốc nào mà ḿnh thích), không uống thuốc lao cùng một lúc khi bụng
đói; tự động ngưng thuốc từng thời kỳ rồi tiếp tục lại, không dùng đều đặn liên
tục và đủ thời gian quy định của phác đồ.
- Thiếu hướng dẫn khi khởi đầu và trong thời gian điều
trị.
- Không tổ chức quản lư điều trị lao chu đáo: không
theo dơi việc- điều trị có kiểm soát hàng ngày nhất là giai đoạn tấn công. Đặc
biệt BN nghèo được điều trị lao tại thầy thuốc tư, v́ không đủ tiền mua thuốc
nên điều trị không liên tục và mua không đủ thuốc- theo đơn ghi, hay không có đủ
phương tiện đi lại và thời gian để điều trị liên tục tại các cơ sở điều trị lao
của CTCL.
3. Tầm mức của vấn đề lao đa kháng.
a)
Trong CTCL có 2 nhóm bệnh lao: Bệnh lao mới chưa điều trị thuốc lao và bệnh
lao cũ đă điều trị thuốc lao một hay nhiều lần dù đủ hay không đủ thời gian của
từng phác đồ. Khi mới triển khai CTCL, BN lao thu dung phần lớn là bệnh cũ chiếm
đến 50% và tỷ lệ kháng thuốc mắc phải đến 50-80% ở loại BN này. V́ vậy nên nhanh
chóng ưu tiên triển khai 2 phác đồ điều trị lao chuẩn, điều trị lao mới lần đầu
và tái điều trị, sẽ sớm giảm lao kháng thuốc.
Vấn đề
quan trọng trong CTCL là pḥng ngừa lao đa kháng, chứ không phải quản lư điều
trị lao đa kháng. Kinh nghiệm của các CTCL thành công, tỷ lệ lao cũ giảm c̣n
10-20% số lao thu dung hằng năm. Tỷ lệ lao kháng thuốc mắc phải khoảng 20% và
lao đa kháng là 4-10% trong số lao cũ.
b) Kháng thuốc tiên phát và mắc phải
- Tỷ lệ kháng tiên phát thấp hơn kháng mắc phải. Trong
CTCL đă thực hiện tốt, tỷ lệ kháng tiên phát khoảng 5% hay ít hơn và là 15% hay
hơn trong CTCL mới triển khai.
- Kháng thuốc tiên phát ít nguy hiểm hơn kháng mắc
phải.
- Kháng
tiên phát thường kháng- 1 thuốc (S hay H) hơn là 2 thuốc (S+H). Kháng tiên phát
với 2-3 thuốc rất hiếm xảy ra, trong lúc kháng mắc phải thường gặp 2-3 thuốc.
- Mức độ kháng thuốc trong kháng tiên phát có nồng độ
thuốc ức chế tối thiểu (MIC) thấp so với kháng mắc phải.
V́ vậy
kháng tiên phát không có ảnh hưởng trên kết quả điều trị bệnh lao mới với phác
đồ 4 thuốc giai đoạn tấn công (SHRZ hay EHRZ). Với BN cũ tái trị với phác đồ có
5 thuốc trong giai đoạn tấn công (SHRZE) vẫn điều trị lành dù đă kháng H hay
kháng S+H.
c/ Đa kháng thuốc tiên phát chỉ xảy ra khi điều
trị lao không đúng nguyên tắc trong nhiều năm. Tỷ lệ đa kháng thuốc tiên phát có
thể cao đến 7,5%, trái lại nếu CTCL triển khai điều trị hữu hiệu trong nhiều năm
th́ tỷ lệ đa kháng thuốc tiên phát rất thấp khoảng 1% hay ít hơn. V́ tốn kém và
không thể thực hiện được trong CTCL có nhiều BN lao mới nên TCYTTG khuyến cáo:
ưu tiên áp dụng phác đồ chuẩn có 4 thuốc lao trong giai đoạn tấn công bệnh lao
mới và không làm test nhạy cảm thuốc lao (kháng sinh đồ thuốc lao) ở bệnh mới.
Chỉ khảo sát test nhạy cảm trên một mẫu bệnh lao mới để theo dơi t́nh h́nh kháng
thuốc và t́nh h́nh dịch tễ lao.
4)Làm thế nào để pḥng ngừa lao đa kháng thuốc:
a) Đối với lao mới: dùng phác đồ lần đầu có 4 thuốc ở giai đoạn tấn công
và điều trị có kiểm soát.
Phác đồ 1: 2SHRZ /4HR hay 4H3R3 hay 6HE có hiệu quả cao đối với
bệnh mới có kháng tiên phát H hay S hay cả H+S. Tỷ lệ chung về thất bại và tái
phát sau 3 năm từ- 0 - 4%. Đối với bệnh lao nhạy cảm tỷ lệ đó là 0%-3% và là
0-13% đối với lao kháng tiên- phát.
b) Đối với lao cũ: (thất bại phác đồ lần đầu, tái phát, bỏ trị trở lại
điều trị,) VKL có thể:
- C̣n nhạy cảm với các thuốc lao
- Kháng ít nhất H, nhưng c̣n nhạy cảm với R.
- Đa kháng, kháng ít nhất với H và R.
Bệnh lao đă điều trị thất bại với phác đồ 1
(2SHRZ /4HR hay 6HE của điều trị lần đầu) tỷ lệ- VKL c̣n nhạy cảm với thuốc lao
c̣n cao hơn 2 loại kháng thuốc và đa kháng thuốc, nên tái điều trị với phác đồ
tái trị 2SHRZE /1HRZE /5HRE hay 5H3R3E3.
Bệnh lao đă thất bại với cả 2 phác đồ tái trị
(được quản lư điều trị có kiểm soát nghiêm túc), th́ tỷ lệ kháng thuốc mắc phải
rất cao lên đến 80% và tỷ lệ đa kháng thuốc có thể đến 50%. Do vậy nếu dùng lại
phác đồ tái trị sẽ đạt kết quả lành bệnh thấp mà cần phải dùng đến thuốc lao
hàng 2 trừ bị và điều trị tại trung tâm chuyên biệt điều trị lao đa kháng thuốc.
NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG QUẢN LƯ
ĐIỀU TRỊ LAO ĐA KHÁNG THUỐC
1. Thành lập đơn vị chuyên quản lư điều trị lao đa
kháng thuốc:
Điều trị lao đa kháng thuốc phải dùng thêm thuốc thuốc
lao hàng 2 ngoài 6 thuốc lao chuẩn thiết yếu (SHRZE TB1) c̣n nhạy cảm. Nhưng
thuốc lao hàng 2 rất đắt tiền, ít hiệu quả và có nhiều phản ứng phụ so với thuốc
lao chuẩn thiết yếu. Do đó phải điều trị tại trung tâm chuyên biệt. Trách nhiệm
của chính quyền y tế là phải thực thi những quy định nghiêm ngặt về dược, giới
hạn việc dùng các thuốc lao hàng 2 để tránh xảy ra bệnh lao không c̣n chữa được.
2. Thiết kế một phác đồ điều trị lao đa kháng thích
hợp cho từng BN, căn cứ trên những dữ kiện:
- T́m hiểu các phác đồ BN đă điều trị lao trước.
- T́m hiểu kỹ BN có dùng hết các loại thuốc đă được
chỉ định.
- T́m biết những kết quả xét nghiệm vi sinh của BN
(soi trực tiếp, cấy, test nhạy cảm) trong và sau điều trị của mỗi phác đồ. Diễn
tiến XQ phổi và lâm sàng sau mỗi đợt điều trị.
3. Xét nghiệm test nhạy cảm phải chính xác và tin
tưởng được.
Trung tâm chuyên biệt điều trị lao phải có Khoa xét
nghiệm, có khả năng cấy đàm và thực hiện tin cậy được test nhạy cảm thuốc lao
(thiết yếu và hàng 2). Chất lượng của test phải được kiểm tra thường xuyên bởi
một labô chuẩn cấp quốc gia.
4. Cung cấp thuốc phải bảo đảm chất lượng, đều đặn và
thường xuyên
cho việc điều trị lao đa kháng thuốc.
5. Đầu tư nhân viên và kinh phí lâu dài cho trung tâm
chuyên điều trị lao đa kháng.
Phải nhận thức rằng trung tâm điều trị lao đa kháng
thuốc là nơi chi tiêu tốn kém tiền bạc vô cùng và chỉ có quốc gia giàu tài
nguyên mới thực hiện được, sau khi đă triển khai đầy đủ và ưu tiên CTCL với phác
đồ trị lao chuẩn của TCYTTG (điều trị lao mới và lao tái trị). Mỗi quốc gia chỉ
có 1 hay 2 trung tâm chuyên biệt này. Nếu không cung cấp đủ kinh phí điều hành,
trung tâm chuyên biệt trên sẽ làm hại hơn là lợi.
ĐÁNH GIÁ T̀NH TRẠNG ĐA KHÁNG THUỐC CỦA TỪNG BN
Một BN nghi ngờ đa kháng thuốc khi test nhạy cảm cho
biết kháng ít nhất là H và R. Hoặc trường hợp lao phổi với đàm VKL(+) bị thất
bại với phác đồ tái trị.
1. Một vài điều cần t́m hiểu thêm:
Một test nhạy cảm cho biết đa kháng cần được xem lại
có phù hợp với biểu hiện lâm sàng không- Nếu không th́ nên thử lại một lần nũa
v́ xét nghiệm có thể sai sót.
BN lao điều trị thất bại với phác đồ tái trị cần xem
lại BN thật sự có điều trị đầy đủ thuốc, và có kiểm soát theo quy định không-
Cắt nghĩa cho BN hiểu sự cần thiết phải biết đầy đủ
các chi tiết điều trị lao ở những lần trước về hồ sơ điều trị, kể cả gặp các bác
sĩ đă điều trị những lần trước, gặp người nhà BN để hỏi rơ. Cần hỏi kỹ BN điều
trị tư hay mua thuốc ở dược pḥng những chi tiết về từng loại thuốc, thời gian
bắt đầu dùng, thời gian ngưng trị.
2. Xem xét các tiêu chuẩn đánh giá thất bại của phác
đồ tái trị theo TCYTTG.
Tiêu chuẩn đánh giá thất bại dựa vào xét nghiệm vi
sinh:
Đàm dương tính liên tục:
-Đàm soi trực tiếp (+) sau 2-3 tháng: cần xem lại BN
có dùng thuốc đầy đủ không- Tiếp tục điều trị và xét nghiệm đàm. V́ có trường
hợp nặng, hang lớn có nhiều VKL cần điều trị 4-5 tháng mới âm hoá, nhất là khi
VKL ít dần và diễn tiến- lâm sàng tốt. Có trường hợp hang lớn có thể soi đàm
trực tiếp (+) do xác vi trùng chết 1 hay 2 tháng sau khi cấy- (-).
-Đàm soi- tiếp tục (+) vào thời điểm 5-6 tháng: cần
cấy đàm và làm test nhạy cảm. Đàm cấy (+) vào thời điểm này chứng tỏ điều trị
thất bại.
Hiện tượng vi khuẩn giảm rồi tăng
trong xét nghiệm đàm trực tiếp. Nếu có thể được, nên cấy đàm và làm test nhạy
cảm thuốc lao vào lúc này. Xem xét cẩn thận kết quả test nhạy cảm, việc XQ phổi
xấu đi, cần chụp lại để so sánh với phim phổi 2-3 tuần sau. Xem xét diễn tiến
lâm sàng có phù hợp với diễn tiến vi sinh và XQ phổi không-
4. Giải thích các dữ kiện nghi ngờ đa kháng thuốc của
mỗi cá nhân: Đánh giá các dữ liệu có được về điều trị lao những
lần trước. Xem xét thận trọng việc đánh giá thất bại với phác đồ tái trị, từ đó
suy đoán những thuốc đă bị kháng, có thể xác nhận bằng test nhạy cảm.
-
NHỮNG THUỐC ĐIỀU TRỊ LAO ĐA KHÁNG THUỐC
Thông thường, khi bệnh lao đă thất bại với phác đồ tái
trị th́ đă kháng INH và RIF, do đó phác đồ trị lao đa kháng không có INH và RIF.
1. Các thuốc lao chuẩn, thiết yếu c̣n lại có thể dùng:
SM: diệt khuẩn, sinh sản nhanh
PZA: khó làm test nhạy cảm, cũng như khó bị kháng. Dùng
PZA nên phối hợp với SM hay các loại Aminoglycosid khác để có tác dụng tối đa.
EMB: kềm khuẩn nên dùng để ngăn ngừa kháng với những thuốc
diệt khuẩn khác.
TB1: kềm khuẩn, không có vai tṛ trong điều trị đa kháng
thuốc, v́ khi phối hợp với Thioamid sẽ gây kháng chéo và tăng độc tính.
2. Các thuốc lao hàng thứ 2, dự trữ dùng trong điều
trị lao đa kháng.
Aminoglycosid: diệt khuẩn, nếu kháng với SM th́ thay bằng Kanamycin
(ít mắc tiền); Amikacin và Capréomycin rất mắc tiền.
Thioamid: diệt khuẩn: có 2 loại: Ethioamid và Prothioamid (dung
nạp tốt hơn).
Fluoroquinolon: Ofloxacin và Ciprofloxacin: diệt khuẩn yếu.
Sparfloxacin gây phản ứng da.
Cyclosérin kềm khuẩn, ngăn ngừa kháng thuốc cho thuốc diệt khuẩn
khác, độc tính cao.
Para-aminosalicylic acid (PAS) kềm khuẩn, ngăn ngừa kháng thuốc cho các thuốc
lao khác.
Thuốc khác: không có- vị trí trong điều trị lao đa kháng thuốc
như Rifabutin một dẫn xuất của Rifampicin (kháng chéo với RIF), Clofazimin chỉ
tác dụng trên M. Leprae và M.Ulcerans.
3. Kháng thuốc chéo: Điều trị sẽ không hiệu quả khi dùng nhiều thuốc cùng
một nhóm, hay dùng thuốc có kháng chéo với nhau.
Thioamid và TB1: VKL kháng Thioamid th́ kháng TB1 trên 70% số trường
hợp.
Aminoglycosid:
Kháng SM th́ dễ kháng Kanamycin và Amikacin. Nhưng
kháng SM, Kana và Amikacin, VKL c̣n nhạy Capreomycin.
Fluoroquinolon: Ofloxacin, Ciprofloxacin gây kháng chéo với các
Fluoroquinolon khác.
Cyscloserin và Terizidon: có kháng chéo.
4. Phân loại thuốc lao.
-Theo mức tác động trên vi khuẩn lao:
Diệt khuẩn mạnh: Aminoglycosid,
Thioamid, PZA.
Diệt khuẩn yếu: Fluoroquinolon
Kềm khuẩn: EMB, PAS, Cycloserin.
-Phân loại theo những tiêu chuẩn khác về lâm sàng: Chấp nhận bởi BN (số lượng, uống, chích, đau, mùi
vị), dung nạp và độc tính
CHỌN PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ CHO BN ĐĂ CÓ BIỂU HIỆN LAO ĐA KHÁNG
THUỐC
1. Những nguyên tắc cơ bản:
BN có biểu hiện kháng thuốc với INH và kháng thêm với
SM hay TB1, nhưng c̣n nhạy với RIF sẽ đáp ứng tốt với phác đồ tái trị 2SHRZE
/1HRZE/ 5HRE hay 5H3R3E3.
Nếu BN có VKL kháng ít nhất H, R và đă thất bại với
phác đồ tái trị và các phác đồ khác ngoài CTCL. BN này cần phải điều trị thêm
với vài thuốc lao hàng thứ 2 dự trữ. V́ thuốc lao hàng 2 mắc tiền, ít hiệu quả
và có nhiều độc tính nên thầy thuốc phải hướng dẫn BN rơ ràng để BN phấn đấu
vượt qua các phản ứng phụ để sống c̣n và chấp nhận điều trị có kiểm soát cho đến
khi đàm âm hoá.
Dùng phác đồ điều trị hưũ hiệu nhất có thể được. Nên
dùng trước tiên các loại thuốc lao chưa được dùng ở các lần trước và các thuốc
chuẩn c̣n nhạy cảm. Trong giai đoạn tấn công, có ít nhất là 3 thuốc, nếu được
nên có từ 4-5 thuốc c̣n nhạy cảm. Nên dùng phối hợp Aminoglycosid + PZA. Khi đàm
đă âm hoá chuyển qua giai đoạn củng cố, bớt 1-2 thuốc lao yếu và gây nhiều phản
ứng phụ.
Điều trị kéo- dài ít nhất là 18 tháng để ngừa tái phát. Theo dơi bằng soi đàm
trực tiếp và cấy từng tháng từ- tháng thứ 2 đến tháng thứ- 6 và sau đó từng 3
tháng cho đến khi ngưng trị.
2. Các ví dụ về phác đồ điều trị lao kháng thuốc:
Một test nhạy cảm có kết quả từ 2-4 tháng. Do đó:
-Nếu không có kết quả test nhạy
cảm trước khi điều trị lao đa kháng thuốc: Đă
thất bại với phác đồ tái trị 2SHRZE /1HRZE /5HRE hay 5H3R3E3, dùng phác đồ sau:
(bảng 3)
*Giai đoạn tấn công: ít nhất 4 thuốc: Kanamycin +
Ethionamid + Ofloxacin + Pyrazinamid. Âm hoá đàm sau 3-4 đến 6 tháng.
-*Giai đoạn củng cố: (nếu chưa có kết quả test nhạy
cảm), sử dụng Ethionamid + Ofloxacin trong 18 tháng tiếp.
Bảng 3
|
Giai đoạn tấn công--
(tối thiểu 3 tháng)
|
Giai đoạn củng cố
(tối thiểu18 tháng)
|
|
1. Aminoglycosid
|
1. Ethionamid
|
|
2. Ethionamid
|
2. Ofloxacin
|
|
3. Pyrazinamid
|
|
|
4.Ofloxacin
|
|
Ghi chú : (1) Aminoglycosid có thể dùng Kanamycin hay
Amikacin, hay Capreomycin.
(4) Ofloxacin liều hằng ngày 800mg có thể giảm c̣n
400mg nếu không dung nạp tốt. Trường hợp không dùng được Ofloxacin th́ thay bằng
Cycloserin.
-Nếu có kết quả test nhạy cảm trước khi điều trị hay
trong lúc điều trị tấn công lao. Tùy theo có kháng R hay không -
*Kháng INH nhưng c̣n nhạy cảm với RIF nên dùng phác đồ
tái trị hay 2 phác đồ sau:(Bảng 4)
Bảng 4
|
Kháng thuốc
|
Tấn công
(Tháng tối thiểu)
|
Củng cố
(Tháng tối----- thiểu)
|
|
INH (hoặc thêm SM,
TB1)
|
1.Rifampicin (2-3)
2.Aminoglycosid (2-3)
3.Pyrazinamid (2-3)
4.Ethambutol (2-3)
|
1.Rifampicin (6)
2.Ethambutol
-- (6)
-
|
|
INH và EMB
(hoặc thêm SM)
|
1. Rifampicin (3)
2.Aminoglycosid (3)
3. Pyrazinamid (3)
4. Ethionamid (3)
|
--
1.Rifampicin (6)
2.Ethionamid (6)
|
Ghi chú : (2) Nếu kháng SM th́ dùng Kanamycin hay Capreomycin (4) Nếu không
dùng đuợc Ethionamid cả với liều 500mg/ ngày v́ không dung nạp th́ thay bằng
Ofloxacin.
*Đa kháng thuốc lao: nếu kháng ít nhất INH và RIF:
Trong giai đọan tấn công phải dùng 5 thuốc lao bắt
buộc c̣n nhạy cảm với thời gian tối thiểu là 3 tháng. Trong giai đọan củng cố
phải dùng 3 thuốc: tối thiểu 18 tháng sau âm hoá đàm.
Dùng 2 phác đồ điều trị lao đa kháng thuốc sau: (Bảng
5)
Bảng 5
|
Kháng thuốc
|
Tấn công----- (tối thiểu 3 tháng)
|
Củng cố (tối thiểu 18 tháng)
|
|
INH , RIF
và SM
|
1. Aminoglycosid
2. Ethionamid
3. Pyrazinamid
4. Ofloxacin
5. Ethambutol
|
1. Ethionamid
2. Ofloxacin
3. Ethambutol
|
|
INH, RIF
SM và EMB
|
1. Aminoglycosid
2. Ethionamid
3. Pyrazinamid
4. Ofloxacin
5. Cycloserin
|
1. Ethionamid
2. Ofloxacin
3. Cycloserin
|
Ghi chú : Aminoglycosid dùng Kanamycin
hay Capreomycin.
-Ofloxacin: 800mg có thể giảm c̣n 400mg
nếu dung nạp kém .
Cycloserin: không có hay bị phản ứng th́
dùng PAS.
PZA: nếu bị kháng, th́ thay bằng
Cycloserin hay PAS.
CHỈ- ĐỊNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA
Phẫu thuật phổi chỉ đề cập khi BN lao bị kháng hết các
thuốc lao ngoại trừ 2 hay 3 thuốc tương đối yếu c̣n lại. Nếu BN có hang khu trú,
bị các bệnh khác nhẹ, chức năng phổi c̣n chấp nhận được, và có đủ 2-3 thuốc lao
hàng 2 để điều trị th́ sẽ được xem xét tiến hành.
Thời gian giải phẫu, tốt nhất là khi VKL c̣n ít nhất
sau 2 tháng điều trị thuốc lao hàng 2.
Tiếp tục điều trị tối thiểu thuốc lao hàng 2 thêm 18
tháng sau giải phẫu phổi.
SỐ LIỆU VỀ KHÁNG THUỐC VÀ ĐA
KHÁNG THUỐC LAO TẠI VIỆT NAM --
Điều tra kháng thuốc lao toàn quốc thực hiện 1996-1997
với số mẫu thử là 640:
- Số mẫu có kháng thuốc ban đầu từ 1 đến 4 thuốc:
S,H,R,E là 208 ( 32,5%)
- Số mẫu có đa kháng thuốc lao là 15 (2,3%)
- Số mẫu kháng H ban đầu là 128 (20%)
- Số mẫu kháng R ban đầu là 23 (3,6%)
- Số mẫu kháng E ban đầu là 7 (1,1%)
- Số mẫu kháng S+H- ban đầu là 82 (12,8%)
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
1)World health organization
WHO.TB/96.210. Guidlines for the management of Drug resistant tuberculosis.
Edition 1997.
2)World health organization
WHO.TB/97.220. Treatment of Tuberculosis Guidlines for national TB control
Programmes second edition 1997