Dẫn nhập
Lách có vai tṛ quan trọng trong việc thải trừ kư sinh trùng sốt rét (KSTSR)
khỏi máu qua việc nhận biết những biến dạng và sự nhạy cảm với IgG của hồng cầu
nhiễm.1,2 Trên những bệnh nhân đă cắt lách mà mắc sốt rét, mật
độ
kư sinh trùng có thể kéo dài, đặc biệt ở những người
miễn dịch sốt rét c̣n hạn chế.
Hiện nay, những dẫn xuất Artemisinin được thừa nhận là thuốc kháng sốt rét có
hiệu quả thải trừ nhanh chóng P.falciparum
dạng nhẫn, nhờ cơ chế gia tăng nhận biết bề mặt hồng cầu bị nhiễm.4
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có báo cáo lâm sàng nào về những trường hợp cắt lách
được điều trị bằng dẫn xuất Artemisinin. Sau đây xin tŕnh bày một trường hợp có
tiền căn cắt lách, bị sốt- rét do P. falciparum và mặc dù được điều trị
bằng Artemisinin, nhưng thời gian sạch KST vẫn kéo dài.
Bệnh án
Bệnh nhân (Bn)
nam 43 tuổi làm nghề đốn gỗ tại vùng sốt rét lưu hành, nhập bệnh viện Chợ Rẫy v́
sốt, lạnh run, nhức đầu từ 5 ngày trước. Bn chưa được điều trị sốt rét và không
có tiền căn sốt rét, nhưng có tiền căn cắt lách sau chấn thương bụng do tai nạn
giao thông cách đó 4 tháng.
Lúc vào viện, BN hoàn toàn tỉnh táo, sốt 38o5,
mạch 88 lần/ph, HA 110/60 mmHg. Khám tim mạch, hô hấ- không thấy bất thường. Vết
sẹo mổ cũ giữa bụng, gan 2 cm dưới bờ sườn.
Xét nghiệm lam máu có kư sinh trùng sốt rét P.
falciparum với mật độ 256000 kư sinh trùng/ml máu. Hct 37.5 %, BC 12500/ml (70% neutrophils), TC 70000/ml.
Urea, Creatinin, Bilirubin, SGOT,
SGPT và đường huyết trong giới hạn b́nh thường.
Điều trị:
BN được điều trị bằng Artemisinin 1000mg uống (Xí nghiệp dược trung ương 24)-
kết hợp với liều duy nhất Mefloquine 750mg (Mefa, Aesch-basel, Switzerland).
Không thấy ói sau khi dùng thuốc. Mật độ KSTSR giảm xuống c̣n 71000/ml vào giờ thứ 24 nhưng
sau đó tăng lên 152000/ml
vào giờ 48. Nên được dùng thêm Artesunate 200mg/ngày (Guilin Pharmaceutical
Works, Guilin, Trung Quốc) vào ngày thứ ba. Nhưng 8 giờ sau, kư sinh trùng không
giảm mà lại tăng (biểu đồ 1), BN được điều trị bổ sung thêm Artesunate 120mg
tiêm tĩnh mạch (Guilin Pharmaceutical Works).
Sau 4 ngày
điều trị bằng Artesunate, kư sinh trùng vẫn c̣n trong máu và BN c̣n sốt, tuy
nhiên không ghi nhận biến chứng nào khác trên lâm sàng. Tiếp tục điều trị bằng
Artemisinin và tăng liều lên 1000mg và 1500mg vào 2 ngày tiếp theo. Lượng KSTSR
không đổi, ngay cả khi dùng thêm một liều Artesunate tiêm TM (biểu đồ 1).
Sau 12 ngày
điều trị, BN vẫn sốt, KST- c̣n dương tính, Hct giảm c̣n 24%. Điều trị được
chuyển sang với Quinine (Xí nghiệp dược trung ương 24) tiêm tĩnh mạch với liều
10mg/kg mỗi 8 giờ trong 3 ngày. Sau đó chuyển sang uống Quinine Sulphate (Xí
nghiệp dược trung ương) 4 ngày tiếp theo. KSTSR giảm tương đối trong 3 ngày đầu
điều trị bằng Quinine, sau đó giảm nhanh và âm tính vào cuối ngày thứ 7 của liệu
tŕnh Quinine. BN giảm sốt và hết sốt vào ngày thứ 15, thời gian sạch KSTSR là
432 giờ, thời gian cắt sốt là 336 giờ. BN dung nạp tốt với điều trị, không xuất
hiện thêm các biến chứng của sốt rét, không thấy các triệu chứng độc tính của
thuốc kháng sốt rét và xuất viện sau 19 ngày.-
Bàn luận
Theo tIêu chuẩn của WHO về kháng thuốc sốt rét, với
diễn tiến KST như đă mô tả ở trên, có thể kết luận trường hợp này kháng thuốc độ
3 (RIII:.
mật độ- KST- giảm ít hơn 75% vào giờ 48 so với mật độ ban đầu)5 -
Theo những nghiên cứu trước đây trên 230 trường hợp
tại Bệnh viện Chợ Rẫy,6,7 phác đồ Artemisinin kết hợp với Mefloquine
liều duy nhất đă cho thấy có hiệu quả cắt- KST và cắt sốt nhanh so với các phác
đồ khác với sự khác biệt có ư nghĩa thống kê và chưa thấy trường hợp nào kháng
RII hay RIII. Một báo cáo ở Thái Lan ghi nhận ở những BN cắt lách bị sốt rét
điều trị bằng Quinine thấy thời gian cắt KSTSR kéo dài,3
nhưng thời gian sạch KST của 4 BN này ngắn hơn so với BN vừa được tŕnh bày. Do
đó, việc giải thích thỏa đáng nhất đối vơi-trường hợp cắt KSTSR chậm này là do
thiếu vai tṛ rất quan trọng của lách trong việc thải trừ KSTSR, đặc biệt đối
với dẫn xuất Artemisinin.
Mật độ KSTSR lúc đầu ở BN này (giờ 24) giảm có thể là
do sự kết dính vi mạch của thể tư dưỡng (trophozoites), nhưng sau đó thể tư
dưỡng trưởng thành thành thể phân liệt (schizont) và vỡ-ra tạo nhẫn làm KSTSR
tăng trở lại vào giờ thứ 48. Giả thuyết này có cơ sở bởi mối tương quan ngược
giữa nhiệt độ cơ thể và KST trong vài ngày đầu. V́ thể phân liệt vỡ-liên quan
đến sốt,8 nhiệt độ tăng lên ngay trước khi dạng nhẫn xuất hiện
nhiều (lúc này mật độ KSTSR c̣n thấp) và mật độ KSTSR tăng tới đỉnh khi nhiệt độ
đă hơi giảm xuống. Điều này được minh họa ở biểu đồ. Trên thực nghiệm, dẫn xuất
Artemisinin làm ngừng phát triển KSTSR và ức chế sự kết dính tế bào,9
và thực tế ở BN này gợi ư rằng, trong cơ thể người, lách có vai tṛ quan trọng
để Artemisinin thực hiện những tác dụng nói trên.
Mefloquine sử dụng đơn độc cho thấy ít hiệu quả hơn so
với Mefloquine kết hợp với Artemisinin.6
-Nồng độ đỉnh trong huyết tương của Mefloquine đạt được 17-31 giờ sau khi
dùng thuốc và thuốc tác dụng chủ yếu trên KSTSR trưởng thành,10 nên
Mefloquine có vai tṛ trong việc ngừa tái phát hơn là góp phần vào việc cắt KST
nhanh trong phác đồ kết hợp Artemisinin và Mefloquine.- Tuy nhiên, trên BN này,
sau 10 ngày điều trị Mefloquine KSTSR vẫn c̣n dương tính và tiếp tục giảm tương
đối chậm trong liệu tŕnh với Quinine. Điều này cho thấy lách cũng có vai tṛ
quan trọng trong hiệu quả diệt KSTSR của nhóm khuốc kháng sốt rét dạng
Quinoline. Nhận xét này cũng phù hợp với báo cáo trước đây về Quinine.3
Một giả thuyết khác có thể đặt ra
là thuốc có tác dụng và KSTSR quan sát được sau ngày thứ 4 là những KST đă chết.
Tuy nhiên, BN vẫn c̣n sốt mà không có những nhiễm trùng khác, vẫn tiếp tục giảm
tiểu cầu và dung tích hồng cầu giảm xuống chỉ c̣n 2/3 so với lúc nhập viện, gợi
ư rằng vẫn c̣n hiện tượng vỡ thể phân liệt theo kiểu không đồng bộ. Ngoài ra,
trong báo cáo của Thái Lan trên BN cắt lách dùng Quinine, kết quả nuôi cấy KST
(để xác định được chắc chắn- KST c̣n sống hay đă chết) cho thấy- KST- vẫn c̣n
sống sau qui tŕnh điều trị. Tuy nhiên, thời gian sạch- KST trong báo cáo của
Thái Lan ngắn hơn trường hợp này (10 ngày), gợi ư là liệu Quinine có hiệu quả
hơn Artemisinin trên BN đă cắt lách.
Chất lượng thuốc kém cũng có thể góp phần vào việc
chậm cắt KST do không ngăn được sự phát triển của KST. Tuy nhiên, 6 dạng thuốc
này của 4 hăng đă được sử dụng trong những nghiên cứu trước đây cho thấy có hiệu
quả cao. Sự phân bố thuốc bất thường có thể là yếu tố góp phần làm kém hiệu quả,
như một trường hợp điều trị với Quinine có kháng RIII gây tử vong.11
Tuy nhiên cũng ít nghĩ tới ở BN này v́ BN dù cắt KST chậm nhưng không có các
biến chứng của sốt rét. Không thấy có những biểu hiện độc thần kinh do thuốc như
đă quan sát thấy trên thực nghiệm dù dùng liều cao (Artemisinin 6.25 gm tức
140mg/kg, Artesunate 1.04gm tức 25mg/kg). Điều này cũng phù hợp với những nghiên
cứu lâm sàng trước đây, về tính an toàn của dẫn xuất Artemisinin trên người.
KẾT LUẬN
Trường hợp này đă chứng minh vai
tṛ quan trọng của lách trong việc thải trừ KSTSR khỏi máu. Không có lách, khả
năng ức chế kết dính tế bào của thuốc giảm, và giai đọan trưởng thành diễn tiến
đến thể phân liệt vỡ-hầu như vẫn c̣n có thể xảy ra, làm kéo dài thời gian sạch
KST. Ngoài ra, kết quả c̣n gợi ư rằng Artemisinin có thể phụ thuộc nhiều vào
lách trong việc thải trừ KSTSR hơn những thuốc kháng sốt rét khác, ví dụ như
Quinine. Tuy nhiên, cần phải nghiên cứu trên nhiều trường hợp- sốt rét có cắt
lách khác.
Summary:
Delayed parasite clearance in a splenectomized patient with Falciparum malaria
A case of falciparum malaria, in spite of treatment
with artemisinin derivatives, with delayed parasite clearance is reported. The
male patient has been splenectomized 4 months prior to admission, were
ill-responded to specific antimalarial. Initial changes in parasitemia suggests
that the parasites were still able to cytoadhere and mature to schizogeny
despite treatment. This present case confirms the role of the spleen in
clearance of malaria parasites from the circulation, and also suggests that the
efficacy of the artemisinin drugs relies more on intact splenic function than do
other antimalarial agents.
Tài liệu tham khảo:
1)Looareesuwan S, Ho M, Wattanagoon Y et al. Dynamic
alteration in splenic function during acute falciparum malaria. N Eng J Med
1987; 317: 675 -9.
2) Ho M, White NJ,
Looareesuwan S et al. Splenic Fc receptor function in host defense and anemia in
acute Plasmodium malaria. J Infect Dis 1990; 161: 555-61.
3) Looareesuwan S,
Suntharasawai P, Webster HK, Ho M. Malaria in splenectomized patients: report of
four cases and review. Lin Infect Dis 1993; 16: 361-6.
4)Trần Tịnh Hiền, White
NJ. Qinghaosu. Lancet 1993; 341: 603-608.
5) World Health
Organization. Chemotherapy of malaria and resistance to antimalarials. Report of
a WHO scientific group. WHO Tech Rep Ser 1973; 529: 30-5
6)Trịnh Kim Ảnh, Nguyễn Văn Kim, Trần Quang Bính, Lê
Ngọc Hùng, Lê Thị Diễm Thủy, Vũ Thị Tuyết, Lê Thành Ni. Artemisinin trong điều
trị sốt rét falciparum chưa biến chứng. Tập san đề tài nghiên cứu quốc gia về
sốt rét (KY -01-01) Bệnh viện Chợ Rẫy; 1992-1995; 17-64
7) Đỗ Văn Chính, Phan
Thanh Phúc, Lê Thị Anh Thư, Trần Thị Kim Hồng, Nguyễn Mạnh Hùng, Đoàn Công
Khanh. Hiệu quả lâm sàng của phác đồ kết hợp Artemisinin với Mefloquine (A4M3)
trong điều trị sốt rét do P falciparum không biến chứng. Thời Sự Y Dược
Học 2/1995; 14-16
8) Kwiatkowski D; Nowak
M. Periodic and chaotic host-parasite interactions in human malaria. Proc Natl
Acad Sci USA 1991; 88:5111-3.
9) Udomsangpetch R,
Pipitaporn B, Krishna S et al. Antimalarial drugs reduce cytoadherence and
rosetting Plasmodium falciparum. J Infect Dis 1996; 173: 691-8.
10) Karbwang J, White N. Clinical pharmacokinetics
of mefloquine. Clin Pharmacokinet 1990; 19: 264-79.
11) Looareesuwan S,
Charoenpan P, Ho M et al. Fatal Plasmodium falciparum malaria after an
inadequate response to quinine treatment. J Infect Dis 1990; 161: 577 .