MỞ ĐẦU
Sốt xuất huyết do virút Dengue (SXHD) gây ra hiện đang
là vấn đề y tế quan trọng ở nước ta. Sốt Dengue (DEN) được phát hiện ở miền Bắc
năm 1958; sau đó vụ dịch SXHD lớn đầu tiên đă xảy ra ở 19 tỉnh miền Bắc năm
1969. Ở miền Nam, dịch SXHD đầu tiên được phát hiện năm 1960 với 60 bệnh nhi
(BN) tử vong; rồi đến tháng 8-1963 dịch SXHD lớn đă xảy ra ở Cái Bè, Châu Đốc,
Hồng Ngự, Tân Châu và Cao Lănh với 331 BN phải nhập viện và chết 116 em.
-Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, từ 1963 đến
1988, ở Việt Nam số BN mắc SXHD là 1.111734 và chết là 10415, đây là số BN lớn
nhất so với các nước ở Đông Nam Á và Tây Thái B́nh Dương.14 Ở 19 tỉnh
phía Nam, từ 1985 đến 1996 đă có 490541 BN mắc SXHD và chết 3421 em.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
1) Các
số liệu dịch tễ và côn trùng do Viện Pasteur TP
Hồ Chí Minh cung cấp.
-2)
Các chủng virút mẫu và sinh phẩm chuẩn đă dùng
1. Các chủng virút mẫu:
DEN-1 Hawaii (ATCC. VR. 71), Mochizuki; DEN-2 New Guinea C. (VR. 222); DEN-3 H87
(VR.216); DEN-4 H241 (ATCC. VR.217); Chikungunya (Chik) (IPDA/CS 13) và chủng
viêm năo Nhật Bản (VNNB) Nakayama.
2. Các sinh phẩm chuẩn:
- Các kháng thể đơn gịng (KTĐG): DEN-1 Hawaii 15F3-1-15 và
D2-1F1-3, DEN-2 NGC 3H5-1-21, DEN-3 H87 5D4-11-24 và DEN-4 H241 1H10-6-7 do
Trung Tâm Pḥng Chống Dịch (CDC) Colorado Hoa Kỳ cung cấp.
- IgG người kháng flavivirus gắn huỳnh quang (FITC)
hoặc gắn HRPO do CDC Puerto Rico và Colorado cung cấp hoặc do viện tự sản xuất.
- IgG (H+L) kháng chuột gắn FITC do Sigma Chem. Co. St
Louis, MO Hoa Kỳ sản xuất.
- IgG dê kháng IgM người
(chuỗi - đặc hiệu) do Cappel Lab. Pa Hoa Kỳ sản xuất.
- Các kháng huyết thanh VNNB và Chik do viện sản xuất
từ chuột bạch 18-20gm với các chủng virút mẫu nói trên.
3) Phân lập và định loại virút
Lấy 1ml máu tĩnh mạch trong 4-5 ngày đầu của giai đoạn
bệnh cấp tính, lắc trong lọ có bi thủy tinh để chống đông rồi ly tâm lấy phần
nước nổi trên để phân lập virút. Từ năm 1982 dùng muỗi Toxorhynchites
splendens12
và từ 1987 đến nay dùng tế bào nuôi C6/369. Định loại virút bằng kỹ
thuật miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (DFA) với IgG người kháng Flavivirus gắn
FITC và gián tiếp (IFA) với các KTĐG nói trên.7,8
4) Phản ứng huyết thanh
- Chẩn đoán huyết thanh:
Máu BN do các bệnh viện và Trung Tâm Y Tế Dự Pḥng các
tỉnh thành gửi tới. Lấy máu lần 1 lúc BN nhập viện và lần 2 lấy sau lần 1 từ 3
đến 6 ngày hoặc chậm hơn.
-Điều tra huyết thanh dịch tễ học:
Lấy huyết thanh người b́nh thường tại nhiều địa
phương, máu lấy ở đầu ngón tay vào các ống mao dẫn. Các đối tượng lấy máu được
chọn ngẫu nhiên, chia theo từng lứa tuổi. Kháng thể đặc hiệu được phát hiện bằng
phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu (NNKHC)1 và phản ứng MAC ELISA làm
với các kháng nguyên DEN, Chik và VNNB.
KẾT QUẢ
1)Các số liệu dịch tễ học-----------
-Số BN mắc SXHD và chết tính theo năm:
Ở miền Nam từ 1963 đến 1971, dịch SXHD chỉ xảy ra tại
các thành phố và thị xă đông dân. Từ 1972 đến 1974 dịch SXHD đă phát triển mạnh
hơn, số BN mắc SXHD hàng năm đă tăng lên từ 5 đến 10 lần. Ở Tp.Hồ Chí Minh, số
BN SXHD được ghi nhận hàng năm từ 1975 đến 1981 là lớn nhất trong khu vực, nhưng
từ 1982 vị trí này đă chuyển
-Kháng nguyên thuộc thành phần cấu trúc và không
thuộc thành phần cấu trúc của virút:
175 chủng DEN-1 t́m ra ở miền Nam trong thời gian
1991-1996 có quá tŕnh định loại tương tự trường hợp chủng DEN-1 t́m ra từ một
người Mỹ sau khi du lịch ở Columbia về như- D.J. Gubler đă mô tả.7
175 chủng này rất khó xác định bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp với
kháng thể đơn gịng DEN-1 15F3 v́ chỉ t́m thấy vài tế bào có huỳnh quang rất
yếu. Các chủng DEN-1 này có lẽ có một tỷ lệ khá cao KN thuộc thành phần cấu
trúc, do đó kháng thể đơn gịng DEN-1 15F3 đă không phát hiện được, v́ kháng thể
đơn gịng DEN-1 15F3 chỉ hoạt động hướng vào các thành phần KN không thuộc thành
phần cấu trúc của virút. Sau đó các chủng này được làm kỹ thuật miễn dịch huỳnh
quang gián tiếp với kháng thể đơn gịng DEN-1 1F1 th́ đă thấy rất nhiều tế bào
mang virút có huỳnh quang xuất hiện. Như vậy các chủng DEN-1 gây dịch ở miền Nam đă khác với prototype DEN-1 mà chúng
tôi hiện có (phát hiện dễ dàng bằng KTĐG DEN-1 15F3), do KN của các virút này đă
thiếu hẳn thành phần KN không thuộc thành phần cấu trúc của virút.
- So sánh cấu trúc gien của virút DEN-2/Việt Nam với
các Topotype DEN-2 của nhiều vùng trên thế giới:
Dendrogram được xây dựng trên cơ sở so sánh từng cặp
base trong chuỗi nucléotides của các chủng virút này. Bốn chủng DEN-2/Việt
Nam/1987 đă được so sánh với 30 chủng DEN-2 đại diện cho nhiều khu vực khác nhau
trên thế giới.2,11
Bốn chủng này có génome rất gần giống chủng DEN-2 gây dịch ở Jamaica và ở Guyane
thuộc Pháp. Do đó Rico Hesse R. đă nêu giả thuyết chủng DEN-2 lưu hành tại Trung
Mỹ có thể đă do các công nhân Cuba sang lao động tại Việt Nam mang về.
b-Bệnh SXHD gây ra do bị nhiễm cùng lúc 2 hoặc 3 tưp
virút DEN
Bảy BN được phát hiện mắc SXHD do bị nhiễm cùng lúc 2
hoặc 3 tưp DEN trong khoảng thời gian từ 1992 đến 1996:
1992: Gái 14t, SXH độ 2, tưp virút gây
bệnh: DEN-1(15F3) & DEN-3 & DEN-4
1994: -Trai 6t, SXH độ 1: DEN-1(1F1),
DEN-2
-------- -Gái 9t, SXH độ 2:
DEN-1(1F1+15F3), DEN-3
1995: -Trai 10t: DEN-3, DEN-4
-------- -Gái 5t, SXH độ 2, sơ nhiễm, có xuất-- huyết tiêu
hóa: DEN-1 (1F1), DEN-3
-------- -Gái 9t, SXH độ 3, tái nhiễm: DEN-1 (1F1+
15F3), DEN-2
1996: Trai 7t: DEN-2 và DEN-3
Như vậy trong 4 vụ dịch SXHD, đă phát hiện 7 BN bị
nhiễm đồng thời 2 hoặc 3 tưp DEN, nguyên nhân có thể do các em này đă bị muỗi
mang các tưp virút DEN khác nhau đốt cùng lúc.
4) Các nghiên cứu huyết thanh học
a- Chẩn đoán huyết thanh:
Chẩn đoán huyết thanh bệnh SXHD bằng phản ứng NNKHC (huyết thanh kép) và MAC
ELISA trong thời gian 1985-1994 đă cho thấy tỷ lệ dương tính trung b́nh hàng năm
là 64,9%, trong đó đă có năm (1989) tỷ lệ dương tính này lên tới 86,4%.
b-Điều
tra huyết thanh dịch tễ học:
-Điều tra
cắt ngang:
Nhận thấy tùy theo từng vùng, tỷ lệ sơ nhiễm thay đổi
từ- 6,4 - 39,4%. Ở trẻ em, tỷ lệ này giảm dần theo tuổi: trẻ càng nhỏ tuổi th́
tỷ lệ bị sơ nhiễm càng thấp. Tỷ lệ tái nhiễm DEN tăng theo tuổi đời và hầu hết
người lớn tuổi đều đă có miễn dịch với các virút DEN, điều này giải thích ở-
miền Nam rất hiếm gặp người lớn tuổi mắc SXHD. Tỷ lệ người có nguy cơ mắc SXHD
thay đổi theo địa phương, song cao nhất vẫn là các trẻ nhỏ.
-Điều tra huyết thanh theo chiều dọc:
Năm 1986 đă tổ chức xét nghiệm huyết thanh nhiều cháu
ở các nhà trẻ, mẫu giáo tại Bến Lức, Tân An, Mỹ Tho, Long Xuyên, Rạch Giá và 1
năm sau đó lại tổ chức xét nghiệm huyết thanh lần 2 cho các cháu- này.
Sau 1 năm theo dơi biến động kháng thể trong huyết
thanh của các trẻ nhỏ, từ 1986 đến trước khi xảy ra dịch SXHD 1987, thấy:
-
Trước khi xảy ra dịch SXHD 1987: tỷ lệ % trẻ bị sơ nhiễm tăng từ 10 -
30%.
-
Tỷ lệ % số trẻ cảm thụ từ 80% xuống 40%.
Hai kết quả này nói lên nhiễm DEN đă xảy ra tiềm tàng
trong thời gian trước khi dịch SXHD xuất hiện và có thể được coi là yếu tố nguy
cơ của một quần thể dân cư, một dấu hiệu báo trước để tiên đoán dịch.
-Nhiễm trùng DEN thể ẩn và tưp virút lưu hành:
Trong các điều tra huyết thanh nói trên, chọn ra các
em có huyết thanh âm tính hoặc sơ nhiễm năm trước. Năm sau trong lần điều tra 2,
các em này nếu huyết thanh lần 2 dương tính hoặc kết quả kiểu tái nhiễm th́
trong khoảng thời gian đó, các em được xem như đă bị sơ hoặc tái nhiễm ở thể ẩn
do tưp DEN lưu hành gây ra.
*Nhiễm trùng thể ẩn và tưp DEN lưu hành ở- Long xuyên,
1986: có 27/31 em (87%) vẫn giữ t́nh trạng âm tính như 1985. Có 6/33 em
có biến động kháng thể: 4 trường hợp từ- âm tính trở thành sơ nhiễm và 2 trường
hợp từ sơ nhiễm trở thành tái nhiễm.
* Nhiễm trùng thể ẩn và tưp DEN lưu hành tại Long An,
Mỹ Tho, Long Xuyên và Rạch Giá, 1987: Có 335 trẻ b́nh thường với huyết thanh lần
1 âm tính và 37 em đă bị sơ nhiễm DEN. Cuối 1987, biến động kháng thể của các em
này như sau:
+ Số em (-) vào năm1986 và sau một năm:
Vẫn âm tính có tỷ lệ từ- 42 - 73%.
Bị sơ nhiễm DEN có tỷ lệ từ- 25 - 58%.
Bị tái nhiễm DEN có tỷ lệ từ- 1,3 - 54%.
+ Tưp virút lưu hành đă khác nhau tùy theo vùng như
DEN-1 ở Tân An, DEN-2 ở Bến Lức, Long Xuyên, Rạch Giá và DEN-3 ở Mỹ Tho.
-*Nhiễm trùng thể ẩn và tưp DEN lưu hành tại Cà Mau,
1988: Trong 70 trẻ b́nh thường có huyết thanh âm tính và sơ nhiễm ở Cà
Mau, sau vụ dịch SXHD đă có:
Âm tính trở thành sơ nhiễm: 9/39.
Âm tính trở thành tái nhiễm:14/39.
Sơ nhiễm trở thành tái nhiễm:15/31.
Nói chung trong 70 em này đă có 54,3% có biến động
kháng thể.
KẾT LUẬN
Từ 1985 đến 1996, dịch SXHD đă luân phiên xảy ra ở các
tỉnh thành phía Nam và phát thành dịch lớn từ tháng 6 đến tháng 11 hàng năm,
đỉnh cao của dịch là các tháng 7-8-9 và có liên quan tới mùa mưa, là mùa sinh
sản của Aedes aegypti.
Bệnh nhân mắc SXHD phần lớn là trẻ em, lứa tuổi mắc
nhiều nhất là 5-9 tuổi và giới tính không phải là yếu tố nguy cơ.
Đă phân lập được nhiều chủng virút DEN từ máu BN mắc
SXHD và tưp virút DEN gây dịch đă biến đổi sau một số năm hoạt động.
-Virút DEN-1 gây dịch ở các tỉnh phía Nam được phát
hiện có 3 loại: loại virion chỉ mang kháng nguyên không thuộc thành phần cấu
trúc, loại thứ 2 chỉ mang kháng nguyên thuộc thành phần cấu trúc và loại virion
hoàn chỉnh.
Virút DEN-2 gây dịch ở Việt Nam năm 1987 có cấu trúc
gien được xác định gần giống các chủng DEN-2 gây dịch ở vùng Trung Mỹ.
Điều tra huyết thanh người b́nh thường ở 9 tỉnh phía
Nam cho thấy virút DEN đă hoạt động mạnh ở tất cả các vùng điều tra. Phần lớn
người dân đă bị nhiễm các virút này, tỷ lệ huyết thanh dương tính với DEN thay
đổi tùy theo vùng và nhiễm DEN thể ẩn đă xảy ra trên tất cả các vùng điều tra.
Abstract:
DENGUE HAEMORRAGIC FEVER (DHF)
IN SOUTHERN VIETNAM, 1985-1996
--During 1985-1996, Dengue viruses were prevalent in
Southern Vietnam and 72 - 378 DHF cases / 100000 population were reported
annually. The largest outbreak was in 1987 with 83905 cases and 904 deaths. DHF
epidemics usually took place from June to November every year. The peak
transmission was recorded in July-August and September, coinciding with the
rainy season and the breeding period of Aedes aegypti.
The majority of confirmed cases was children of 5-6
years old, in whom there was no sex difference.
Several dengue virus strains were isolated from
patients' blood. In the 1987 outbreak, DEN-2 was the predominant sero-type. In
the following years, the epidemic strains have changed, as DEN-1 was introduced
in 1990, then there were re-emergences of DEN-2 in 1994 and DEN-3 in 1995-1996.
Serological investigation of healthy persons in 9 southern provinces have
demonstrated that there were large activities of Dengue viruses in these areas.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1)Clarke DH, Casals J:
Techniques for Haemagglutination-Inhibition with arthropod-borne viruses. Am
J Trop Med Hyg 7: 561-573, 1958.
2) Deubel V, Nogueira
R, Drouet MT, Zeller H, Reynes JM, DQ Ha: Direct sequencing of genomic cDNA
fragments amplified by the polymerase chain reaction for molecular epidemiology
of Dengue-2 viruses. Arch Virol 129: 197-210, 1993.
3)Do Quang Ha, Nguyen
Kim Tien, Dinh Tuyet Hoa, Vu Thi Que Huong, Nguyen Thi Hong, Nguyen Trong Lan,
Vo Dinh Tham: Epidemic Dengue Haemorrhagic Fever in South Vietnam, 1987 -
Epidemiological and virological studies. Dengue Newsletter WHO 14:
46-57, 1989.
4)Do Quang Ha, Vu Thi
Que Huong, Huynh Thi Kim Loan, Dinh Quoc Thong and Vincent Deubel: Dengue
Haemorrhagic Fever in the South of Vietnam during 1975-1992 and Its Control
Strategy. Japan Trop Med 36 (4): 187-201, 1994.
5)Do Quang Ha, Vu thi
Que Huong, Huynh thi Kim Loan and Pham Kim Sac: Situation of DHF in South
Vietnam, 1991-1994. Dengue Bulletin WHO -20: 55-61, 1996.
6)Đỗ Quang Hà, Vũ Thị
Quế Hương, Huỳnh Thị Kim Loan và Cao Minh Thắng; Giám sát virút học dịch Dengue
xuất huyết tại các tỉnh phía Nam, 1995-1996. Y học Dự pḥng 3, III (12):
8-10, 1997.
7)Gubler DJ:
Application of serotype specific monoclonal antibodies for identification of
dengue viruses. Arbovirus Cultivation in Arthropod Cells in Culture: Yunker
C, CRC Press, Boca Raton 2: 3-14, 1986.
8)Henchal EA, McCown
JM, Seguin MC, Gentry MK, Brandt WE: Rapid identification of Dengue virus
isolates by using monoclonal antibodies in an indirect immunofluorescence assay.
Am J Trop Med Hyg 32: 164-169, 1983.
9)Igarashi A: Isolation
of a Singh's Aedes albopictus cell clone sensitive to Dengue and Chikungunya
viruses. J Gen Virol 40: 531-544, 1978.
10)Lanciotti RS,
Calisher CH, Gubler DJ, Chang GJ, Vorndam AV: Rapid detection and typing of
dengue viruses from clinical samples by using reverse transcriptase-polymerase
chain reaction. J Clin Microbiol 30: 545-551, 1992.
11)Rico-Hesse R:
Molecular evolution and distribution of Dengue viruses type 1 and 2 in Nature.
Virology
174: 479-493, 1990.
12)Rosen L, Gubler DJ:
The use of mosquitoes to detect and propagate Dengue viruses. Am J Trop Med
Hyg 23: 1153-1160, 1974.
13)Vũ Thị Quế Hương,
Huỳnh Thị Kim Loan, Đỗ Quang Hà: Phát hiện virút dengue bằng phản ứng khuếch đại
chuỗi gien (Reverse-transcription / polymerase chain reaction), Thời sự Y
Dược Học II (1): 2-4, 1996.
14)Umenai T, Suzuki:
Review on Dengue Fever/Dengue Haemorrhagic Fever situation in the Western
Pacific Region in 1988. Dengue Newsletter WHO 15: 21-24. 1990.