WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

 DỊCH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM TỪ 1985 ĐẾN 1996

 

Đỗ Quang Hà, Vũ Thị Quế Hương, Huỳnh Thị Kim Loan, Cao Minh Thắng*

 


MỞ ĐẦU

Sốt xuất huyết do virút Dengue (SXHD) gây ra hiện đang là vấn đề y tế quan trọng ở nước ta. Sốt Dengue (DEN) được phát hiện ở miền Bắc năm 1958; sau đó vụ dịch SXHD lớn đầu tiên đă xảy ra ở 19 tỉnh miền Bắc năm 1969. Ở miền Nam, dịch SXHD đầu tiên được phát hiện năm 1960 với 60 bệnh nhi (BN) tử vong; rồi đến tháng 8-1963 dịch SXHD lớn đă xảy ra ở Cái Bè, Châu Đốc, Hồng Ngự, Tân Châu và Cao Lănh với 331 BN phải nhập viện và chết 116 em.

-Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, từ 1963 đến 1988, ở Việt Nam số BN mắc SXHD là 1.111734 và chết là 10415, đây là số BN lớn nhất so với các nước ở Đông Nam Á và Tây Thái B́nh Dương.14 Ở 19 tỉnh phía Nam, từ 1985 đến 1996 đă có 490541 BN mắc SXHD và chết 3421 em.

 

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

1) Các số liệu dịch tễ và côn trùng do Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh cung cấp.

-2) Các chủng virút mẫu và sinh phẩm chuẩn đă dùng

1. Các chủng virút mẫu: DEN-1 Hawaii (ATCC. VR. 71), Mochizuki; DEN-2 New Guinea C. (VR. 222); DEN-3 H87 (VR.216); DEN-4 H241 (ATCC. VR.217); Chikungunya (Chik) (IPDA/CS 13) và chủng viêm năo Nhật Bản (VNNB) Nakayama.

2. Các sinh phẩm chuẩn:

- Các kháng thể đơn gịng (KTĐG): DEN-1 Hawaii 15F3-1-15 và D2-1F1-3, DEN-2 NGC 3H5-1-21, DEN-3 H87 5D4-11-24 và DEN-4 H241 1H10-6-7 do Trung Tâm Pḥng Chống Dịch (CDC) Colorado Hoa Kỳ cung cấp.

- IgG người kháng flavivirus gắn huỳnh quang (FITC) hoặc gắn HRPO do CDC Puerto Rico và Colorado cung cấp hoặc do viện tự sản xuất.

- IgG (H+L) kháng chuột gắn FITC do Sigma Chem. Co. St Louis, MO Hoa Kỳ sản xuất.

 - IgG dê kháng IgM người (chuỗi - đặc hiệu) do Cappel Lab. Pa Hoa Kỳ sản xuất.

- Các kháng huyết thanh VNNB và Chik do viện sản xuất từ chuột bạch 18-20gm với các chủng virút mẫu nói trên.

3) Phân lập và định loại virút

Lấy 1ml máu tĩnh mạch trong 4-5 ngày đầu của giai đoạn bệnh cấp tính, lắc trong lọ có bi thủy tinh để chống đông rồi ly tâm lấy phần nước nổi trên để phân lập virút. Từ năm 1982 dùng muỗi Toxorhynchites splendens12 và từ 1987 đến nay dùng tế bào nuôi C6/369. Định loại virút bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (DFA) với IgG người kháng Flavivirus gắn FITC và gián tiếp (IFA) với các KTĐG nói trên.7,8

4) Phản ứng huyết thanh

- Chẩn đoán huyết thanh:

Máu BN do các bệnh viện và Trung Tâm Y Tế Dự Pḥng các tỉnh thành gửi tới. Lấy máu lần 1 lúc BN nhập viện và lần 2 lấy sau lần 1 từ 3 đến 6 ngày hoặc chậm hơn.

-Điều tra huyết thanh dịch tễ học:

Lấy huyết thanh người b́nh thường tại nhiều địa phương, máu lấy ở đầu ngón tay vào các ống mao dẫn. Các đối tượng lấy máu được chọn ngẫu nhiên, chia theo từng lứa tuổi. Kháng thể đặc hiệu được phát hiện bằng phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu (NNKHC)1 và phản ứng MAC ELISA làm với các kháng nguyên DEN, Chik và VNNB.

 

KẾT QUẢ

1)Các số liệu dịch tễ học-----------

-Số BN mắc SXHD và chết tính theo năm:

Ở miền Nam từ 1963 đến 1971, dịch SXHD chỉ xảy ra tại các thành phố và thị xă đông dân. Từ 1972 đến 1974 dịch SXHD đă phát triển mạnh hơn, số BN mắc SXHD hàng năm đă tăng lên từ 5 đến 10 lần. Ở Tp.Hồ Chí Minh, số BN SXHD được ghi nhận hàng năm từ 1975 đến 1981 là lớn nhất trong khu vực, nhưng từ 1982 vị trí này đă chuyển


Bảng 1: Số BN mắc SXHD và chết tại các tỉnh phía Nam từ- 1985 đến 1996

 

Năm

Số mắc

Số chết

Tỷ lệ %

chết

Số mắc

Số mắc /105

Số chết

Số chết /105

1985

19 927

---- 94,04

- 209

0,98

1,04

1986

15 647

---- 72,18

- 243

1,12

1,55

1987

83 905

-- 378,37

- 904

4,07

1,07

1988

49 237

- 217,04

- 587

2,58

1,19

1989

18 923

--- 83,09

-178

0,78

0,94

1990

41 517

- 174,87

-298

1,25

0,71

1991

39 917

- 168,36

244

1,03

0,61

1992

42 330

- 174,61

173

0,71

0,40

1993

43 048

- 172,73

177

0,71

0,41

1994

29 131

117,1

84

0,34

0,29

1995

51 897

- 203,66

166

0,65

0,31

1996

55 062

- 207,28

158

0,59

0,28

 

H́nh 1: Mối tương quan của dịch SXHD với nhiệt độ, lượng mưa

và mật độ- Ae.aegypti từ 1983-1990

 


sang 10 địa phương khác như:- Tây Ninh, Sông Bé, Lâm Đồng, Đồng Nai, Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Kiên Giang và Minh Hải4. Dịch SXHD lớn đă xảy ra theo chu kỳ 3-4 năm với quy mô càng về sau càng lớn và đến 1988 th́ tất cả các tỉnh thành phía Nam đều đă có virút DEN lưu hành và gây dịch.

Hằng năm dịch SXHD lớn đă xảy ra từ tháng 6 đến tháng 11, đỉnh cao vào các tháng 7-8-9 và qúy 1 các năm đều ghi nhận có BN SXHD.4

b- Phân bố BN SXHD theo nhóm tuổi:

BN mắc SXHD phần lớn là trẻ em. Lứa tuổi mắc nhiều nhất là nhóm 5-9 tuổi, trong nhóm này trẻ 5-6 tuổi có số mắc tuyệt đối cao nhất.4

c- Phân bố BN SXHD theo giới tính:


Trong các vụ dịch lớn 1979, 1983 và 1987, tỷ suất trung b́nh BN nữ /nam là 1/0,942. C̣n trong các vụ dịch nhỏ xen kẽ từ 1977 đến 1990 (trừ 1988), tỷ suất này là 1/1,017. Tuy nhiên sự khác biệt không có ư nghĩa thống kê (c2= 1,99 với P> 5%). Như vậy ở miền Nam, giới tính không phải là yếu tố nguy cơ trong SXHD.4

2) Vài số liệu về khí hậu và côn trùng

Tại Tp. Hồ Chí Minh, từ 1983-1990, nhiệt độ trung b́nh là 27,350C, sự chênh lệch giữa mùa mưa và mùa khô không quá 3,30C. Độ ẩm tương đối trung b́nh cả năm là 77,88%; với mùa khô là 70,5 - 71,25% và mùa mưa là 82,5 - 85%. Lượng mưa trung b́nh trong mùa khô (tháng 12 và 1-4) là 35,87mm và mùa mưa (tháng 5-11) là 242,94mm.

 

Bảng 2: Các tưp virút DEN từ máu BN trong các vụ dịch SXHD từ 1985 đến 1996

Năm

Các tưp virút DEN đă phân lập được

Số (+) / tổng số

bệnh phẩm

DEN-1

DEN-2

DEN-3

DEN-4

1985

 

1

 

 

1 / 23

1986

 

 

 

 

0 / 50

1987

1

48

2

2

53 / 504

1988

 

4

 

 

4/ 296

1989

 

1

 

 

1 / 65

1990

18

10

 

3

31 / 742

1991

9

5

3

2

19 / 196

1992

17

12

 

 

29 / 302

1993

15

9

 

 

24 / 241

1994

24

19

5

 

48 / 235

1995

96

50 (6*)

16

0

162 / 617

1996

20 (6*)

78 (9*)

41 (16*)

0

139 / 1156

---- (*): Số virút phát hiện bằng RT/PCR.

 


 

 


H́nh 2: Sự lan truyền của các tưp DEN gây dịch tại miền Nam từ 1987 - 1996

-


Điều tra muỗi Aedes aegypti trong thời gian này, thấy mật độ thấp nhất là 1,02 (tháng 12) và cao nhất là 2,43 (tháng 6); chỉ số Breteau thấp nhất là 45,48 trong tháng 11 và cao nhất là 68,41 trong tháng 6.

Như vậy cá- yếu tố khí hậu và côn trùng ở miền Nam đă tạo thuận lợi cho virút DEN phát triển và lưu hành quanh năm.4 (H́nh 1)

3) Kết quả phân lập và định loại virút

Sau đại dịch SXHD năm 1987 do DEN-2 gây ra,3 thành phần các tưp DEN gây dịch đă thay đổi (H́nh 2): DEN-1 xuất hiện từ 1990, sau đó phát triển mạnh và lan rộng ra nhiều tỉnh với đỉnh cao là 1993 (62,5%) rồi giảm dần; từ 1988 DEN-2 đă giảm nhiều song vẫn tiếp tục gây dịch và trở lại lan tràn mạnh trong năm 1996. Sự lan truyền của DEN-3 trong giai đoạn 1987-1994 ở mức độ thấp nhất, song đă tăng cao (29,5%) trong năm 1996. So với các năm trước, trong 1995-1996 đă có biến đổi lớn trong thành phần các tưp DEN gây dịch.6 V́ vậy trong thời gian tới, dịch SXHD có nguy cơ phát triển mạnh do DEN-2 và DEN-3 tái xuất hiện và dần dần chiếm ưu thế; xin lưu ư là từ 1988 đến 1995 DEN-3 rất ít được phát hiện là chủng gây dịch ở trong vùng.

Kết quả phân lập virút trên các nhóm BN cho thấy từ 5-14 tuổi là lứa tuổi có tỷ lệ cao nhất đă t́m ra virút.(Bảng 3)

a-Bàn về thành phần cấu trúc của virút DEN-1 và cấu trúc gien của chủng DEN-2/Việt Nam so với các topotype DEN-2 ở các vùng khác nhau trên thế giới:


Bảng 3: Virút DEN đă phân lập được từ BN DXH tính theo lứa tuổi từ 1991 đến 1996

 

Lứa tuổi

1991

1992

1993

1994

1995

1996

<1t

 

 

 

 

1,23%

1,43%

1-4t

29,16%

7,4%

16%

1041%

12,96%

10,07%

5-9t

33,33%

44,44%

24%

60,41%

37,65%

35,97%

10-14t

37,5%

44,44%

56%

29,16%

41,79%

47,48%

15-19t

0

0

0

0

4,93%

5,03%

-20t

0

3,7%

4%

0

0

0

không rơ

 

 

 

 

1,23%

0

 

Bảng 4: Đặc tính của cấu trúc KN các virút DEN-1/Việt Nam

------------ đă t́m ra trong giai đoạn 1991-1996

 

Năm

Số chủng DEN-1

đă t́m ra

Kháng thể dơn gịng DEN-1

1F1

15F3

1F1 + 15F3

1991

9

4

5

0

1992

17

13

3

1

1993

15

11

0

4

1994

24

14

1

9

1995

96

59

1

36

1996

14

3

0

11

-Kháng nguyên thuộc thành phần cấu trúc và không thuộc thành phần cấu trúc của virút:

175 chủng DEN-1 t́m ra ở miền Nam trong thời gian 1991-1996 có quá tŕnh định loại tương tự trường hợp chủng DEN-1 t́m ra từ một người Mỹ sau khi du lịch ở Columbia về như- D.J. Gubler đă mô tả.7 175 chủng này rất khó xác định bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp với kháng thể đơn gịng DEN-1 15F3 v́ chỉ t́m thấy vài tế bào có huỳnh quang rất yếu. Các chủng DEN-1 này có lẽ có một tỷ lệ khá cao KN thuộc thành phần cấu trúc, do đó kháng thể đơn gịng DEN-1 15F3 đă không phát hiện được, v́ kháng thể đơn gịng DEN-1 15F3 chỉ hoạt động hướng vào các thành phần KN không thuộc thành phần cấu trúc của virút. Sau đó các chủng này được làm kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp với kháng thể đơn gịng DEN-1 1F1 th́ đă thấy rất nhiều tế bào mang virút có huỳnh quang xuất hiện. Như vậy các chủng DEN-1 gây dịch ở miền Nam đă khác với prototype DEN-1 mà chúng tôi hiện có (phát hiện dễ dàng bằng KTĐG DEN-1 15F3), do KN của các virút này đă thiếu hẳn thành phần KN không thuộc thành phần cấu trúc của virút.

- So sánh cấu trúc gien của virút DEN-2/Việt Nam với các Topotype DEN-2 của nhiều vùng trên thế giới:

Dendrogram được xây dựng trên cơ sở so sánh từng cặp base trong chuỗi nucléotides của các chủng virút này. Bốn chủng DEN-2/Việt Nam/1987 đă được so sánh với 30 chủng DEN-2 đại diện cho nhiều khu vực khác nhau trên thế giới.2,11 Bốn chủng này có génome rất gần giống chủng DEN-2 gây dịch ở Jamaica và ở Guyane thuộc Pháp. Do đó Rico Hesse R. đă nêu giả thuyết chủng DEN-2 lưu hành tại Trung Mỹ có thể đă do các công nhân Cuba sang lao động tại Việt Nam mang về.

b-Bệnh SXHD gây ra do bị nhiễm cùng lúc 2 hoặc 3 tưp virút DEN

Bảy BN được phát hiện mắc SXHD do bị nhiễm cùng lúc 2 hoặc 3 tưp DEN trong khoảng thời gian từ 1992 đến 1996:

1992: Gái 14t, SXH độ 2, tưp virút gây bệnh: DEN-1(15F3) & DEN-3 & DEN-4

1994: -Trai 6t, SXH độ 1: DEN-1(1F1), DEN-2

-------- -Gái 9t, SXH độ 2: DEN-1(1F1+15F3), DEN-3

1995: -Trai 10t: DEN-3, DEN-4

-------- -Gái 5t, SXH độ 2, sơ nhiễm, có xuất-- huyết tiêu hóa: DEN-1 (1F1), DEN-3

-------- -Gái 9t, SXH độ 3, tái nhiễm: DEN-1 (1F1+ 15F3), DEN-2

1996: Trai 7t: DEN-2 và DEN-3

Như vậy trong 4 vụ dịch SXHD, đă phát hiện 7 BN bị nhiễm đồng thời 2 hoặc 3 tưp DEN, nguyên nhân có thể do các em này đă bị muỗi mang các tưp virút DEN khác nhau đốt cùng lúc.

4) Các nghiên cứu huyết thanh học

a- Chẩn đoán huyết thanh:

Chẩn đoán huyết thanh bệnh SXHD bằng phản ứng NNKHC (huyết thanh kép) và MAC ELISA trong thời gian 1985-1994 đă cho thấy tỷ lệ dương tính trung b́nh hàng năm là 64,9%, trong đó đă có năm (1989) tỷ lệ dương tính này lên tới 86,4%.

b-Điều tra huyết thanh dịch tễ học:

-Điều tra cắt ngang:

Nhận thấy tùy theo từng vùng, tỷ lệ sơ nhiễm thay đổi từ- 6,4 - 39,4%. Ở trẻ em, tỷ lệ này giảm dần theo tuổi: trẻ càng nhỏ tuổi th́ tỷ lệ bị sơ nhiễm càng thấp. Tỷ lệ tái nhiễm DEN tăng theo tuổi đời và hầu hết người lớn tuổi đều đă có miễn dịch với các virút DEN, điều này giải thích ở- miền Nam rất hiếm gặp người lớn tuổi mắc SXHD. Tỷ lệ người có nguy cơ mắc SXHD thay đổi theo địa phương, song cao nhất vẫn là các trẻ nhỏ.

-Điều tra huyết thanh theo chiều dọc:

Năm 1986 đă tổ chức xét nghiệm huyết thanh nhiều cháu ở các nhà trẻ, mẫu giáo tại Bến Lức, Tân An, Mỹ Tho, Long Xuyên, Rạch Giá và 1 năm sau đó lại tổ chức xét nghiệm huyết thanh lần 2 cho các cháu- này.

Sau 1 năm theo dơi biến động kháng thể trong huyết thanh của các trẻ nhỏ, từ 1986 đến trước khi xảy ra dịch SXHD 1987, thấy:

-         Trước khi xảy ra dịch SXHD 1987: tỷ lệ % trẻ bị sơ nhiễm tăng từ 10 - 30%.

-         Tỷ lệ % số trẻ cảm thụ từ 80% xuống 40%.

Hai kết quả này nói lên nhiễm DEN đă xảy ra tiềm tàng trong thời gian trước khi dịch SXHD xuất hiện và có thể được coi là yếu tố nguy cơ của một quần thể dân cư, một dấu hiệu báo trước để tiên đoán dịch.

-Nhiễm trùng DEN thể ẩn và tưp virút lưu hành:

Trong các điều tra huyết thanh nói trên, chọn ra các em có huyết thanh âm tính hoặc sơ nhiễm năm trước. Năm sau trong lần điều tra 2, các em này nếu huyết thanh lần 2 dương tính hoặc kết quả kiểu tái nhiễm th́ trong khoảng thời gian đó, các em được xem như đă bị sơ hoặc tái nhiễm ở thể ẩn do tưp DEN lưu hành gây ra.

*Nhiễm trùng thể ẩn và tưp DEN lưu hành ở- Long xuyên, 1986: có 27/31 em (87%) vẫn giữ t́nh trạng âm tính như 1985. Có 6/33 em có biến động kháng thể: 4 trường hợp từ- âm tính trở thành sơ nhiễm và 2 trường hợp từ sơ nhiễm trở thành tái nhiễm.

* Nhiễm trùng thể ẩn và tưp DEN lưu hành tại Long An, Mỹ Tho, Long Xuyên và Rạch Giá, 1987: Có 335 trẻ b́nh thường với huyết thanh lần 1 âm tính và 37 em đă bị sơ nhiễm DEN. Cuối 1987, biến động kháng thể của các em này như sau:

+ Số em (-) vào năm1986 và sau một năm:

Vẫn âm tính có tỷ lệ từ- 42 - 73%.

Bị sơ nhiễm DEN có tỷ lệ từ- 25 - 58%.

Bị tái nhiễm DEN có tỷ lệ từ- 1,3 - 54%.

+ Tưp virút lưu hành đă khác nhau tùy theo vùng như DEN-1 ở Tân An, DEN-2 ở Bến Lức, Long Xuyên, Rạch Giá và DEN-3 ở Mỹ Tho.

-*Nhiễm trùng thể ẩn và tưp DEN lưu hành tại Cà Mau, 1988: Trong 70 trẻ b́nh thường có huyết thanh âm tính và sơ nhiễm ở Cà Mau, sau vụ dịch SXHD đă có:

Âm tính trở thành sơ nhiễm: 9/39.

Âm tính trở thành tái nhiễm:14/39.

Sơ nhiễm trở thành tái nhiễm:15/31.

Nói chung trong 70 em này đă có 54,3% có biến động kháng thể.

 

KẾT LUẬN

Từ 1985 đến 1996, dịch SXHD đă luân phiên xảy ra ở các tỉnh thành phía Nam và phát thành dịch lớn từ tháng 6 đến tháng 11 hàng năm, đỉnh cao của dịch là các tháng 7-8-9 và có liên quan tới mùa mưa, là mùa sinh sản của Aedes aegypti.

Bệnh nhân mắc SXHD phần lớn là trẻ em, lứa tuổi mắc nhiều nhất là 5-9 tuổi và giới tính không phải là yếu tố nguy cơ.

Đă phân lập được nhiều chủng virút DEN từ máu BN mắc SXHD và tưp virút DEN gây dịch đă biến đổi sau một số năm hoạt động.

-Virút DEN-1 gây dịch ở các tỉnh phía Nam được phát hiện có 3 loại: loại virion chỉ mang kháng nguyên không thuộc thành phần cấu trúc, loại thứ 2 chỉ mang kháng nguyên thuộc thành phần cấu trúc và loại virion hoàn chỉnh.

Virút DEN-2 gây dịch ở Việt Nam năm 1987 có cấu trúc gien được xác định gần giống các chủng DEN-2 gây dịch ở vùng Trung Mỹ.

Điều tra huyết thanh người b́nh thường ở 9 tỉnh phía Nam cho thấy virút DEN đă hoạt động mạnh ở tất cả các vùng điều tra. Phần lớn người dân đă bị nhiễm các virút này, tỷ lệ huyết thanh dương tính với DEN thay đổi tùy theo vùng và nhiễm DEN thể ẩn đă xảy ra trên tất cả các vùng điều tra.

 

 

Abstract:

DENGUE HAEMORRAGIC FEVER (DHF) IN SOUTHERN VIETNAM, 1985-1996

 

--During 1985-1996, Dengue viruses were prevalent in Southern Vietnam and 72 - 378 DHF cases / 100000 population were reported annually. The largest outbreak was in 1987 with 83905 cases and 904 deaths. DHF epidemics usually took place from June to November every year. The peak transmission was recorded in July-August and September, coinciding with the rainy season and the breeding period of Aedes aegypti.

The majority of confirmed cases was children of 5-6 years old, in whom there was no sex difference.

Several dengue virus strains were isolated from patients' blood. In the 1987 outbreak, DEN-2 was the predominant sero-type. In the following years, the epidemic strains have changed, as DEN-1 was introduced in 1990, then there were re-emergences of DEN-2 in 1994 and DEN-3 in 1995-1996. Serological investigation of healthy persons in 9 southern provinces have demonstrated that there were large activities of Dengue viruses in these areas.


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1)Clarke DH, Casals J: Techniques for Haemagglutination-Inhibition with arthropod-borne viruses. Am J Trop Med Hyg 7: 561-573, 1958.

2) Deubel V, Nogueira R, Drouet MT, Zeller H, Reynes JM, DQ Ha: Direct sequencing of genomic cDNA fragments amplified by the polymerase chain reaction for molecular epidemiology of Dengue-2 viruses. Arch Virol 129: 197-210, 1993.

3)Do Quang Ha, Nguyen Kim Tien, Dinh Tuyet Hoa, Vu Thi Que Huong, Nguyen Thi Hong, Nguyen Trong Lan, Vo Dinh Tham: Epidemic Dengue Haemorrhagic Fever in South Vietnam, 1987 - Epidemiological and virological studies. Dengue Newsletter WHO 14: 46-57, 1989.

4)Do Quang Ha, Vu Thi Que Huong, Huynh Thi Kim Loan, Dinh Quoc Thong and Vincent Deubel: Dengue Haemorrhagic Fever in the South of Vietnam during 1975-1992 and Its Control Strategy. Japan Trop Med 36 (4): 187-201, 1994.

5)Do Quang Ha, Vu thi Que Huong, Huynh thi Kim Loan and Pham Kim Sac: Situation of DHF in South Vietnam, 1991-1994. Dengue Bulletin WHO -20: 55-61, 1996.

6)Đỗ Quang Hà, Vũ Thị Quế Hương, Huỳnh Thị Kim Loan và Cao Minh Thắng; Giám sát virút học dịch Dengue xuất huyết tại các tỉnh phía Nam, 1995-1996. Y học Dự pḥng 3, III (12): 8-10, 1997.

7)Gubler DJ: Application of serotype specific monoclonal antibodies for identification of dengue viruses. Arbovirus Cultivation in Arthropod Cells in Culture: Yunker C, CRC Press, Boca Raton 2: 3-14, 1986.

8)Henchal EA, McCown JM, Seguin MC, Gentry MK, Brandt WE: Rapid identification of Dengue virus isolates by using monoclonal antibodies in an indirect immunofluorescence assay. Am J Trop Med Hyg 32: 164-169, 1983.

9)Igarashi A: Isolation of a Singh's Aedes albopictus cell clone sensitive to Dengue and Chikungunya viruses. J Gen Virol 40: 531-544, 1978.

10)Lanciotti RS, Calisher CH, Gubler DJ, Chang GJ, Vorndam AV: Rapid detection and typing of dengue viruses from clinical samples by using reverse transcriptase-polymerase chain reaction. J Clin Microbiol 30: 545-551, 1992.

11)Rico-Hesse R: Molecular evolution and distribution of Dengue viruses type 1 and 2 in Nature. Virology 174: 479-493, 1990.

12)Rosen L, Gubler DJ: The use of mosquitoes to detect and propagate Dengue viruses. Am J Trop Med Hyg 23: 1153-1160, 1974.

13)Vũ Thị Quế Hương, Huỳnh Thị Kim Loan, Đỗ Quang Hà: Phát hiện virút dengue bằng phản ứng khuếch đại chuỗi gien (Reverse-transcription / polymerase chain reaction), Thời sự Y Dược Học II (1): 2-4, 1996.

14)Umenai T, Suzuki: Review on Dengue Fever/Dengue Haemorrhagic Fever situation in the Western Pacific Region in 1988. Dengue Newsletter WHO 15: 21-24. 1990.

 


*Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh
[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net