I- MỞ ĐẦU
T́nh trạng thiếu O2 trong máu
là nguyên nhân chính yếu của các tai biến trong và sau khi phẫu thuật. Trong khi
các biểu hiên lâm sàng thường muộn,việc chẩn đoán sớm rất khó khăn trong lúc mổ
cũng như tại hồi sức ngay cả khi có sự chú ư theo dơi. Đối với các BN bị tim bẩm
sinh, t́nh trạng thiếu O2 xảy ra trong lúc gây mê hoặc trong giai
đoạn hậu phẫu càng làm tăng thêm các hậu quả nghiêm trọng có thể đe doạ đến tính
mạng người bệnh. Do đó, các phương tiện monitoring theo dơi độ bảo ḥa O2
máu ĐM rất quan trọng giúp người thầy thuốc phát hiện sớm t́nh trạng thiếu O2
trong máu và nhờ đó cho phép việc điều trị kịp thời và hữu hiệu.
Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát
mối tương quan giữa SaO2 (đo khí trong máu) và SpO2 (đo độ
bảo hoà oxy qua mạch nảy) và lợi ích của việc theo dơi liên tục SpO2
tại pḥng mổvà hồi sức trên các bệnh nhi tim bẩm sinh.
II- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.BN: Bệnh nhi dưới 15 tuổi,có bệnh
tim bẩm sinh (TBS) tím hoặc không tím, cần được sửa chữacác dị dạng trong tim.
2.Độ bảo ḥa O2 qua mạch nảy
và khí máu:Ghi nhận độ bảo ḥa O2 qua mạch nảy với máy pulse
oximeter kontron 7840, bộ phận nhận tín hiệu (capteur) được gắn vào ngón trỏ BN.
Ghi nhận SpO2 vào các thời điểm tiền phẫu,dẫn mê, trong và sau cuộc
mổ. Tất cả BN được đặt Catheter vào động mạch (quay,đùi) để đo huyết áp động
mạch liên tục và lấy mẫu máu đo khí / máu với máy Ciba Corning 238 Blood Gas
Analyser tại các thời điểm: (1) Dẫn đầu gây mê; (2) Trước khi chạy tuần hoàn
ngoài cơ thể; (3) Cuối cuộc mỗ; (4) Tại hồi sức: 4 giờ 1 lần. Thu thập các số
liệu từ mẫu đo khí máu SaO2 và độ bảo hoà Oxy qua mạch nảy SpO2
3.Phương pháp thống kê: khảo soát
mối tương quan (R) giữa SaO2 và SpO2 bằng phép hồi qui
tuyến tính (line regression) có ư nghĩa với P < 0,05. So sánh sự thay đổi SpO2
qua các giai đoạn với Student test (T test). Có ư nghĩa thống kêvới- P < 0 05.
III- KẾT QUẢ
46 bệnh nhi (BN) gồm 23 BN tim bẩm sinh
tím và 23 BN tim bẩm sinh không tím
1.Đặc điểm của BN:
|
Số
|
Trung b́nh
|
|
Tuổi (năm)
|
5,5 - 3,3 (1 - 13 tuổi)
|
|
Trọng lượng (kg)
|
14,204 - 5,462 (6 - 25)
|
|
Nam / Nữ
|
24 / 22
|
|
NYHA- I / II
|
14 / 32
|
|
ASA- I / II
|
14 / 32
|
Đặc điểm bệnh lư tim mạch:
|
Nhóm A
n = 23 BN
Nhóm tim bẩm sinh không tím
|
A I
|
với THNCT
|
Thông liên
nhĩ: 2;
Thông liên
thất: 9
Thông liên
thất + hở van ĐMC: 1
hẹp van ĐMC: 1
|
|
A II
|
không THNCT
|
C̣n ống ĐM: 10
|
|
Nhóm B
n = 23 BN
Tim bẩm sinh tím
|
B I
|
với THNCT
|
T4F: 13
|
|
B II
|
không THNCT
(Blalock- Taussig)
|
T4F: 4
Thất phải 2
đường ra (VDDI): 3
Thiểu sản ĐMP
với thông liên thất: 3
|
Ghi chú: ĐMC = Động mạch chủ; ĐMP = Động mạch phổi; T4F = Tứ
chứng fallot; THNCT = Tuần hoàn ngoài cơ thể

2.Mối tương quan giữa SaO2 và SpO2:
V- THẢO LUẬN
1- Sự Tương quan giữa SaO2 và SpO2
Kết quả nghiên cứu này cũng như 1 số công
tŕnh nghiên cứu khác đă thực hiên cho thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa SaO2
và SpO2 đối với các trị số SpO2
> 85% (p <0.001). Ngược lại, hầu như không có sự liên quan có ư nghĩa giữa SaO2
và SpO2 đối với các trị số SpO2
- 85% mặc dù cặp mẫu
SaO2
và SpO2 -
85% trong nghiên cứu này c̣n tương đối ít (n=42). Do vậy, các trị số SpO2
> 85% phản ánh chính xác độ bảo hoà Oxy trong máu động mạch, và việc lấy mẫu máu
ĐM th́ cần thiết khi SpO2
- 85%
2-Tác dụng tiền mê
Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy
sự thay đổi của SpO2 dưới tác dụng tiền mê không có ư nghĩa thống kê.
Theo nghiên cứu của Debock và cộng sự về
sự thay đổi của SpO2 dưới tác dụng của tiền mê trên 33 BN gồm 17 BN
TBS tím và 16 BN TBS không tím. Họ nhận thấy rằng SpO2
giảm có ư nghĩa thống kê trên nhóm TBS không tím, nhưng ngược lại SpO2
tăng hơn (không có ư nghĩa thống kê ) trên nhóm BN TBS tím dưới tác dụng của
tiền mê.
Trong nghiên cứu này, đă sử dụng Midazolam
(0.5mg/kg) uống trước mổ 30-45 phút. Trong khi đó Debock tiền mê BN bằng Morphin
phối hợp với Secobarbital hoặc scopolamine. Sự kết hợp này có tác dụng an thần
mạnh hơn Midazolam nhiều và điều này giải thích được sự khác biệt trong nhóm TBS
không tím.
Ngược lại Debock ghi nhận SpO2
tăng nhẹ trên nhóm TBS tím. Tác dụng an thần của Benzo-diazepin và Morphin này
thường được sử dụng trên lâm sàng trong điều trị làm giảm shunt phải -> trái
(P->T) trong cơn tím tái ở- BN TBS tím.
Tác dụng an thần và giảm lo âu của các
thuốc tiền mê khiến cho trẻ thường nằm yên, không giăy dụa hoặc quá lo lắng khi
phải cách ly với cha mẹ chúng giúp cho việc dẫn mê thuận tiện và nhẹ nhàng. Dẫu
vậy, phải kể đến các tác dụng không biết trước- của các thuốc tiền mê trên hệ
tuần hoàn, hô hấp, trên sức cản mao mạch ngoại biên, sự tiêu thụ Oxy, sự điều
hoà thông khí và nhận biết nguy cơ của sự giảm SpO2. Nên việc theo
dơi SpO2
trên các BN TBS trong lúc tiền mê là cần thiết.
3 Tác dụng dẫn đầu gây mê:
Đối với BN- tim bẩm sinh tím, các tác dụng
hư hại của t́nh trạng thiếu O2, ứ đọng CO2, toan huyết và
hạ thân nhiệt dẫn đến sự gia tăng sức cản mạch máu phổi, sẽ đưa đến hậu quả tăng
áp lực thất phải và tăng shunt P- T, làm nặng nề hơn nữa t́nh trạng thiếu O2-
máu sẵn có của BN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, sự gia
tăng có ư nghĩa thống kê của SpO2 dưới tác dụng của O2 qua
mask lúc dẫn đầu gây mê cho thấy rơ ràng khả năng có thể gia tăng O2
ở các BN này. Sự gia tăng SpO2 này hiển nhiên là do tác dụng dăn phần
phểu của ĐM phổi và giảm sức cản mạch máu phổi dưới tác dụng an thần và O2.
Điều này cho chúng ta thấy sự quan trọng và cần thiết của việc theo dơi O2
máu động mạch trên các BN TBS mà đặc biệt là khi dẫn đầu gây mê trên các BN TBS
tím để tránh việc làm nặng nề hơn t́nh trạng thiếu O2
do các thao tác, thủ thuật của người gây mê trong giai đoạn này (đặt nội khí
quản...).
4- Giai đoạn sau mổ
Như đă biết- SaO2 = 90% (PaO2
@ 58 mmHg) có nghĩa là thiếu
O2, các dấu hiệu thiếu O2 sẽ bắt đầu từ trị số này. Khi
SaO2
< 85% (PaO2 < 50 mmHg) là thiếu O2 nghiêm trọng. T́nh
trạng thiếu O2 là biểu hiện- của các rối loạn lên sự thông khí,
khuếch tán hoặc/và tưới máu.
Một số bệnh lư mắc phải có thể dẫn đến
t́nh trạng shunt trong phổi như xẹp phổi, tràn khí màng phổi, máu tụ (hematome)
trong phổi, tổn thương thần kinh hoành do làm lạnh tim trong phẫu thuật tim,
thông khí trên một phổi duy nhất...
Các tai biến thiếu O2 thường
xảyra trong khoảng ngày thứ 1 đến thứ 3 sau mổnhư t́nh trạng thức tỉnh, run, đau
sau mổsẽ dẫn đến sự tăng tiêu thụ O2.Các biến chứng của phẫu thuật và
hô hấp cũng thường xảyra ở giai đoạn này.
Đo áp suất riêng phần của O2
trong máu động mạch (PaO2) và độ bảo hoà Oxy (SaO2) rất có
ích v́ nó phản ánh trực tiếp khả năng của phổi, sự vận chuyển Oxy để có thể sẵn
sàng cung cấp Oxy cho mô qua trung gian của hệ tuần hoàn.
PaO2 là một tiêu chuẩn cần
thiết để theo dơi các BN dưới Oxy liệu pháp và thở- máy. Tuy nhiên kỹ thuật lấy
mẫu máu để đo khí máu có một số giới hạn như giá thành đắt, đối với những trẻ
nhỏ số lương máu mất không phải là không đáng kể, nó chỉ cho ta những thông tin
ngắt quảng vào những thời điểm nhất định và cần phải nhiều phút mới có kết quả.
Trong khi đó các rối loạn của sự trao đổi khí diễn ra rất nhanh, nhất là ở các
BN thở máy, sự chờ đợi có thể dẫn đến chậm trễ trong điều trị.
Kết quả những trường hợp xảy ra sau mổ như
đă nêu trên cho thấy rằng việc theo dơi SpO2 cho phép phát hiện sớm
t́nh trạng thiếu Oxy, gợi ư cho người bác sĩ- lâm sàng yêu cầu làm các xét
nghiệm khác (X-quang, Echo...) để khẳng định chẩn đoán và có thái độ xử trí
nhanh, sớm trước khi có các có các tai biến huyết động như ngừng tim có thể
xảyra do thiếu Oxy.
Hơn nữa, các phẫu thuật trên tim bẩm sinh,
theo David và Paul (Kaplan) c̣n nhận thấy lợi ích của việc theo dơi SpO2:
cho phép chúng ta đánh giá được kết quả sữa chữa các tổn thương tim (shunt trong
tim). Như kết quả sự thay đổi SpO2 qua các giai đoạn phẫu thuật trong
nghiên cứu của chúng tôi nêu trên là 1 minh hoạ cụ thể, nhất là trên các BN TBS
tím.
Sự gia tăng SpO2 sau mổlà 96.63
- 10.96 so với trước mổlà
80.72
- 10.89, cho thấy sau phẫu
thuật dù là tạm thời hay triệt để đă cải thiện rất tốt t́nh trạng thiếu Oxy nặng
nề trước mổcủa BN.
Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy phương pháp
đo SpO2
này c̣n có 1 số giới hạn, nhất là vào giai đoạn thức tĩnh hậu phẫu, BN run, giăy
dụa... hoặc sau mổtim hở với tuần hoàn ngoài cơ thể, những BN hạ thân nhiệt, co
mạch ngoại biên hoặc huyết áp c̣n thấp. Tất cả các yếu tố trên đều có thể dẫn
đến việc cung cấp các trị số SpO2 không chính xác của máy.
V- KẾT LUẬN
Máy đo độ băo ḥa O2 là một
phương pháp monitoring căn bản, đơn giản, không xâm lấn, liên tục để phát hiện
sớm t́nh trạng thiếu Oxy, giúp cho việc xử trí nhanh chóng, kịp thời và hữu
hiệu.
Ngoài ra, máy đo độ băo ḥa O2
trong máu động mạch c̣n xác định được hiệu quả của việc sửa chữa ngoại khoa
trong các bệnh TBS (nhất là các shunt trong tim). Nó c̣n cung cấp các thông tin
về tần số tim và h́nh ảnh của các biểu đồ mạch nảy.
Do đó, máy đo độ bảo hoà O2 đă
trở thành 1 trong các phương tiện Monitoring căn bản và cần thiết để theo dơi
chức năng hô hấp của BN trong gây mê và hồi sức và đă được sử dụng rộng răi và
phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.DONALD C.TYLER,MD, MIKE WOODHAM, MB, FFARCS, JANET
STOCKS, Ph.D Oxygen saturation in children in post operative perious. Anesthesie
analgesie 1995; 80:14-9
2.LINDA B HERTZBERG Management of ventilation. Cardiac
Anesthesia,Second Edition, volume 2, Edited by Kaplan
3.R.DURANTEAU, R.GUESDE Monitorage de la SaO2
MAPAR, Paris 1991.
4.H.J.SCHMITT, W.G.SCHIITZ Accuracy of pulse oxymetry in
children with cyanotic conge-nital heart desease. Milano-Italy. EACTA 91.
5.T.L.DEBOCK et al. Efect of premedication on Oxygen
saturation in children with cyanotic congenital heart disease. Journal of
Cardio-thoracic Anesthesia, Volume 4,no4 August 1990.Page 425-429.
6.STOWW P.T, BURROW FA. Arterial oxygen saturation
following premedication in children with cyanotic congenital heart disease. Can
Anesthesia soc J.1988 35: 63-66.
7.M.FLEYGEL,- J.F.FERRCIRA Oxymetrie de pouls incidents
chez le nouveau né. Cahier d,anesthesiologie. Tome 38, no4,1990
p.257-259.
8.J.M.DESMONTS J.P.DEPOIX Chirugie Cardiaque, K. Samii,
Flammarion Paris 1990.
9.R.S.LAISHLEY AND C.APS Tension pneumothorax and pulse
Oxymetry British Journal Anesthesia 1991, 66: 250-252.