MỘT SỐ ÐẶC ÐIỂM DỊCH TỄ HỌC VÀ LÂM SÀNG CỦA
VIÊM GAN SIÊU VI A CẤP ÐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM BỆNH NHIỆT ÐỚI TP HCM
Nguyễn Hữu Chí*, Võ Minh Quang*, Ngô Thị Kim Cúc*, Lê
Mạnh Hùng*,
Nguyễn Văn Hợi*, Bùi Kim Mai*, Ðinh Khắc Hiếu*, A.L.
Corwin**.
MỞ ÐẦU
Viêm gan siêu vi A là bệnh nhiễm trùng vàng da đã được biết từ lâu, lây lan chủ
yếu qua đường tiêu hóa, thường gặp ở khắp nơi trên thế giới.(2) Bệnh
đã từng gây nhiều trận dịch lớn, ảnh hưởng đến hàng trăm hàng người, làm tổn
thất không nhỏ cho xã hội. Nhiều công trình được thực hiện ở nhiều nước đã xác
định được những đặc điểm cơ bản về dịch tễ học và lâm sàng của viêm gan A, tuy
nhiên tại Việt Nam số liệu về các loại viêm gan siêu vi A còn chưa nhiều. Vì vậy
để đóng góp vào dữ liệu về viêm gan siêu vi A, công trình này thực hiện nhằm:
- Xác định vai trò của viêm gan siêu vi A cấp trong một tổng thể của nhiều loại
siêu vi gây viêm gan cấp.
- Thu thập những dữ kiện dịch tễ và lâm sàng cần thiết góp phần tìm ra một vài
đặc điểm của viêm gan siêu vi A cấp tại Việt Nam.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Phương pháp nghiên cứu mô tả với mẫu bệnh án có sẵn, chọn bệnh nhân (BN) vào
nhóm nghiên cứu và nhóm chứng, tiến hành các xét nghiệm cần thiết, theo dõi các
dấu hiệu lâm sàng, ghi nhận diễn tiến và phân tích các dữ kiện có liên quan.
1) Tiêu chuẩn chọn bệnh
Chọn BN nhập viện từ tháng 7/1994 đến tháng 8/1997 chia làm 2 nhóm:
Nhóm nghiên cứu có các tiêu chuẩn sau:
- Vàng da-mắt < 1 tháng
- Tuổi từ 1 đến 60 (nhóm 1:
- 12 t; nhóm 2:
- 13 t)
- Không phân biệt phái tính.
- Không mang thai,
không có các bệnh về máu, không có các bệnh ung thư, không mắc các bệnh
nhiễm trùng cấp và mạn tính, không có biểu hiện tắc mật ngoài gan.
- Có nồng độ alanine
aminotransferase (ALT) tăng > 2,5 lần trị số bình thường được làm với phương
pháp chuẩn.
Nhóm chứng:
Chọn các BN nhập viện vì bệnh khác không phải gan trong cùng thời gian, có số
tuổi tương ứng (nhóm 3:
- 12 t; nhóm 4:
- 13 t), không có ALT tăng.
Tất cả BN của hai nhóm trên đều được hỏi bệnh sử, ghi nhận các dữ kiện lâm sàng
và dịch tễ học. Sau đó lấy 10 ml máu, áp dụng phương pháp ELISA để tìm IgM
Anti-HAV, IgM Anti-HBc, HBsAg, Anti-HCV, Anti-HEV với các bộ thuốc thử của công
ty Abbott.
Trong nhóm nghiên cứu, chọn những BN có IgM Anti-HAV (+) để nghiên cứu những đặc
điểm về lâm sàng viêm gan siêu vi A cấp.
2) Tiêu chuẩn loại trừ:
Loại trừ khỏi nghiên cứu những BN có các biểu hiện sau:
- Vàng da- mắt kéo dài > 1 tháng
- Ðược xác nhận có một bệnh về máu, một bệnh ác tính, một bệnh nhiễm trùng cấp
và mạn tính kèm theo bằng các xét nghiệm huyết học, hóa sinh, vi sinh, X quang,
siêu âm...
- ALT không tăng hoặc tăng < 2,5 lần so với trị số bình thường.
3) Theo dõi
BN được điều trị và theo dõi tại Trung tâm cho đến khi hết vàng da-mắt (đối với
nhóm 1 và 2), hoặc hết hẳn các dấu hiệu lâm sàng (đối với nhóm 3 và 4), ALT bình
thường. Các biện pháp theo dõi, điều trị đều tương tự nhau giữa các nhóm.
Tất cả các xét nghiệm thường quy và xét nghiệm huyết thanh học kể trên đều được
thực hiện tại TT Bệnh Nhiệt Ðới TP HCM
Bảng 1- Phân phối theo phái tính và tuổi tác của các
nhóm
|
--------- Nhóm
|
Tuổi
trung bình
|
Nam /
Nữ
|
|
NGHIÊN
CỨU
|
1:----
- 12 t-- (n = 74)
|
8,28
- 2,66
|
45 / 29
|
|
2:----
- 13 t- (n = 111)
|
28,28
- 13,37
|
71 / 40
|
|
|
3 :----
- 12 t- (n = 77 )
|
7,76
- 2,15
|
45 / 32
|
|
4 :----
- 13 t-- (n = 98)
|
28,69
- 12,06
|
64 / 34
|
|
|
|
19,89
- 14,10
|
225 / 135
|
(Ghi chú: Nhóm 1 và 3 có p = 0,07 và
Nhóm 2 và 4 có p = 0,08)
Bảng 2- Chỉ điểm huyết thanh học về các siêu vi gây bệnh viêm gan cấp
|
|
HBsAg(+)
|
IgM
anti-
HBc
(+)
|
IgM
anti-
HAV
(+)
|
Anti-
HCV(+)
|
Anti-
HEV(+)
|
Không
ABCE
|
|
Nhóm
nghiên
cứu (n =
185)
|
78
(42,16%)
|
45
(24,32%)
|
95
(51,35%)
|
20
(11,23%)
|
23
(12,43%)
|
27
(14,59%)
|
|
Nhóm chứng
- (n =
175)
|
25
(14,28%)
|
1
(0,57%)
|
2
(1,14%)
|
2*
(16,67%)
|
6
(3,43%)
|
10
(5,71%)
|
|
- P
|
0,001
|
0,001
|
0,001
|
0,6-
Fisher 2 đuôi
|
0,003
|
0,009
|
----
---------- Ghi chú: * chỉ thực hiện ở 12 BN
KẾT QUẢ
Dựa vào các tiêu chuẩn trên, chọn được 185 BN trong nhóm nghiên cứu (nhóm 1: 74;
nhóm 2: 111), so với 175 BN trong nhóm chứng (nhóm 3: 77; nhóm 4: 98). Qua phân
tích sự phân bố theo phái tính, theo tuổi tác, không có sự khác biệt nào giữa
các nhóm (Bảng 1). Tỉ lệ Nam/ Nữ ở nhóm nghiên cứu là 1,68/1, ở nhóm chứng là
1,65/1. Tuổi trung bình của nhóm 1 là 8,28
- 2,66 (nhóm 3: 77,6
-
2,15), của nhóm 2 là 28,28
- 13,37 (nhóm 4 28,69
-
12,06). Tuổi bình quân của các nhóm là 19,89
-
14,10.
Qua nghiên cứu trên 360 người (185 BN nhóm 1 và 2, 175 BN nhóm 3 và 4), ghi nhận
97 người (26,94%) có IgM anti-HAV(+). Trong nhóm nghiên cứu được chẩn đoán viêm
gan cấp, HAV là nguyên nhân gây bệnh hàng đầu, hơn hẳn HBV. Trong loạt này, tỉ
lệ viêm gan siêu vi A cấp rất cao ở trẻ em
- 5 tuổi (100%) và giảm dần theo lứa tuổi (79,66% ở tuổi
6-12; 29,73% ở trẻ em > 12 và người lớn). Tỉ lệ này khác biệt rõ rệt giữa nhóm
nghiên cứu và nhóm chứng (Bảng 4).
Phân tích trên 95 BN trong nhóm nghiên cứu có IgM anti-HAV(+) nhận thấy:
-Về nơi cư ngụ: có 25 BN (26,31%) sống ở các tỉnh lân cận, số còn lại cư
ngụ tại các quận nội,- ngoại thành TP Hồ Chí Minh. Trong suốt thời gian nghiên
cứu, không ghi nhận tính gây dịch hoặc tính bộc phát của viêm gan siêu vi- A.
-Về thời điểm nhập viện: nhận thấy BN viêm gan siêu vi A cấp nhập viện suốt cả
năm, trong đó vào hai thời điểm tháng 3-4 và tháng 8-9 có số BN nhập viện cao
nhất.
-Biểu hiện lâm sàng: Trước khi có dấu hiệu vàng da-mắt, 77 BN (81,05%) có sốt
nhẹ, 61 BN (64,21%) bị nôn ói, 59 (62,10%) có dấu mệt mỏi, 46 (48,42%) bị đau hạ
sườn phải. Một số dấu hiệu ít gặp như đau cơ được ghi nhận 11 BN (11,58%), đau
khớp: 5 (5,26%), ngứa: 20 (21,05%), phát ban: 4 (4,21%),... Các dấu hiệu này
xuất hiện và kéo dài khoảng 5-10 ngày trong 78 trường hợp (82,10%). Tất cả BN
vào lúc nhập viện đều có vàng da-mắt.
-Tình trạng nhập viện: 21 BN (22,10%) nhập viện sớm trong vòng < 1 tuần kể từ
khi có dấu hiệu đầu tiên, 68 BN (71,58%) nhập viện trong vòng 1-2 tuần, 6 BN
(6,31%) nhập viện muộn sau 3 tuần.
Bảng 3: Kết quả IgM anti-HAV ở BN và nhóm chứng
|
|
---------- IgM anti-HAV
|
Tổng cộng
|
|
Dương
tính
|
Âm tính
|
|
|
-95
(51,35%)
|
90
(48,65%)
|
185
|
|
Nhóm chứng
|
2
(1,145%)
|
173
(98,86%)
|
175
|
|
Tổng cộng
|
97
|
263
|
360
|
Bảng 4: Phân phối IgM anti-HAV theo lứa tuổi
|
 Tuổi
|
------ Kháng thể IgM anti-HAV
|
Tổng
cộng
|
P
|
|
Nhóm
nghiên cứu
|
Nhóm
chứng
|
|
(+)
|
(-)
|
(+)
|
(-)
|
|
- 5 tuổi
|
15
|
0
|
0
|
11
|
26
|
0,001*
|
|
6 - 12
tuổi
|
47
|
12
|
2
|
64
|
125
|
0,001
|
|
- 13 tuổi
|
33
|
78
|
0
|
98
|
209
|
0,001
|
|
Tổng cộng
|
95
|
90
|
2
|
173
|
360
|
0,001
|
-
-Khi triệu chứng vàng da-mắt xuất hiện, tất cả đều không còn sốt, tuy nhiên nôn
ói, đau hạ sườn phải vẫn còn tiếp diễn khoảng 10-14 ngày sau mới chấm dứt
(86,31%). Gan to chỉ phát hiện được ở 35 BN (36,84%). Không có trường hợp nào
lách to. Xuất huyết da-niêm được ghi nhận ở 6 BN.
Về phương diện xét nghiệm: ở nhóm
nghiên cứu có nồng độ bilirubine toàn phần trung bình vào khoảng 3,66
- 2,97 mg/100ml, ALT thay đổi trong khoảng 453
- 58 UI/L. Nồng độ bilirubine ở trẻ bệnh vào khoảng 2,85
- 2,66 mg/ 100ml, còn ở người lớn nồng độ này là 4,18
- 3,06 mg/ 100ml (với p = 0,001), có nghĩa là mức độ vàng da-mắt ở trẻ em
ít hơn ở người lớn. ALT không khác biệt nhau ở trẻ em và người lớn (trẻ em là
494
- 207 UI/L,
người lớn 483
- 393 UI/L với p> 0,05.
Diễn tiến lâm sàng: tốt, không có trường hợp nào biến chứng và tử vong.
Thời gian nằm viện trung bình là 3-4 tuần.
BÀN LUẬN
trong nghiên cứu
này, tỉ lệ viêm gan cấp do siêu vi A chiếm tỉ lệ cao nhất (51,35%) trong các
loại siêu vi được xác định và thường gặp ở trẻ em < 13 tuổi. Tỉ lệ này cao hơn
công trình tiến hành tại Hà Nội3
(28,7% của 188 BN viêm gan siêu vi cấp so với 2,1% của 187 BN trong nhóm chứng).
Trong nghiên cứu ở Hà Nội khoảng 41% BN < 20 tuổi đã có biểu hiện của một nhiễm
HAV cấp so với 21% ở BN > 20 tuổi với p < 0,01. Tỉ lệ cao viêm gan A của công
trình này có thể là do điều kiện môi trường đông dân cư, vệ sinh thực phẩm còn
kém. Ðiều này có thể hiểu được phần nào qua nghiên cứu của Châu Hữu Hầu tại đồng
bằng sông Cửu Long có hơn 90% người lớn đã có kháng thể IgG anti-HAV (+), nghĩa
là đã từng nhiễm HAV trong quá khứ. Tuy nhiên công trình này chưa khảo sát được
cơ chế lây lan của HAV trong cộng đồng.
Việt Nam cũng là vùng lưu hành cao của viêm gan siêu vi B, nghiên cứu này cho
thấy viêm gan A cấp thường gặp ở trẻ em, nhưng viêm gan B cấp lại gặp ở người
lớn nhiều hơn: IgM anti-HBc(+) ở trẻ < 5 tuổi là 0%, ở trẻ 6-12 tuổi là 11,8% và
ở trẻ em > 12 tuổi và người lớn là 34,23%. Trong lọat này phát hiện được 18 BN
(18,95%) vừa bị viêm gan A cấp vừa mang HBsAg(+).
Biểu hiện lâm sàng của viêm gan siêu vi A cấp không khác biệt gì quan trọng so
với biểu hiện lâm sàng của viêm gan A cấp trong trận dịch năm 1988 tại Thượng
Hải.(1) Trong nghiên cứu này, không có trường hợp nào bị viêm gan tối
cấp và cũng không có trường hợp nào tử vong. Tuy nhiên thời gian nằm viện kéo
dài và rất tốn kém. Theo tính toán sơ khởi trong suốt thời gian nằm viện 3-4
tuần, BN phải tốn kém trung bình khoảng 1 triệu rưỡi đên 2 triệu đồng, một số
tiền không nhỏ đối với thu nhập chung hiện nay.
KẾT LUẬN
Qua khảo sát 185 mẫu huyết thanh BN viêm gan siêu vi A cấp, đối chiếu với 175 BN
trong nhóm- chứng, ghi nhận như sau: tỉ lệ BN mang IgM anti-HAV (+) là 51,35%,
thường gặp ở trẻ em < 13 tuổi). Diễn tiến lâm sàng lành tính, không có biến
chứng và tử vong. Thời gian nằm viện kéo dài, ảnh hưởng đến học tập và sinh hoạt
và làm tốn kém không nhỏ cho người bệnh và gia đình.
-----------
TÓM TẮT
Trong thời gian từ tháng 7/1994 đến tháng 8/1997, tiến hành một nghiên cứu trên
185 BN (74 trẻ em
- 12 tuổi, 111 trẻ > 13 và người lớn) bị viêm gan siêu
vi cấp (vàng da-mắt < 1 tháng, không có tắc mật, không bị nhiễm trùng cấp và mạn
tính, không mắc các bệnh ung thư và các bệnh về máu, trị số ALT tăng trên 2,5
lần trị số bình thường), đối chiếu nhóm chứng với 175 BN nhập viện trong cùng
thời kỳ, cùng lứa tuổi (không có vàng da-mắt, không có ALT tăng).
tất cả BN được lấy máu làm xét nghiệm huyết thanh học
tìm HBsAg, IgM anti-HBc, IgM anti-HAV, IgG Anti-HCV, IgG Anti-HEV bằng phương
pháp ELISA. Ðiều trị và theo dõi giống nhau ở hai nhóm.
Kết
quả nghiên cứu cho thấy 95/185 BN (51,35%) có IgM anti-HAV(+) xác nhận một viêm
gan siêu vi A cấp. Tỉ lệ này cao nhất so với các chỉ huyết thanh khác: viêm gan
siêu vi B là 24,32%, nhiễm HCV 11,23%, nhiễm HEV 12,43%, không nhiễm A,B,C,E là
14,59%. Tỉ lệ (+) của IgM anti-HAV tỉ lệ nghịch với lứa tuổi: <5 tuổi tỉ lệ là
100%, 6-12 tuổi là 79,66%, > 12 tuổi là 29,73%). Không phát hiện tính gây dịch
rõ rệt, thời điểm có số bệnh nhân nhập viện cao nhất trong năm là tháng 3-4 và
8-9. Mức độ vàng da-mắt ở trẻ em có khuynh hướng nhẹ hơn người lớn, tuy nhiên
diễn tiến thường thuận lợi, không có trường hợp nào tử vong. Bệnh viêm gan siêu
vi A- tương đối lành tính nhưng có thời gian nằm viện thường kéo dài trung bình
là 3-4 tuần.
SUMMARY
epidemiological and clinical features of hav infection treated in the
center for tropical disease
From July 1994 to August 1997, we studied 185 patients with acute viral
hepatitis (74 children
- 12 y.o, 111 adolescents and adults) by ELISA (IgM
anti-HAV ,HBsAg, IgM anti-HBc, IgG Anti-HCV, IgG Anti-HEV. All had jaundice with
increased ALT more than 2,5 times of normal values, no biliary obstruction,
malignancy neither other infectious diseases. Additionally, 175 patients (73
children
- 12 y.o, 98 adolescents and adults) without hepatic
diseases hospitalzed in the same period were enrolled in this study as control
groups.
Serological evidence of recent HAV infection (presence of IgM anti-HAV in the
sera) was noted in 95 patients (51,35%), compared with 1,14% of control groups
(p < 0,001). This positivity rate was highest, the other rates were 24,32% for
IgM anti-HBc, 11,23% for HCV infection, 12,43% for HEV infection, 14,59% for non
A,B,C,E infection. Acute hepatitis A was inversely proportional to the age: 100%
in the children < 5 y.o, 79,66% in children 6-12 y.o, 29,73% in adolescents and
adults. Jaundice was less severe in children than adults but ALT levels was the
same.
The evolution of the disease was favorable, no complications were detected.
Finally, acute hepatitis A was relatively benign but long hospitalization stay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Battegay M., Gust I.D., Feinstone S.M.- Hepatitis A
virus - In: Mandell, Douglas and Bennett-s Principles and Practice of Infectiuos
Diseases- Churchill Livingstone 1995:1636-1652.
2. Dienstag J.L., Isselbacher K.J. Acute viral
Hepatitis In: Harrison-s Priciples of Internal Medicine, 14th
Edition, International Edition 1998; 1677-1692.
3. Corwin A.L. et al. Acute viral Hepatitis in Hanoi,
Viet Nam Transactions of the Royal Society of Tropical Medicine and Hygiene
1996; 90: 647-648.
4. Nguyễn Hữu Chí và ctv. Một số đặc điểm dịch tễ học
và lâm sàng của viêm gan siêu vi cấp điều trị tại Trung Tâm Bệnh Nhiệt Ðới TP Hồ
Chí Minh. Hội Nghị Kháng Thuốc ở các Tỉnh phía
nam 16-17 tháng 10 năm 1997.
5. American Academy of Pediatrics. Hepatitis A. In:
Peter G., ed 1997- Red Book: report
of the Committee on Infectious Diseases 24th Edition- Elk Grove
Village, IL: American Academy of Pediatrics ; 1997L 237-246.
*Bác sĩ Trung Tâm
Bệnh Nhiệt Ðới TP HCM
**US Naval Medical
Research Unit N02
|
|