MỞ ĐẦU
Toxoplasma gondii là một trong những nguyên nhân gây nhiễm trùng thường
gặp ở hệ thần kinh trung ương.(1,2,3,7)
Sau một nhiễm trùng cấp, kén của T.gondii tồn tại trong hệ thần kinh và
tăng sinh ở các mô ngoài hệ thần kinh. Ở người b́nh thường, bệnh nhiễm
T.gondii ở dạng âm thầm, không triệu chứng nhưng ở người suy giảm miễn dịch,
bệnh sẽ bộc phát, trổi dậy và lan tràn khắp cơ thể. Ở bệnh nhân AIDS, nhiễm
trùng tiềm ẩn do T.gondii
sẽ trở thành nhiễm trùng có triệu chứng và có thể gây tử vong.(1,6)
Tại Việt Nam t́nh h́nh nhiễm HIV/AIDS ngày một nhiều.
Nhiễm trùng cơ hội thường xuyên hơn với mức độ trầm trọng hơn. Sau đây chúng tôi
tŕnh bày bệnh án viêm năo do T.gondii
ở người nhiễm HIV/AIDS.
BỆNH ÁN
Nam thanh niên 23 tuổi, ngụ tại Quận 3, TP HCM, nhập
viện vào khoa Nhiễm E, Trung Tâm Bệnh Nhiệt Đới ngày 16/09/1997 v́ sốt kéo dài
kèm nhức đầu.
Bệnh sử kéo dài trên một tháng với sốt cao liên tục,
không kèm lạnh run. Bệnh nhân (BN) không ăn uống được, sụt khoảng 6 kg kể từ khi
khởi phát đến khi nhập viện. BN đi khám nhiều nơi và được dùng nhiều loại thuốc
nhưng bệnh vẫn không giảm. Sau đó trước tiền căn có chích x́ ke, nên được khuyên
nên đến Trung Tâm Y Tế Dự Pḥng làm xét nghiệm tầm soát nhiễm HIV. Ngày
09/09/1997, BN được xác định là nhiễm HIV bằng hai xét nghiệm ELISA. Ba ngày
sau, BN nhập viện.
Về tiền căn, BN chích x́ ke từ năm 19 tuổi và hiện nay
đă bỏ (-), có quan hệ nhiều lần với phụ nữ mại dâm không dùng bao cao su. Không
có truyền máu và phẫu thuật lần nào.
Lúc nhập viện, thể trạng suy
kiệt (37 kg), Kar-novski 90 điểm (đánh giá hoạt động hàng ngày). BN tỉnh táo,
than nhức đầu với tính chất
như sau: đau khắp vùng đầu, không thay đổi theo tư thế, không kèm theo rối loạn
thị giác
hay thính
giác.
Thân nhiệt: 3805C. Huyết áp: 10/6 cmHg;
Mạch: 90/phút.
Dấu màng năo (-). Dấu thần kinh định vị (-)
Đáy mắt: không phù gai thị
Tai - Mũi - Họng: không ǵ lạ
Tim, Phổi, Bụng: không phát hiện dấu bệnh lư
Xét nghiệm:
-Bạch cầu ở máu ngoại biên: 3.060 / mm3 với
Eosinophiles là 8,2%, khoảng 240/ mm3.
-Tốc độ lắng máu: 50 mm trong giờ đầu và 60 mm ở giờ
thứ hai
-T́m BK trong 3 mẫu đàm (-)
-Xquang phổi: không phát hiện dấu bệnh lư.
-Chọc ḍ tủy sống: dịch năo tủy trong, áp lực tăng.
albumine = 146 mg%, Đường = 43 mg%,
chlore = 119 mEq/L, soi trực tiếp t́m vi trùng kháng acid-alcool và nấm
(-).
Điều trị tạm thời bằng Acetaminophen, Nisidol. Tuy
nhiên ba ngày sau, bệnh nhân vẫn c̣n than nhức đầu dữ dội, tri giác xấu hơn với
vẻ mặt ngơ ngác, đờ đẫn, đi đứng không vững, dễ té, nôn ói, v́ vậy được làm một
số xét nghiệm khác với kết quả như sau:
IgM anti-Toxoplasma (-)
IgG anti-Toxoplasma (+): 1/800
(Cả hai xét nghiệm này thực hiện tại Bộ Môn Kư Sinh
Trùng, Đại Học Y Dược TP HCM).
- CT Scanner năo: tổn thường nhiều nơi ở hai bán cầu
năo, đại năo và tiểu năo, kèm theo phù năo dữ dội (thực hiện tại Trung Tâm Chẩn
Đoán Siêu Âm) (h́nh 1).
- CD4: 8/ mm3 (thực hiện tại Trung Tâm
Truyền Máu và Huyết Học)---------
Qua diễn tiến lâm sàng và kết quả xét nghiệm như trên,
nhận thấy BN này có đủ tiêu chuẩn AIDS (theo CDC 1993) và bị nhiễm trùng cơ hội
tại năo bộ do Toxoplasma gondii.
Bệnh nhân được điều trị đặc hiệu bằng
Sulfamethoxazole-Trimethoprim (800-160 mg), 1 viên x 4 lần/ ngày, chống phù năo
bằng Mannitol
10%, chống ói bằng Metochlorpamide.
Sau bốn ngày điều trị như trên, BN hết nhức đầu, tỉnh
táo, ăn uống được và hết sốt.
Sau một tháng điều trị, BN phục hồi hoàn toàn về lâm
sàng. Xét nghiệm kiểm tra cho thấy:
Bạch cầu máu: 2.350/ mm3
với eosinophiles là 7,6% # 181/ mm3
CD4: 12/ mm3
IgG anti-Toxoplasma: 1/ 800
CT Scanner: các tổn thương ở năo và phù năo đă giảm
nhiều (H́nh 2)
BN xuất viện ngày 25/10/1997, tiếp tục dùng SMZ-TMP
(800-160 mg), 1 viên x 4 lần/ ngày thêm 4 tuần nữa. Hẹn tái khám một tháng sau.
Ngày 24/11/1997, BN đến tái khám với tổng trạng rất
tốt, tăng 1kg, Karnovski = 100 điểm. Bạch cầu máu: 6.000/ mm3 với
eosinophiles là 1% # 60/ mm3, IgG anti -Toxoplasma: 1/ 800 và CT
scanner gần như không c̣n phát hiện được tổn thương tại năo bộ (H́nh 3). Bệnh
nhân được dùng tiếp tục SMZ-TMP (800-160 mg) 1viên/ ngày để pḥng ngừa thứ phát.
Chẩn đoán cuối là Viêm năo do Toxoplasma gondii
ở bệnh nhân AIDS, đáp ứng lâm sàng và cận lâm sàng tốt với SMZ - TMP.
BÀN LUẬN
T́nh h́nh nhiễm Toxoplasma gondii rất thay đổi
theo từng khu vực địa dư và lứa tuổi,(7)
tại Hoa Kỳ tỉ lệ người lớn có huyết thanh (+) với Toxo-plasma là 3-70%, ở
El Salvador, Tahiti, Pháp tỉ lệ này là 90% ở lứa tuổi > 40(7). Qua
nhiều nghiên cứu cho thấy hầu hết bệnh nhân AIDS bị nhiễm Toxoplasma
ở năo đều có phản ứng huyết thanh xác nhận đă từng bị nhiễm kư sinh trùng
này. Người nhiễm HIV chưa có triệu chứng lâm sàng cũng như bệnh nhân AIDS đều
được xem là những người có nguy cơ bi viêm năo do Toxoplasma gondii1.
Tại Hoa Kỳ người ta ghi nhận tỷ lệ lưu hành huyết thanh (seroprevalence)
Toxoplasma (+) của người nhiễm HIV là 8 - 16%, có khi tăng đến 25% và 20-
47%. Bệnh nhân AIDS có huyết thanh Toxoplasma (+) sẽ bị viêm năo do
T.gondii một thời gian sau.(7)
Trong một nghiên cứu thực hiện trên 255 người x́ ke bị
nhiễm HIV tại TP HCM vào tháng 12 /1995 cho thấy tỷ lệ lưu hành huyết thanh đối
với Toxoplasma vào khoảng 10%.
Về biểu hiện lâm sàng, 58-89% bệnh nhân nhiễm
Toxoplasma năo có dấu hiệu thần kinh định vị. Rối loạn trị giác, hành vi tác
phong là dấu hiệu đầu tiên trong 60% trường hợp. Khoảng 1/3 bệnh nhân bị co giật
và là lư do chính khiến họ phải đi khám bệnh.(1) Dấu hiệu tổn thương
tiểu năo như đi đứng không vững, hay té tương đối ít xảy ra. Bệnh nhân này có
biểu hiện ban đầu là sốt, nhức đầu, nên được nghĩ ngay đến viêm màng năo, viêm
màng năo nấm.(2,3) Sau ba ngày nhập viện kết quả xét nghiệm cho thấy
bệnh nhân không mắc các bệnh trên và đă chuyển hướng chẩn đoán sang viêm năo do
Toxoplasma gondii và làm xét nghiệm huyết thanh học, CT scan và đă chẩn đoán
được bệnh với IgG anti-Toxoplasma (+), nhưng IgM anti-Toxoplasma
(-), có nghĩa là bệnh nhân đă từng bị nhiễm Toxoplasma -và do t́nh trạng
suy giảm miễn dịch quá nặng (CD4 = 8/ mm3) nên đă bị Toxoplasma
ở năo.
H́nh ảnh trên CT scan (H́nh 1) của bệnh nhân này khá
điển h́nh với nhiều tổn thương hai bên bán cầu năo, kể cả tiểu năo, kèm theo phù
năo đă giải thích được phần nào triệu chứng nhức đầu, nôn ói, đi đứng không vững
hay té vào những ngày đầu mới nhập viện. Cải thiện lâm sàng và Xquang (H́nh 2 và
3) với điều trị đặc hiệu bằng SMZ-TMP bắt đầu vài ngày sau khi dùng thuốc và sau
8 tuần gần như không c̣n ghi nhận tổn thương trên Xquang (H́nh 3).
Về điều trị, đa số tác giả đề nghị dùng Pyrimethamine
200 mg (liều tấn công), sau đó là 50-75 mg/ngày phối hợp với Sulfadiazine 1g/ 6h
hoặc phối hợp Pyrimethamine và Clindamycine chích tĩnh mạch 600 mg/ 6h có hiệu
quả hơn là phối hợp SMZ-TMP.(4,5) Tuy nhiên trong t́nh h́nh cung cấp
thuốc cũng như kinh tế của bệnh nhân, nhận thấy SMZ - TMP tương đối dễ t́m, giá
rẻ, dễ sử dụng nên đă chọn phối hợp này. Bên cạnh giải quyết nguyên nhân nhiễm
trùng, chúng tôi đă dùng Mannitol 20% trong tuần đầu để chống phù
năo mà không dùng Corticosteroid. Hiệu quả của Mannitol và Corticosteroid như
thế nào trong chống phù năo ở bệnh nhân nhiễm Toxoplasma
-năo chưa thể trả lời qua một trường hợp bệnh lư này.
Sau hơn hai tháng theo dơi, bệnh nhân hiện đang dùng
SMZ - TMP đề pḥng ngừa tái phát v́ số lượng CD4 c̣n quá thấp, và hiện chưa rơ
có hay không có biến chứng nhiễm trùng hoặc tai biến do thuốc SMZ - TMP trên
bệnh nhân này-
summary
case
report of an aids patient with cerebral toxoplasmosis
An AIDS patient with cerebral toxoplasmosis was firstly observed at the
Center For Tropical Disease. He was an IV drug abuser and had unprotected
intercourse with sex worker. He was hopitalized because of prolonged fever,
weight loss, headache, ataxia and alteration of consciousness. Peripheral blood
examination revealed a neutro-penia, eosinophilia, low CD4 count (<50/mm3).
Serology test (IgG anti-toxo) was positive at 1/800 titer. Cerebral CT scan
showed cerebral edema and presence of multiple masses in hemispheres, brainstem
and cerebellum. The clinical and radio-graphical regression was very good after
1 month treated with SMP-TMP. No relapse was noted after 2 month follow-up.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Subauste C.S., Wong
S.Y., Remington J.S. - AIDS- associated Toxoplasmosis - In: Sande M.A.,
Volberding P.A. (Eds) - The Medical Management of AIDS - 5th Edition
- W.B.Saunders Company 1997: 343 - 362.
2. Nguyễn Hữu Chí -
Nhiễm HIV/ AIDS - Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh 1996.
3. Kasper L.H. -
Toxoplasma
Infection - In: Harrison-s Textbook of Internal Medicine - 14th-- Edition - Mc
Ggraw - Hill health professions Division - 1998 - Vol 1: 1197 - 1202.
4. Sanford J. Guide to
Therapy of HIV/AIDS 1997: 77.
5. Berlett J.g. The
Johns Hopkins Hospital 1997. Guide to Medical Care of patients with HIV
Infection - 7th Edition - Williams & Wilkins 1997.
6. Decker C.F., Masur
H. - Pneumocystis and Other Protozoa - In: De Vita V., Hellman S, Rosenberg S.A
(Eds). AIDS: Etiology, Diagnosis, Treatment and Prevention. 4th Edition -
Lippincott - Raven 1997; 215 - 230.
7. Beeman M.H., McCabe
R.E., Wong S.Y., Remington J.S. Toxoplasma gondii. In: Mandell, Douglas and
Bennett-s Principles and Pratice of Infectious Diseases. 4th Edition 1995: 2455
-2475.