Chẩn đoán những
bất thường của phôi có thể thực hiện bằng âm vang kư, chọc hút màng ối, sinh
khán màng ối và lấy máu phôi. Lấy máu phôi giúp phát hiện những bất thường của
ADN, nhưng phải dùng máy soi phôi hướng dẫn. Sinh khán màng ối vào tuần lể thứ 8
dựa vào sự kiện là tế bào của mô màng có mang những nhiễm sắc thể và gen của
phôi. Phương pháp này có nguy cơ làm xẩy thai với tỷ lệ cao hơn chọc ḍ màng ối. chọc ḍ màng ối vào tam cá nguyệt thứ
hai, xác định kiểu nhiễm sắc thể của phôi và phát hiện bệnh tam nhiễm sắc thể 21
(trisomie 21), các rối loạn chuyển hóa, hay bất thường của ống thần kinh.
Âm vang kư đă
trở thành một xét nghiệm thường quy và giúp- phát hiện những bất thường của phôi
mà nh́n thấy được, cụ thể như chứng vô năo, hay năo nước.
Dưới dây là
những dị tật do bất thường gen có thể phát hiện được qua xét nghiệm tế bào phôi:
- Bệnh Down với
3 nhiễm sắc thể, chứ không phải hai tại cặp thứ 21.
- bệnh múa vờn huntington
với rối loạn hay suy nhược của một gen trên nhiễm sắc thể 4. Bệnh hiện ra vào
tuần 40 dưới các triệu chứng liệt vận động, loạn tâm thần rồi tử vong.
- Bệnh
Duchenne, trong đó chỉ nhiễm sắc thể X mang gen suy nhược nguyên nhân của bệnh
với yếu cơ sớm, và đưa đến tử vong.
- Bệnh Tay-
Sachs, trong đó sự suy nhược của một gen đưa đến thiếu diếu tố hexosaminidase
nên chuyển hóa lipid bất thành.
- Bệnh beta -
thalassemia với rối loạn một gene duy nhất, đưa đến thiếu máu trầm trọng.
Chẩn đoán những
dị tật trên phôi có một số lợi điểm:
- Cho sanh sớm
để điều trị kịp thời những dị tật, mà để chậm sẽ có nguy cơ gây bất thường nặng
hay đưa đến tử vong cho phôi, hoặc trong tương lai.
-Cho phá thai nếu hội đủ yếu tố và coi chất lượng sự
sống là tiên quyết.
Nói thế để nhận định rằng, can thiệp v́ một
bất thường gen qua chẩn đoán phôi, đặt ra một số vấn đề liên hệ tới y đức:
1/ Trách nhiệm
của người mẹ đối với phôi nếu phải phá thai. Quyền của phôi có đến độ nào và tới
thời gian nào th́ phôi được coi là một con người. Ngoài ra phá thai có những
nguy cơ của nó.
2/ thái độ, và cách đối xử với những phôi bị dị tật- Có nên để
cho sinh ra những đứa trẻ mà đời sống biết trước sẽ vô cùng khó khăn và dễ chết
yểu-
Gánh nặng của
gia đ́nh và xă hội, khi chúng sinh ra và lớn lên- Ở đây, vấn đề "ṇi giống ưu
việt" lại được đặt ra.
3/ Nguyên lư
của y khoa là cứu người, dù có dị tật. Cho phá thai chọn lọc có đi ngược lại với
nguyên lư này không- Mặc dù ở đây, là ban sự chết an lành cho một con người mà
sau sanh và tương lai chịu nhiều đau khổ-
Sau cùng, chính
thầy thuốc cố vấn về gen sẽ ở vào t́nh huống khó xử :
- Bằng ḷng hay
không bằng ḷng cho phá thai-
- Bộc lộ dị tật
phôi có thể gây chấn động về tâm thần cho người mẹ. Riêng về bệnh hunting-ton, nó c̣n làm cho anh chị em
trong gia đ́nh lo sợ, v́ 50% họ có thể cũng bị bệnh của phôi.
Ngoài ra, xét
nghiệm gen trên phôi, c̣n có thể đưa đến những lạm dụng như:
- Đề nghị triệt
sản những người có bệnh gen cụ thể bệnh Huntington ngay từ lúc đầu khi có triệu
chứng (Davenport, 1916).
- Đ̣i hỏi làm
các xét nghiệm gen trên một số người như tù nhân, người bệnh tâm thần, trẻ được
xin làm con nuôi, hay bởi một số người như các nhà bảo hiểm bệnh tật, bảo hiểm
nhân thọ.
Các xét nghiệm
trên c̣n làm mất tính riêng tư của cá nhân, từ đó xâm phạm tới nhân cách (knoppers, 1991), cũng không loại bỏ được
những xu hướng cách ly, cá nhân và gia đ́nh người có bất thường gen (Hy Lạp,
1974) hay xu hướng kỳ thị họ, không cho họ công việc làm, hưởng các bảo hiểm và
một số quyền cơ bản khác (Billingo, 1992).
tài liệu tham khảo
1) Blatt JR. prenatal Tests N.Y. Vintage Books,
Random House, 1988.
2) Evans. Medical fetal
therapy dans Fetal diagnosis and therapy. Science, Ethics and the Law. Phil.
Lippincott ed 1989;403.
3) Modell B. Ethical
aspects of genetic screening. An Med 24:544 (1992).
4) Powledge T.M et
Sollitto S. prenatal diagnosis.
The past and the future Hastings centre report 4:11-1, 1974. --------- ---
5) Robertson J.A. Legal
issues in fetal therapy dans Fetal diagnosis and therapy. Phil. Lippincott ed
1989:431.
6) Warnock. M. Ethical
challenges in Embryo manipulations. Brit. Med J 304:1045, 1992.