So sánh mù đôi giữa giả dược và điều trị tích cực cho
bệnh nhân- lớn tuổi bị cao áp huyết tâm thu
Tỷ lệ lưu hành
của bệnh cao áp huyết tâm thu đơn thuần gia tăng theo tuổi. Trong số những người
- 70 tuổi, tỷ lệ lưu hành là
8% và tỉ lệ này tăng lên >25% ở những người
-80 tuổi. Năm
1989, Hội Châu âu về cao huyết áp ở người lớn tuổi (EWP HBPE) khảo sát xem việc
điều trị tích cực có làm giảm những biến chứng tim mạch của cao huyết áp (CHA)
tâm thu không- Thử nghiệm được đánh giá bằng những cơn đột quỵ có tử vong hay
không tử vong. Nghiên cứu thự- hiện ở 198 trung tâm thuộc 23 nước của châu Âu.
Phương pháp:
Tất cả bệnh nhân (-
60 tuổi) khởi đầu bằng giả dược. Trong thời gian "chạy thử" này, huyết áp (HA)
tâm thu trung b́nh khi ngồi là 160-219 mmHg với HA tâm trương < 95 mmHg. Sau khi
phân tầng theo trung tâm, phái tính và biến chứng tim mạch trước kia, chọn 4659
BN được phân chia ngẫu nhiên vào nhóm điều trị bằng nitrendipine 10-40 mg mỗi
ngày, có thể thêm enalaprịl 20 mg mỗi ngày và hydrochloro-thiazid 12,5 - 25 mg
mỗi ngày hoặc vào nhóm dùng giả dược. BN sau khi rút khỏi trị liệu mù đôi vẫn
c̣n được theo dơi tiếp. Các tác giả so sánh xuất độ các biến chứng tim mạch.
Kết quả:
Theo dơi 2 năm (số trung vị), thấy ở nhóm giả dược HA tâm thu và tâm trương khi
ngồi giảm 13 mmHg và 2 mmHg (n=2297); ở nhóm điều trị tích cực (n=2398) giảm 23
mmHg và 7 mmHg. Độ sai biệt giữa hai nhóm của HA tâm thu là l0,1 mmHg (95% KTC:
8,8-11,4) và HA tâm trương là 4,5 mmHg (3,9-5,1). Điều trị tích cực làm giảm tỷ
lệ đột quỵ từ 13,7 xuống 7,9 /1000 BN-năm (giảm 42%; p=0,007). Trong nhóm điều
trị tích cực, tất cả những biến chứng tim mạch tử vong hay không tử vong, kể cả
đột tử, giảm 26% (p=0,03). Tai biến tim mạch không tử vong giảm 33% (p=0,03).
Tai biến tim mạch tử vong hay không giảm 31% (p<o,oó). Tử vong do tim mạch ít
thấp hơn trong nhóm điều trị tích cực (-27%, p=0,07), nhưng tử vong v́ mọi
nguyên nhân không khác biệt (-14%; p=0,22).
Diễn giải:
Trên những người lớn tuối có CHA tâm thu đơn thuần, việc khởi trị bằng thuốc hạ
áp nitrendipine làm giảm tỷ lệ biến chứng tim mạch. Điều trị cho 1000 bệnh nhân
trong 5 năm với phác đồ này có thể ngăn ngừa được 29 cơn đột quỵ hoặc 53 tai
biến tim mạch chính.
Theo lancet 1997; 350:756-64:
Randomised double-blind comparison of placebo and active treatment for older
patients with isolated systolic hypertention
điều trị viêm gan siêu vi mạn tính bằng interferon
Mục đích tối ưu
của điều trị viêm gan siêu vi B mạn tính là tiêu diệt siêu vi và ngăn ngừa diễn
tiến đến xơ gan và ung thư tế bào gan. Mặc dầu những trị liệu hiên tại chưa đạt
được những mục tiêu này nhưng có thể khống chế sự sinh sản siêu vi và cải thiện
bệnh cảnh lâm sàng, sinh hóa và mô học của bệnh mạn tính này.
Hầu hết các
nghiên cứu rộng răi trị liệu viêm gan siêu vi B mạn tính bằng interferon đă tỏ
ra có hiệu quả. Interferon, một họ của protein nhỏ được sản sinh và tiết ra bởi
tế bào đáp ứng với sự nhiễm siêu vi, kích họat tế bào bằng cách gắn với thụ thể
đặc hiệu màng tế bào. Có 3 lọai interfe-ron: interferon alfa, interferon beta và
interferon gamma. Interferon alfa được sản sinh bởi đơn bào và tế bào B trong
đáp ứng với nhiễm siêu vi.
Nhiều
interferon tái tổ hợp đă được sản xuất: Với interferon alfa-2b, liều 30-35 triệu
đơn vị/ một tuần đă chứng tỏ hiệu quả trong điều trị viêm gan B mạn tính với HBV
DNA(+), HBeAg(+) vào khoảng 40% các bệnh nhân. Tác dụng phụ là hội chứng giống
như cảm cúm, đau cơ, đau khớp và nhức đầu; các hiệu ứng tế bào như giảm bạch cầu
hạt, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu; các triệu chứng toàn thân rụng tóc và mệt
mỏi; các dấu hiệu thần kinh như trầm cảm, khả năng tập trung giảm và bức rứt; và
rối lọan miễn dịch bao gồm các kháng thể kháng nhân và bệnh tuyến giáp.
Intrferon cũng
có hiệu quả trong điều trị bệnh viêm gan siêu vi C. Liều interferon alfa-2b được
chấp nhận nhiều năm qua là 3 triệu đơn vị x 3 lần mỗi tuần trong 6 tháng. Các dữ
liệu cho thấy phác đồ này làm b́nh thường hóa trị số alanin transferase huyết
thanh hoặc giảm hơn 50% trong khoảng 50% bệnh nhân. Tuy nhiên, bởi v́ 50% những
người có đáp ứng sẽ tái phát trong ṿng 6 tháng, nên chỉ có 20-25% bệnh nhân có
thể đáp ứng lâu dài với điều trị này.
Theo Scientific
American medicine, 10/1996: Interferon Treatment of Chronic Viral Hepatitis
xét nghiệm chẩn đoán và trị liệu mới bệnh lây truyền
qua đường t́nh dục
Kháng thuốc
trong bệnh lậu
Chủng vi khuẩn
lậu N. gonrrhoeae kháng với penicillin và tetracyclin ở Mỹ đă biết đến từ
lâu. Năm 1995, Trung tâm Pḥng Chống Bệnh CDC của Mỹ báo cáo rằng vi khuẩn lậu
phân lập từ bệnh nhân lậu đă có mức độ kháng cao với fluoroquinolon. Những chủng
này không bị tiêu diệt bởi ciprofloxacin và oflacin, nhưng lại không thường gặp
và fluoroquinolon vẫn c̣n là trị liệu hợp lư cho bệnh lậu. Tuy nhiên, bởi v́
quyết định trị liệu được đưa ra mà không quan tâm đến lợi ích của thông tin về
vấn đề kháng thuốc, thuốc ceftriaxon vẫn c̣n là thuốc chọn lựa để điều trị bệnh
lậu.
Liều duy
nhất để trị viêm niệu đạo do Chlamydia và không do vi khuẩn lậu
Azithromycin
với liều duy nhất 1g đă được chứng minh là hiệu quả tương đương như doxycyclin
(100mg x 2 lần/ ngày trong 7 ngày) trong điều trị viêm niệu đạo do Chlamydia
và không do vi khuẩn lậu. Mặc dầu azithromycin mắc tiền hơn doxycyclin, nhưng
điêu trị này đạt hiệu quả hơn về tuân thủ liệu tŕnh lẫn lâm sàng.
Azithromycin tỏ ra thích hợp cho pḥng mach tư và nhất là ở những nơi giá thuốc
không phải là vấn đề.
Test mới
không phải canh cấy trong chương tŕnh pḥng chống nhiễm Chlamydia
Những test phản
ứng chuỗi polymerase và phản ứng chuỗi ligase để phát hiện Chlamydia
trachomatis đă tỏ ra đặc hiệu và lợi ích để tầm soát bệnh nhiễm này trong
nước tiểu của những người nhiễm không triệu chứng và ở mẫu lấy từ nội cổ tử
cung. Sử dụng những test này tạo thuận lợi cho pḥng chống bệnh nhiễm
Chlamydia. Những test không canh cấy cũng được sử dụng để chẩn đoán và điều
trị tại các pḥng mạch.
Liều duy nhất
điều trị Candida âm đạo
Liều duy nhất
fluconazol 150mg chứng tỏ hiệu quả tương đương như 3-7 ngày dùng azol đặt âm đạo
để điều trị viêm âm đạo do Candida. Fluconazol có giá thành tương đương như điều
trị tại chỗ và được phụ nữ dễ chấp nhận hơn.
Theo Scientific American Medicine, 10/1996;
New treatments and diagnotic tests for sexually transmitted disease
liên hệ giữa trị liệu bệnh cường giáp và tiến tŕnh bệnh
mắt graves
Liên hệ giữa
trị liệu cường giáp của bệnh Graves và tiến tŕnh bệnh mắt Graves là một vấn đề
c̣n tranh căi. Điều trị bằng thuốc kháng giáp dường như không làm tiến triển
hoặc xấu đi bệnh mắt có sẵn. Hiệu quả của cắt tuyến giáp th́ không rơ, nhưng nói
chung có lẽ nó cũng không gây hoặc làm xấu đi bệnh mắt sẵn có. Tác dụng của xạ
trị iod cũng không rơ; cải thiện nhăn cầu, làm bệnh mắt xấu đi và không thay đổi
ǵ đă được báo cáo trong nhiều nghiên cứu khác nhau. Với vấn đề này, các tác giả
thực hiện một tiền cứu, ngẫu nhiên để đánh giá tác dụng của trị liệu cường giáp
Graves bằng methimazol hoặc iod phóng xạ, cũng như tác dụng của glucocorticoid
trên BN có hay không có bệnh mắt Graves.
Phương pháp:
Nghiên cứu 443 BN mắc cường giáp Graves và kèm theo bệnh mắt nhẹ hoặc không có
bệnh mắt. Các BN được phân chia ngẫu nhiên để dùng iod phóng xạ, hoặc dùng iod
phóng xạ kèm tiếp theo 3 tháng prednison, hoặc dùng methimazol trong 18 tháng.
Đánh giá những thay đổi chức năng và diện mạo tuyến giáp cùng tiến tŕnh bệnh
mắt cách khoảng 1-2 tháng trong thời gian 12 tháng. Suy giáp và cường giáp dai
dẵng được điều chỉnh ngay nếu có.
Kết quả:
Trong số 150 BN đuợc điều trị iod phóng xạ, bệnh mắt xuất hiện hoặc xấu đi trên
23 BN (15%) sau 2-6 tháng điều trị: 15 BN có thay đổi tạm thời, nhưng có 8 BN
kéo dài cần điều trị bệnh mắt sau đó. Trong nhóm này, không thấy cải thiện trên
55 BN ban đầu có bệnh mắt.
Trong số 145 BN
được điều trị bằng iod phóng xạ và prednison có 50/75 BN có bệnh mắt ban đầu
được cải thiện và người nào có bệnh mắt th́ không thấy bệnh tiến triển. Tác dụng
của iod phóng xạ trên chức năng tuyến giáp tương tự nhau giữa hai nhóm này.
Trong số 148 BN
được điều trị bằng methi-mazol: 3 người có bệnh mắt ban đầu được cải thiện sau
điều trị, 4 BN có bệnh mắt trở nên xấu đi và c̣n lại 141 BN không thay đổi.
Kết luận:
Điều trị cường giáp Graves bằng iod phóng xạ khiến cho xuất độ bệnh mắt và bệnh
trạng của mắt xấu đi xảy ra nhiều hơn so với trị liệu bằng methimazol. Bệnh
trạng của mắt xấu đi sau khi dùng iod phóng xạ có thể ngăn ngừa bằng prednison.
Theo N Engl J Med 1998;338: 73-8
Relation between therapy for
hyperthyroidism and the course of Graves- ophtalmopathy
Bs Lê Anh Bá
so sánh giữa budesonid hít liều thấp cộng với theophyllin
và budesonid hít liều cao trong điều trị hen trung b́nh
Các
glucocorticoid hít và theophyllin uống được sử dụng rộng răi trong điều trị hen.
Công tŕnh này so sánh giữa những lợi ích của việc bổ sung thêm theophyllin vào
glucocorticoid hít và lợi ích của việc tăng gấp đôi liều glucocorticoid hít trên
những bệnh nhân hen có những triệu chứng dai dẵng dù đă dùng glucocorticoid hít.
Phương pháp:
Đây là một thử nghiệm mù đôi, có đối chứng giả dược trên 62 bệnh nhân được phân
chia ngẫu nhiên để dùng 400mg
budesonid hít (budesonid liều thấp) cộng với theophyllin 250 hoặc 375mg (tùy
theo thân trọng) hoặc dùng 800mg
budesonid hít (budesonid liều cao). Liều thuốc được chia dùng ngày hai lần trong
3 tháng. Đo lường chức năng phổi định kỳ và bệnh nhân tự ghi nhận lưu lượng đỉnh
thở ra, các triệu chứng và việc sử dụng albuterol. Tác dụng của việc điều trị
trên nồng độ cortisol nội sinh cũng được đánh giá.
Kết quả:
Cả hai phác đồ điều trị đều cải thiện chức năng phổi và điều trị vẫn giữ nguyên
suốt thời gian nghiên cứu. So với việc điều trị bằng budesonid liều cao, điều
trị bằng budesonid liều thấp cộng với theophyllin cải thiện nhiều hơn về dung
tích sống gắng sức (p=0,03) và thể tích thở
ra gắng sức trong một giây (p=0,03). Việc sử dụng chủ vận bêta 2 và độ biến
thiên của lưu lượng đỉnh thở ra giảm có ư nghĩa và giống nhau trong cả hai phác
đồ, có mối tương quan giữa tính tăng đáp ứng phế quản và độ nghiêm trọng của
hen.
Nồng độ
cortisol huyết thanh giảm có ư nghĩa ở nhóm dùng budesonid liều cao, từ trung
b́nh (+độ lệch chuẩn) là 18,4 + 2,4 mcg/dl xuống c̣n 15,9 + 2,1mcg/dl (p=0,02),
nhưng lại không đổi trong nhóm kia. Nồng độ (trung vị) theophyllin huyết thanh
là 8,7mcg/ml (phổ điều trị: 10 đến 20) trong số những người dùng theophyllin.
Kết luận:
Đối những bệnh nhân hen trung b́nh có triệu chứng dai dẵng, budesonid hít liều
thấp cộng với theophyllin hoặc budesonid liều cao đều cho những lợi ích tương
tự. Hiệu quả đạt được với nồng độ theophyllin dưới phổ điều trị. Việc bổ sung
theophyllin liều thấp thêm vào khí dung glucocorticoid có thể được ưa chuộng và
rẻ tiền hơn việc tăng gấp đôi liều glucocorticoid hít.
Theo N Engl J Med 1997; 337: 1412-8:
A
comparison of low-dose inhaled budesonide plus theophylline and high-dose
inhaled budesonide for moderate asthma
tác dụng của formoterol và budesonid hít trên
những cơn hen nặng thêm
Vai tṛ của các
chủ vận bêta 2 hít tác dụng kéo dài trong điều trị hen vẫn chưa chắc chắn. Đây
là một nghiên cứu mù đôi để đánh giá tác dụng của việc bổ sung formoterol hít
thêm vào glucocor-ticoid hít liều cao và liều thấp.-
Phương pháp:
Sau thời gian điều trị thử một tuần với budesonid (800mg ngày hai lần), 852 bệnh nhân được điều trị
với glucocorticoid đă được phân phối ngẫu nhiên vào một trong bốn phác đồ điều
trị dùng ống hít bột khô (turbuhaler) ngày hai lần: 100mg budesonid kèm giả dược;
100mg budesonid kèm 12mg formoterol; 400mg
budesonid kèm giả dược; hoặc 400mg
budesonid kèm 12mg
formoterol. Terbutalin được phép sử dụng khi cần thiết. Việc điều trị tiếp tục
trong một năm; So sánh tần số các cơn hen, triệu chứng và chức năng phổi giữa
bốn nhóm. Một cơn hen nặng được định nghĩa là khi có nhu cầu dùng glucocorticoid
uống hoặc có giảm lưu lượng đỉnh > 30% dưới giá trị cơ bản trong hai ngày liên
tiếp.
Kết quả:
Tỷ lệ các cơn hen nặng và nhẹ giảm lần lượt là 26% và 40% khi formoterol được
thêm vào với budesonid liều thấp. Budesonid liều cao đơn thuần làm giảm tỷ lệ
cơn hen nặng và nhẹ lần lượt là 49% và 37%. Các bệnh nhân điều trị bằng
formoterol và budesonid liều cao có sự thuyên giảm nhiều nhất - 63% và 62%. Các
triệu chứng hen và chức năng phổi được cải thiện với cả formoterol và budesonid
liều cao, nhưng sự cải thiện với formoterol th́ nhiều hơn.
Kết luận:
Ở những bệnh nhân có các triệu chứng hen dai dẵng dù đă điều trị với
glucorticoid hít, việc bổ sung formoterol vào trị liệu budesonid hoặc tăng liều
budesonid cao hơn đều có thể có lợi. Bổ sung formoterol vào việc trị liệu bằng
budesonid cải thiện triệu chứng và chức năng phổi mà không làm giảm khả năng
kiểm soát hen.
Theo N Engl J Med 1997; 337: 1405-11
Effect of inhaled formoterol and budesonide on exacerbations of asthma
So sánh
beclomethason, salmeterol và giả dược trên trẻ em bị hen
Glucocorticoid
hít hiện là loại thuốc được lựa chọn để kiểm soát lâu dài bệnh hen dai dẵng ở
trẻ em. Vai tṛ của chất chủ vận bêta 2 adrenergic tác dụng kéo dài như
salmeterol cũng cần xác định.
Phương pháp:
Đây là một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, nhóm song song, có đối chứng giả dược
đă được tiến hành trong một năm trên 241 bệnh nhân, tuổi trung b́nh (+độ
lệch chuẩn) là 9,3 + 2,4, với bệnh hen ổn định trên lâm sàng và có ít hơn
một tháng dùng glucocorticoid trước đó. Nghiên cứu này so sánh beclomethason
dipropio-nat (200mg ngày hai lần) với
salmeterol xinafoat (50mg
ngày hai lần) và giả dược (lactoz). Đo lường kết quả ban đầu về tính đáp ứng khí
đạo (đánh giá bằng cách thử thách với methacholin) trước khi điều trị; sau 3, 6,
9 và 12 tháng điều trị (12 và 36 giờ sau khi ngưng thuốc nghiên cứu); và 2 tuần
sau khi ngưng trị. Đồng thời đánh giá phế dung kư, triệu chứng, việc dùng thuốc
cấp cứu (200mg
albuterol khi cần thiết) và các tác dụng ngoại ư.
Kết quả
: Trong suốt thời gian từ tháng thứ 1 đến hết tháng 12, beclomethason làm giảm
có ư nghĩa tính tăng đáp ứng khí đạo so với salmeterol (p=0,003) hoặc- giả dược
(p<0.001). Tác dụng này bị mất đi sau vào 2 tuần sau khi ngưng điều trị.
Khi so với giả
dược, beclomethason ít có sự biến thiên về lưu lượng đỉnh thở ra giữa sáng và
chiều (p=0,002), cũng như vậy đối với salmeterol (p=0,02). Beclomethason cũng
làm giảm nhu cầu dùng albuterol như một thuốc điều trị cấp cứu (p<0,001) và ít
có các cơn hen sau ngưng thuốc (p=0,03); nhưng salmeterol th́ lại không có tính
chất này (lần lượt p=0,09 và p=0,55). Trong các tháng từ 1 đến 12, đường tăng
trưởng là 3,96cm ở trẻ dùng beclomethson, so với 5,40cm ở nhóm dùng salmeterol
(p=0,004) và 5,04cm ở nhóm dùng giả dược (p=0,018). Chiều cao không được đo sau
khi kết thúc điều trị.-
Kết luận
: Beclomethason có hiệu quả làm giảm tính tăng đáp ứng khí đạo và trong việc
kiểm soát triệu chứng bệnh hen, nhưng nó làm giảm tăng trưởng. Salmeterol không
hiệu quả bằng beclomethason trong việc làm giảm tính tăng đáp ứng khí đạo hoặc
kiểm soát triệu chứng; tuy nhiên, nó là một thuốc giăn phế quản hiệu quả và
không gây tính tăng đáp ứng khí đạo tái hồi (rebound), che lấp triệu chứng hoặc
các tác dụng ngoại ư.
Theo N Engl J Med 1997; 337: 1659-65
A comparison of beclomethasone, salmeterol, and placebo in children with
asthma
Bs Nguyễn Minh Tiến
KẾT QUẢ VÀ CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ bằng KHÁNG SINH THEO HƯỚNG
DẪN
CỦA HIỆP HỘI LỒNG NGỰC MỸ CHO BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ
BỊ VIÊM PHỔI MẮC PHẢI TRONG CỘNG ĐỒNG
Hiệp hội Lồng ngực Mỹ (ATS- American Thoracic Society) đưa ra
một hướng dẫn dùng thuốc dựa trên ư kiến của các chuyên gia và các dữ kiện đă
xuất bản về việc điều trị theo kinh nghiệm cho bệnh nhân người lớn ngoại trú bị
viêm phổi mắc phải trong cộng đồng.
Mục đích của nghiên cứu này là so sánh kết quả và chi phí
điều trị cho bệnh nhân dùng liệu pháp kháng sinh phù hợp hoặc không phù hợp với
hướng dẫn của ATS.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thuần tập tiền cứu,
đa trung tâm.
Địa điểm nghiên cứu : Pḥng cấp cứu, dưỡng đường,
pḥng mạch liên kết với 3 bệnh viện thuộc trường đại học, một viện trường cộng
đồng và một tổ chức bảo vệ sức khỏe.
Đối tượng: Tổng cộng 864 bệnh nhân người lớn ngoại trú
c̣n khả năng miễn dịch bị viêm phổi mắc phải trong cộng đồng: 546 người
- 60 tuổi không mắc bệnh ǵ
khác đồng thời và 318 người > 60 tuổi hoặc có mắc thêm 1 hoặc nhiều bệnh khác.
Đánh giá chính: Liệu pháp kháng sinh điều trị cho bệnh
nhân được phân thành 2 nhóm: (a) phù hợp với hướng dẫn của ATS, (b) không phù
hợp với hướng dẫn của ATS
So sánh 2 nhóm này về: tỉ lệ tử- vong, số phải nhập
viện, biến chứng, cải thiện triệu chứng, trở về làm việc lại và hoạt động thông
thường, chất lượng cuộc sống và chi phí của liệu pháp.
Kết
quả: Bệnh nhân ngoại trú tuổi
- 60 tuổi
không mắc bệnh ǵ khác đồng thời được cho dùng liệu pháp phù hợp với hướng dẫn
của ATS (nghĩa là erythromycine và vài ngọai lệ) th́ chi phí thấp hơn 3 lần
(5,43 USD so với 18,51 USD, p<0.001) và kết quả điều trị không khác nhau mấy.
Bệnh
nhân ngoại trú > 60 tuổi hoặc có mắc thêm đồng thời 1 hay nhiều bệnh khác được
cho dùng liệu pháp phù hợp với hướng dẫn của ATS (nghĩa là cephalosphorin thế hệ
2, sulfametho-xazole-trimethoprim, hoặc Bêta-lactam và ức chế Bêta-lactamase kèm
hay không kèm macrolide) th́ chi phí cao hơn gấp 10 lần (73,50 USD so với 7,50
USD, p<0,001). Mặc dù số tử vong và số phải nhập viện có khuynh hướng cao hơn
nhưng về kết quả điều trị th́ không ghi nhận sự khác biệt nào có ư nghĩa thống
kê.
Kết luận
: Phát hiện này khuyến khích dùng erythromycine như hướng dẫn của ATS cho bệnh
nhân ngoại trú
- 60 tuổi không mắc
bệnh nào khác đồng thời. Đối với bệnh nhân > 60 tuổi có kèm đồng thời 1 hay
nhiều bệnh khác th́ mặc dù chi phí có đắt hơn nhưng trong nghiên cứu này không
có bằng chứng nào về việc cải thiện kết quả điều trị ở một nhóm nhỏ sử dụng theo
liệu pháp được ATS khuyến cáo. ----------------------------------
Theo JAMA 1997, Vol 278, No.1, 32-39: Medical
outcomes and antimicrobial costs
with the use of the American Thoracic Society guidelines
for outpatients with community-acquired pneumonia.--------------------
BS Ngô Thị Yên
Y ĐỨC, HỆ GEN VÀ PHÔI LIỆU
PHÁP (Tiếp theo trang 96)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1)Blatt JR. Prenatal
Tests N.Y. Vintage Books, Random House, 1988.
2)Evans. Medical fetal
therapy,Fetal diagnosis and therapy. Science, Ethics and the Law. Phil.
Lippincott ed 1989;403.
3) Modell B. Ethical
aspects of genetic screening. An Med 1992
4) Powledge T.M et
Sollitto S. Prenatal diagnosis: The past and the future. Hastings centre report
1974, 4:11-1 --------- ---
5) Robertson J.A. Legal
issues in fetal therapy. Fetal diagnosis and therapy. Phil. Lippincott ed
1989:431.
6) Warnock. M. Ethical
challenges in Embryo manipulations. Brit. Med J 304:1045, 1992.
ĐIỀU TRỊ CAO HUYẾT ÁP- VÀ NGUY CƠ
HẠ ĐƯỜNG MÁu NGHIÊM TRỌNG Ở NGƯỜI LỚN TUỔI CÓ DÙNG INSULIN HOẶC SULFONYLUREAS
Thuốc chẹn bêta
và thuốc ức chế men chuyển (ƯCMC) là những tác nhân hạ huyết áp có hiệu quả ở
bệnh nhân đái tháo đường. Tuy nhiên, thuốc chẹn bêta làm suy yếu một vài thành
phần liên quan đến đáp ứng của cơ thể đối với hạ đường máu và có thể làm gia
tăng nguy cơ hạ đường máu. Thuốc ƯCMC có thể làm tăng tính nhạy cảm đối với
insulin và do đó khiến bệnh nhân dễ bị hạ đường máu.
Mục đích của nghiên cứu là xác định xem có phải việc dùng các thuốc:
chẹn bêta chọn lọc lên tim, chẹn bêta không chọn lọc, ƯCMC, lợi tiểu thiazid,
chẹn kênh Calci hay những thuốc hạ áp khác sẽ làm thay đổi nguy cơ hạ đường máu
trầm trọng ở người lớn tuổi dùng insulin hoặc sulfo-nylureas.
Phương pháp:
Nghiên cứu hồi cứu.
Đối tượng:
13.559 người lớn tuổi (tuổi trung b́nh = 78
-7 tuổi) trong danh
sách của Chương tŕnh Y tế Tennessee, có dùng insulin (5171 người, chiếm 38%)
hoặc sulfonylureas (8368 người, chiếm 62%) từ năm 1985 đến 1989.
Tiêu chuẩn
đánh giá: số bệnh nhân nhập viện, nhập pḥng cấp cứu và số tử vong do hạ
đường máu và xét nghiệm đường máu đồng thời <2,8 mmol/l (50 mg%) .
Kết quả:
Trong suốt thời gian nghiên cứu, có 598 người có cơn hạ đường máu trầm trọng.
+Tỉ lệ hạ đường
máu trầm trọng là 2,01 /100 người -năm ở nhóm không dùng thuốc hạ áp.
+Tỉ lệ thô hạ
đường máu trầm trọng đạt cao nhất ở nhóm dùng thuốc ƯCMC (2,47 /100 người- năm)
và thấp nhất ở nhóm dùng chẹn bêta chọn lọc (1,23 /100 người- năm).
Tuy nhiên khi kiểm chứng về đặc điểm nhân khẩu học và t́nh trạng mắc
bệnh khác đồng thời th́ không thấy có sự tăng hay giảm nào có ư nghĩa thống kê
về nguy cơ hạ đường máu trầm trọng ở các nhóm dùng thuốc hạ áp so với nhóm không
dùng.
Nghiên cứu một
nhóm tham khảo chỉ dùng thuốc chẹn bêta không chọn lọc th́ nhận thấy tác động
riêng rẻ của từng tác nhân hạ áp chỉ liên quan rất ít, và không có ư nghĩa thống
kê, đến nguy cơ hạ đường máu.
Kết luận:
Trong- nhóm dân số được nghiên cứu này, dùng thuốc hạ áp đặc hiệu chỉ gây ảnh
hưởng nhỏ đến nguy cơ hạ đường máu ở người lớn tuổi đái tháo đường. Nên chọn một
liệu pháp điều trị tối ưu dựa vào sự cân nhắc về độ an toàn và tính hiệu quả của
thuốc.
Theo JAMA 1997, Vol 278, No.1: Antihypertensives and the risk of serious
hypo-glycemia- in older persons using insulin or sulfonylureas.
------------------------------------------ BS.Ngô Thị Yên
SỬ DỤNG BENZODIAZEPINE VÀ NGUY CƠ TAI NẠN GIAO THÔNG
Ở NGƯỜI lớn tuổi
Dùng Benzodiazepin cho một nhóm người lớn tuổi có thể ảnh hưởng đến khả
năng lái xe và v́ thế làm gia tăng nguy cơ tai nạn giao thông. Những nghiên cứu
dịch tễ học về vấn đề này đă đưa ra những kết quả không giống nhau. Điều này có
thể do tác động của các thuốc Benzodiazepin có thời gian bán hủy dài ngắn khác
nhau và thời gian sử dụng thuốc cũng không giống nhau.
Mục đích của nghiên cứu là xác định xem việc sử dụng Benzodiazepine có
thời gian bán hủy dài hay ngắn th́ liên quan đến nguy cơ tai nạn giao thông ở
người trung niên.
Phương pháp
và địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu đối chứng lồng ghép trong thuần tập
224.734 lái xe ở tỉnh Quebec, Canada, tuổi từ- 67 đến 84, theo dơi từ năm 1990
đến 1993. Các số liệu xử lư trên máy vi tính trong nghiên cứu được thu thập từ
các hồ sơ lái xe ở tỉnh, các biên bản tai nạn giao thông của cảnh sát và các
bệnh án của bảo hiểm y tế.
Đối tượng
nghiên cứu : Xác định được 5579 lái xe có liên quan trong các tai nạn giao
thông gây chấn thương là nhóm bệnh và một mẫu ngẫu nhiên gồm 10 trường hợp đối
chứng cho mỗi trường hợp của nhóm bệnh thu thập từ thuần tập phụ 13.256 người.
Đánh giá
chính: Dựa vào sự liên quan của một thành viên là tài xế trong các tai nạn
giao thông có ít nhất 1 người bị thương (không nhất thiết là tài xế ).
Kết quả:
Tỉ suất nguy cơ OR điều chỉnh có liên quan đến tai nạn giao thông trong ṿng
tuần lễ đầu tiên dùng Benzodiazepin với thời gian bán hủy dài là 1.45 (95%
khoảng tin cậy: 1,04 - 2,03)
Tỉ suất nguy
cơ- của nhóm dùng thuốc liên tục trên 1 năm th́ thấp hơn một chút, nhưng vẫn c̣n
ư nghĩa thống kê (OR: 1,26; 95% khoảng tin cậy: 1,09 - 1,45)
Ngược lại,
không có gia tăng nguy cơ sau khi
bắt đầu điều trị với Benzodiazepin có thời gian bán hủy ngắn (OR: 1,04, 95%
khoảng tin cậy: 0,81 - 1,34) hoặc điều trị liên tục (OR: 0,91; 95% khoảng tin
cậy: 0,82 - 1,01)
Kết luận
: Thời gian tiếp xúc dài hay ngắn với Benzodiazepin có thời gian bán hủy dài đều
có liên quan đến nguy cơ gia tăng tai nạn giao thông ở người lớn tuổi. Không có
sự gia tăng này ở nhóm dùng Benzodiazepine có thời gian bán hủy ngắn.
------ Theo JAMA 1997, Vol 278, No.1, 27-31:
Benzodiazepine use and the risk of motor vehicle crash in the elderly
BS. Ngô Thị Yên.
RÚT KHỎI THỊ TRƯỜNG CÁC DƯỢC
PHẨM PHỐI HỢP BARBITURAT
Ủy Ban Dược Cảnh Giác của Pháp đă xem xét các báo cáo về
những phản ứng phụ liên quan đến việc dùng các dược phẩm phối hợp barbiturat (Atrium-/span>)
có chứa phenobarbital, febarmat và difebarmat để điều trị chứng lo âu nhẹ (viên
100mg) và các triệu chứng do cai rượu (viên 300mg).
Trong khoảng các năm 1986-1996, hệ thống theo dơi dược phẩm
Pháp cũng như công ty sản xuất đă nhận được 148 báo cáo về tổn thương gan do
dùng thuốc. Trong 60% các trường hợp, việc điều trị bằng thuốc giải lo âu đă
vượt quá thời gian giới hạn cho phép (12 tuần). Những trường hợp viêm gan, kể cả
cần phải ghép gan, cổ trướng hoặc xơ gan, suy tế bào gan và vàng da cũng như có
sự gia tăng lượng transaminaz hơn 10 lần giới hạn tối đa, chiếm một nửa các
trường hợp được báo cáo. Tỷ lệ tai biến vào khoảng 4,8/100000 trị liệu với 1,05
trường hợp phản ứng gan nghiêm trọng trên 100.000 điều trị.
Dựa vào kết quả đánh giá liên tục về tỷ lệ lợi ích /nguy cơ
của các báo cáo, loại thuốc viên phối hợp 100mg barbiturat đă bị rút khỏi thị
trường, c̣n loại thuốc 300mg chỉ được giới hạn trong điều trị hội chứng cai rượu
với liệu tŕnh ghi toa không quá 4 tuần.
RÚT KHỎI THỊ TRƯỜNG DƯỢC PHẨM PHỐI HỢP PARACETAMOL VÀ
METHIONIN
Hăng dược phẩm SmithKline Beecham đă quyết định rút dược phẩm phối
hợp paracetamol-methionin (Pameton-/span>)
khỏi các nhà thuốc v́ sử dụng quá nhiều methionin có thể đưa đến nguy cơ gây
bệnh tim mạch. Sản phẩm này chỉ được dùng cho các bệnh nhân có nguy cơ cao về
hành vi tự sát, chủ yếu là các bệnh nhân trong các bệnh viện tâm thần hoặc nhà
tù. Các dược phẩm cùng loại nhưng có hàm lượng methionin thấp hơn vẫn được lưu
hành trên thị trường.
TƯƠNG TÁC THUỐC VỚI TRIAZOLAM VÀ
ALPRAZOLAM
Các thông tin về việc kê đơn thuốc triazolam va-b>
alprazolam vừa được xem xét lại để lưu ư các rằng cả hai loại thuốc trên đều
được chuyển hóa qua đường cytochrome P450 3A (CYP 3A) và do đó chúng tương tác
với những dược phẩm và thực phẩm được chuyển hóa theo cùng con đường trên..
Triazolam không được dùng chung với ketoconazole,
itraconazole và nefazodole. C̣n alprazolam th́ tương tác với ketoconazole và
itraconazole.
Theo WHO drug Information Vol 11, No.2,1997.
ds Huỳnh Văn Nhiệm
Bệnh gan do thuốc
Gan là cơ quan chính chuyển hóa thuốc và
là nơi quan trọng chịu các phản ứng ngoại ư. Các phản ứng này có thể là những
bất thường nhẹ về test chức năng gan cho đến suy gan tối cấp và tử vong. Ủy Ban
về các Phản Ứng Phụ Thuốc của Úc (ADRAC)- đă đưa ra một danh sách các loại dược
phẩm thường có các phản ứng phụ trên gan hay gặp nhất- qua các báo cáo mà ADRAC
nhận được cho đến tháng 3/1996, như sau: Các số liệu trong bảng tùy thuộc vào
thời gian dược phẩm có mặt trên thị trường, sự phổ biến sử dụng, và bệnh cảnh
lâm sàng khi dùng thuốc.
Thuốc nghi- - Năm báo cáo-- Số báo cáo
-----
ngờ---------- đầu tiên----- (Số tử vong)-- ---------------
Flucloxacillin------------ 1980---- 435 (20)
Amoxycillin/potas--
-- sium-clavulanat---- 1987 ---- 314-
(9)
Erythromycin----------- 1972---- 223-
(4)
Carbamazepine-------- 1974---- 199- (7)
Methyldopa-------------- 1972---- 174-
(9)----
Trimethoprim-
-- Sulfamethoxazole-- 1973---- 140- (3)
Simvastatin-------------- 1990---- 139-
(5)
Diclofenac---------------- 1982---- 136-
(8)
Ranitidine---------------- 1981---- 122-
(7)
Phenytoin---------------- 1975---- 112-
(8)
Sulindac------------------- 1979----
102- (1)
Allopurinol--------------- 1975---- - 95
(15)
Rifampicin --------------- 1972---- - 92
(11)
.và các kháng sinh tiếp tục có liên
quan
Cho đến nay, flucloxacillin ( Flopen,
Floxapen, Flucil, Staphylex..) và các thuốc phối hợp amoxy-cillin với potassiun
clavulanate (Augmentin, Augmentin Forte, Clavulin.) rơ ràng là những dược phẩm
được báo cáo nhiều nhất về các phản ứng phụ gây ra trên gan. Các báo cáo có liên
quan đến flucloxacillin hiện giảm dần trong khi các báo cáo về
amoxycillin/clavulanate vẫn tiếp tục tăng cao, có lẽ là do việc sử dụng
fluclxacillin đă giảm đáng kể, trong khi amoxycillin/clavulanate vẫn được tiếp
tục sử dụng nhiều hơn. ADRAC- vẫn tiếp tục lưu ư là dược phẩm này không phải lúc
nào cũng được- sử dụng một cách hợp lư.
Bệnh gan có liên quan đến amoxycillin
/clavulanate hay gặp nhất là ứ mật và thường xuất hiện vài tuần sau khi ngừng
điều trị với thuốc này. Tuổi càng cao cho thấy là yếu tố nguy cơ. Phản ứng kéo
dài từ 5-6 tuần và mặc dầu bệnh gan do amoxycillin/clavulanate tương đối ít trầm
trọng hoặc không kéo dài bằng so với bệnh do flucloxacillin, nhưng tỷ lệ tử vong
cũng đáng kể và chiếm 9/309 trường hợp.-
Do đó, ADRAC lưu ư các bác sĩ chỉ kê đơn
amoxycillin/clavulanate trong trường hợp thật cần thiết, và đặc biệt thận trọng
khi kê đơn cho người lớn tuổi.
Theo ADRAC bulletin Vol.15, no.2 May 1996. (Bản thu qua- Internet)
DS Huỳnh Văn Nhiệm
LIỆU CÓ CHĂNG BỆNH AMÍP RUỘT KHÔNG LỴ-
Đau bụng mạn
tính và rối loạn tiêu hóa thường xuyên là những triệu chứng phổ biến của hơn 15%
những người có vẻ khỏe mạnh. Trong những vùng lưu hành
Entamoeba histolytica, các triệu chứng này thường được chẩn đoán là bệnh
amíp ruột không lỵ (non-dysenteric amoebiasis) cho dù vẫn chưa xác lập được mối
liên hệ nhân quả giữa các triệu chứng nói trên với E.histolytica và biểu
hiện lâm sàng của bệnh amíp ruột không lỵ và hội chứng kích thích đại tràng
(irritable bowel syndrome) cũng không khác biệt. Mục đích của nghiên cứu nhằm
đánh giá ư nghĩa lâm sàng của nhiễm E. histolytica trong mối quan hệ nhân
quả với các triệu chứng nói trên
Các bệnh nhân
có triệu chứng gợi ư bệnh amíp ruột không lỵ từ một cuộc điều tra đánh giá tỷ lệ
lưu hành của các triệu chứng ở bụng trong một quần thể dân số chung (nhóm A;
n=78), và từ bệnh- nhân ngoại trú (nhóm B; n=66), đă chọn đưa vào nghiên cứu.
Những người tham gia bao gồm nhóm có triệu chứng cũng như nhóm đối chứng không
có triệu chứng (nhóm C; n=100) đều được khám lâm sàng và xét nghiệm phân, làm
xét nghiệm huyết thanh học amíp, nội soi đại tràng, xét nghiệm mô bệnh học các
mẫu sinh thiết qua nội soi đại tràng và điều trị thử chống amíp (chỉ với những
người có triệu chứng) bằng metroni-dazole và mebendazole.
Kết quả cho
thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa 144 bệnh nhân có triệu chứng và 100
người không có triệu chứng thuộc nhóm đối chứng về tỉ lệ nhiễm E.histolytica
trong phân (26 [18%] so với 18 [18%]), về bằng chứng huyết thanh học nhiễm
E.histolytica (61 [42%] so với 41 [41%]), về các bất thường khi nội soi đại
tràng (5/66 so với 1/33), hoặc về các bất thường mô bệnh học (36/73 [49%] so với
10/33 [30%]).
Những người mà
kết quả xét nghiệm phân t́m nang E.histolytica dương tính lẫn âm tính đều
cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về kết quả huyết thanh học nhiễm
E.histolytica, cũng như những bất thường về mô học hoặc về đáp ứng với trị
liệu thử metronidazole.
Các tác giả đă
đề xuất một chẩn đoán hội chứng kích thích đại tràng dựa trên các tiêu chuẩn
thống nhất và chỉ số chẩn đoán Kruis ở 127 trong số 144 bệnh nhân có triệu
chứng. Chỉ có một bệnh nhân được chẩn đoán bệnh amíp ruột không lỵ và người này
lại có tái phát triệu chứng trong 6 tuần điều trị và do vậy, sự kiện tái phát đă
không đáp ứng được các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh bệnh amíp ruột không lỵ. Hơn
60% bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng kèm theo nang E.histolytica dương
tính cũng như âm tính đều có đáp ứng toàn phần hoặc từng phần với điều trị hội
chứng kích thích đại tràng.
Để kết luận,
các tác giả cho rằng các triệu chứng đại tràng mạn tính như đau bụng và rối loạn
tiêu hóa thường xuyên đều không có liên quan với việc nhiễm E.histolytica
trong quá khứ hoặc hiện tại. Hầu hết những bệnh nhân có các triệu chứng như vậy
rất có khả năng bị hội chứng kích thích đại tràng. Thực thể lâm sàng của bệnh
amíp ruột không lỵ, nếu có, chắc phải vô cùng hiếm.
Theo Lancet 1997; 349:89-92.
Does non-dysenteric intestinal amoebiasis exist-
Bs Lê Hùng Thái
T̀NH H̀NH NHIỄM HERPES
SIMPLEX VIRUS TƯP II Ở MỸ
TỪ NĂM 1976 ĐẾN NĂM 1994
Bệnh nhiễm
Herpes simplex virus tưp 2 (HSV-2) thường lây truyền qua đường t́nh dục, có thể
gây loét đau bộ phận sinh dục, và hay tái phát. Ở trẻ sơ sinh nhiễm HVS-2 có thể
gây tử vong. Các tác giả đă điều tra về tỷ lệ lưu hành huyết thanh và những mối
tương quan của nhiễm HVS-2 tại Mỹ, và ghi nhận những thay đổi về tỷ lệ lưu hành
HSV-2 huyết thanh từ những năm cuối của thập kỷ 70.
Phương pháp:
Thu thập các mẫu huyết thanh và số liệu thăm ḍ qua bảng câu hỏi của Chương
tŕnh khảo sát Quốc về Sức khoẻ và Dinh dưỡng (NHANES), đợt II từ năm 1976 đến
1980 và đợt III từ 1988 đến 1994. Đo lường kháng thể kháng HSV-2 qua thử nghiệm
miễn dịch đặc hiệu glucoprotein gG-2 của HSV-2.
Kết quả:
Từ năm 1988 đến 1994, tỷ lệ lưu hành huyết thanh HSV-2 ở những người Mỹ
- 12 tuổi, là 21,9% (95%
KTC: 20,2 - 23,6%) tương ứng với 45 triệu người trong dân chúng nhiễm bệnh. Tỷ
lệ lưu hành huyết thanh HSV-2 trong huyết thanh ở nữ (25,6%) cao hơn nam
(17,8%), và ở người da đen (45,9%) cao hơn người da trắng (17,6%). Chưa tới 10%
bệnh nhân với huyết thanh
dương tính có bệnh sử nhiễm herpes sinh dục.
Trong mô h́nh
nghiên cứu đa biến, cho thấy các dự đoán độc lập về huyết thanh HSV-2 dương tính
là giới nữ, chủng tộc da đen hay người Mỹ gốc Mêhico, người lớn tuổi, tŕnh độ
văn hóa thấp, nghèo, sử dụng ma túy và có nhiều bạn t́nh.
So sánh với
giai đoạn 1976 - 1980, tỷ lệ lưu hành huyết thanh HSV-2 sau khi điều chỉnh theo
tuổi đă tăng 30% (KTC95%: 15,8 -45,8%). Tỷ lệ lưu hành huyết thanh HSV-2 của
người da trắng tăng gấp 5 lần ở tuổi thiếu niên và gấp 2 lần ở tuổi 20. Đối với
người da đen và người da trắng lớn tuổi, tỉ lệ tăng ít hơn.
Kết luận:
Vào những năm cuối của thập kỷ 70, tỷ lệ lưu hành huyết thanh nhiễm HSV-2 đă
tăng 30%. Ngày nay, ở những người
-
12 tuổi trên toàn nước Mỹ, cứ 5 người dân th́ có 1 người bị nhiễm HSV-2. Điều
cần thiết là có biện pháp ngăn ngừa nhiễm HSV-2, đặc biệt những ổ loét sinh dục
tạo thuận lợi lây lan HIV.
Theo N. Eng L. J. Med. 1997; 337: 1105 - 11:
Herpes simplex virus type 2 in the United States, 1976 to 1994
BS. Lê Thiện Anh Tuấn
trắc
nghiệm kiến thức y học
T́m một câu trả lời đúng
1) Một người đàn ông 70 tuổi bị sốt và đau ngực trước do
viêm màng phổi, trước đó 3 tuần BN có cơn nhồi máu cơ tim nhưng không biến
chứng. Không thấy sóng Q mới trên điện tâm đồ và không thấy gia tăng enzym
CK-MB. Chẩn đoán nhiều khả năng nhất là:
A.
Tái nhồi máu cơ tim
B.
Hội chứng Dressler
C.
Viêm thùy phổi
D.
Chèn ép tim
E.
Viêm màng tim do siêu vi
2) Thiếu máu của suy thận mạn điển h́nh:
A.
Đáp ứng với erythropoietin
B.
Hồng cầu to
C.
Do thiếu sắt
D.
Thoáng qua
E.
Đáp ứng với DDAVP
3) Trong viêm bọng đái cấp không biến chứng, 90%
nhiễm trùng là do:
A.
Vi khuẩn Proteus
B.
Pseudomonas
C.
Vi khuẩn Klebsiella
D.
Escherichia coli
E.
Vi khuẩn Serratia
4) Ung thư dạ dày thường có di căn đến:
A.
Gan
B.
Phúc mạc
C.
Phổi
D.
Tuyến thượng thận
E.
Xương
5) Cơ chế tác dụng của sucrafate
trong điều trị lóet dạ dày là:
A.
Trung ḥa hydrochloric acid
B.
Ức chế tiết acid
C.
Kháng thụ thể H-2
D.
Kết dính với mô hạt
E.
Kích thích prostaglandin E
6) Điều trị tăng lipid bằng dẫn
xuất của fibric acid (như clofibrat) là chỉ định cho:
A.
Phụ nữ trẻ với
tiền căn gia đ́nh có bệnh tim
B.
Bất cứ đàn ông
nào có cao HDL-cholesterol
C.
Bệnh nhân đau
thắt ngực với triglycerid cao sau khi ăn
D.
Ở đàn ông có nồng độ apoprotein B thấp
E.
Đàn ông trung niên có nồng độ LDL-cholesterol rất cao
7) Bệnh cảnh nào sau đây đặc thù nhất trong tiểu đường tưp
II không lệ thuộc insulin
A.
Béo ph́ (thân trọng)
B.
Tuổi khởi phát luôn luôn dưới 30
C.
Nhiễm ceton (ketosis)
D.
Kháng thể tế bào tiểu đảo tuần hoàn
E.
Kết hợp với hiện tượng tự miễn
8) Nhuyễn xương (osteomalacia) trong suy thận mạn tính kết
hợp với:
A.
Calcium huyết thanh cao
B.
Phosphorus huyết thanh thấp
C.
Alkaline phosphatase huyết thanh cao
D.
Kích tố tuyến cận giáp thấp
E.
Nhược giáp
9) Một phụ nữ 60 tuổi có bệnh sử
liên tục 3 tháng nay thấy cứng, đau và sưng khớp xương đốt bàn tay-ngón tay thứ
hai và thứ ba của cả hai tay vào buổi sáng. Định bệnh đúng nhất là:
A.
Viêm khớp thấp xác định
B.
Khả năng xơ cứng b́
C.
Khả năng luput ban đỏ toàn thân
D.
Viêm khớp xương xác định
E.
Viêm khớp vẩy nến cổ điển
10) Sulphat nhôm thường được sử dụng
trong:
A.
Tinh khiết sữa
B.
Giảm ô nhiễm không khí
C.
Ngăn ngừa tác hại phóng xạ
D.
Xủ lư nước thải
E.
Tinh khiết nước
(Xem trả lời trang 111)
|