ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tai giữa cấp là bệnh thường gặp ở trẻ em. Nguyên nhân
của bệnh là do nhiễm khuẩn như: phế cầu, Hemophilus influenzae, tụ cầu...
Việc điều trị bằng kháng sinh họ Bétalactam nhóm A uống trong ṿng 10 ngày có
thể chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, nếu sử dụng bằng loại kháng sinh thuộc nhóm
céphalosporin thế hệ thứ 3 với liều một lần tiêm bắp mà đạt hiệu quả sẽ rút ngắn
thời gian điều trị. Mục đích của nghiên cứu này là so sánh hiệu quả giữa
ceftriaxon tiêm một lần và amoxicillin uống trong 10 ngày.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 năm 1996, và kéo dài
trong 18 tháng tại khoa Tai Mũi Họng BV Nhi Đồng 1. Đây là phương pháp mù đôi so
sánh giữa hai lô: lô CTRX dùng kháng sinh phổ rộng ceftriaxon và lô AMOX dùng
kháng sinh cổ điển amoxicillin.
1- Cỡ mẫu
:
Chọn bệnh dưới h́nh thức ngẫu nhiên một một chia đều cho hai
lô. Bệnh nhân đầu tiên sẽ đưa vào lô nào được quyết định dưới h́nh thức đồng xu
sắp ngửa. Trong nghiên cứu này, số liệu tính trên tai viêm. Một em bé bị viêm
tai giữa cấp một bên được kể là một tai, nếu bị viêm hai bên được coi là hai
tai.
Chọn mỗi lô có 100 tai để rồi
loại bỏ các trường hợp không đủ tiêu chuẩn nghiên cứu, sau cùng lô CTRX có 74
tai và lô AMOX có 78 tai. Tuổi của bệnh nhi là từ 6-tháng đến 15 tuổi. Tất cả
các bệnh nhi trong hai lô đều không phân biệt giới, tuổi, t́nh trạng xă hội, gia
cảnh, t́nh trạng nặng/nhẹ của bệnh viêm tai giữa cấp không thủng nhĩ. Các bệnh
nhi không được điều trị kháng sinh trước đó trong ṿng hai tuần.
2-- Dụng cụ:
Cả hai lô đều được khám và điều trị với dụng cụ khám thông thường tai mũi họng:
Đèn Clar, dụng cụ lấy ráy tai, máy hút, ống hút, đèn soi tai có bơm hơi
Seigle... Ngoài ra, các bệnh nhi của hai lô c̣n được đo nhĩ lượng đồ tai bệnh
với một máy duy nhất. Nếu tai nào cần phải lấy dịch mủ th́ được nhập viện, đưa
vào pḥng mổ, lấy vi khuẩn dưới gây mê Halo-thane nội khí quản.
3- Thuốc:
Cả hai lô đều được sử dụng thuốc giảm đau (Acétaminophen) 10mg/kg khi tai bị đau
hoặc em bị sốt trên 38o và thuốc bổ (Polyvit) một viên mỗi ngày trong
hai tuần đầu.
Trong lô CTRX: sử dụng thuốc ceftriaxon tiêm bắp 1 liều duy
nhất 40mg/kg.
Trong lô AMOX: sử dụng thuốc amoxicillin uống 75mg/kg/ngày
chia 3 lần/ngày, trong ṿng 10 ngày.
Ngoài ra, c̣n sử dụng giả dược: Trong lô CTRX bệnh nhi vẫn
phải uống giả dược Amox trong 10 ngày. Trong lô AMOX bệnh nhi cũng được tiêm giả
dược vào ngày đầu.
Phương pháp nghiên cứu mù đôi nên gia đ́nh của bệnh nhi không
biết con ḿnh thuộc lô nào. Nhân viên y tế không được biết bệnh nhi thuộc lô
nào. Duy chỉ có người phân tích số liệu là biết được bệnh nhi thuộc lô nào.
3- Bác sĩ:
Tất cả bác sĩ thuộc khoa tai mũi họng đều tham gia nghiên cứu này, không phân
biệt tay nghề. Để tôn trọng yếu tố ngẫu nhiên, bác- sĩ nào phát hiện được bệnh
th́ điều trị theo phác đồ đă định trước. Khi thấy cần lấy bệnh phẩm t́m vi
khuẩn, bệnh nhi được nhập viện để gây mê lấy bệnh phẩm.
4.- Tiêu chuẩn định bệnh: Các bệnh nhi từ 6 tháng đến
15 tuổi có các triệu chứng sau đây :
-Sốt trên 38o
(Nhiệt độ lấy ở nách + 0o5).
-Nhức tai: nếu bệnh nhi c̣n quá nhỏ, không thể chỉ được nơi
tai bị nhức, th́ sẽ lắc nhẹ vành tai bệnh, bệnh nhi khóc ré lên, hoặc bị đau.
-Dễ bị kích thích.
-Hai triệu chứng nghe kém và rối loạn tiêu hóa không đặc hiệu
không được kể là tiêu chuẩn định bệnh.

Khám :
Khám màng nhĩ :
-Thời kỳ sung huyết : Màng nhĩ đỏ , hoặc phồng, hoặc
lơm, tam giác sáng lệch, di động màng nhĩ có thể c̣n, có thể mất.
-Thời kỳ tụ mu-
Màng nhĩ vàng úa, mất tam giác sáng, có thể có bóng hơi có mức nước, di động
màng nhĩ mất hoặc rất yếu.
Khám tổng quát tai mũi họng.
5.- Tiêu chuẩn loại trừ:
-Bệnh nhân quá 15 tuổi.
-Thủng nhĩ.
-Đă điều trị bằng kháng sinh trước đó (dưới 2 tuần).
-Dị ứng với Amoxicillin hoặc Ceftriaxon.
-Không có triệu chứng của viêm tai giữa cấp.
-Không sử dụng thuốc theo phác đồ điều trị.
-Không tái khám đúng định kỳ.
6.- Tiêu chuẩn đánh giá điều trị: Chia làm 4 nhóm :
1.- Khỏi hẳn: Trong ṿng 2 tuần bệnh nhi không c̣n
triệu chứng của viêm tai giữa cấp, đồng thời nhĩ lượng đồ trở lại b́nh thường.
2.- Khỏi bệnh về mặt triệu chứng: Trong thời gian này,
về mặt triệu chứng lâm sàng bệnh nhi đă khỏi, nhưng về mặt nhĩ- lượng đồ bệnh
nhi c̣n ở dạng C1, C2, B.
3.- Không khỏi về mặt cận lâm sàng: Trong thời gian
này, bệnh nhi không c̣n triệu chứng lâm sàng, nhưng nhĩ lượng đồ vẫn c̣n ở dạng
B.
4.- Thất bại:
Sau 14 ngày, các triệu chứng lâm sàng vẫn c̣n tồn tại, hoặc bị thủng nhĩ.
KẾT QUẢ
1) Đặc điểm bệnh nhi (Bảng 1).
2) Kết quả thân nhiệt qua 7 ngày điều trị (Bảng 2).
3) Kết quả lâm sàng (Bảng 3).
4) Kết quả khỏi bệnh sau 2 tuần điều trị: Lô CTRX có 49 trường hợp và lô AMOX có 51 trường hợp (p >0,05).
BàN LUẬN
Trong viêm tai giữa cấp, kháng sinh uống được sử dụng từ 7
đến 10 ngày, nhưng hiệu quả chưa rơ ràng. Trước đó, nhiều tác giả đă chứng minh
kháng sinh uống vẫn có hiệu nghiệm với một thời gian sử dụng ngắn hơn,(7)
Hendrickse và cộng sự đă cho thấy cefaclor dùng trong 5 ngày vẫn có hiệu nghiệm
tương tự như dùng trong 10 ngày mà màng nhĩ vẫn không bị thủng.(4) Ở
Anh quốc, người ta đă nghiên cứu amoxicillin 2 ngày có tác dụng như 7 ngày. Tuy
nhiên, một nhóm tác giả(1)
đă cho biết- amoxicillin 1 liều duy nhất không đủ tác dụng để điều trị so với
nhóm dùng 10 ngày.
Ceftriaxon là một dược phẩm có một bán đời sống rất dài trong
huyết thanh cũng như trong các mô.(3) Fraschini và cộng sự (2)
đă đo nồng độ thuốc này trong ṿng 24 giờ sau khi tiêm bắp 1 liều 1g ở người
lớn. Nồng độ ở niêm mạc tai giữa không viêm là 6mg/g. Sau khi so sánh nồng
độ này với Mic (nồng độ ức chế tối thiểu) th́ nồng độ này chỉ thấp 0.1mg/ml đến 45 giờ sau khi
tiêm liều duy nhất. Như vậy, trong niêm mạc của viêm tai giữa cấp nồng độ này sẽ
cao hơn, v́ đây là mô viêm. Các tác giả đă nhận thấy rằng liều duy nhất CTRX có
thể sử dụng hiệu quả trong điều trị nhiễm trùng tai mũi họng.
Trong nghiên cứu này, so sánh điều trị viêm tai giữa cấp trẻ em giữa lô CTRX
(ceftriaxon liều duy nhất trên 74 tai) và lô AMOX (amoxicillin 10 ngày trên 78
tai), chúng tôi nhận thấy hiệu quả ở 2 lô như nhau. Số bệnh nhân khỏi tính đến
N14 vẫn đạt yêu cầu như nhau. Trong lô CTRX có 33 trường hợp bệnh kéo dài đến
ngày N21, N30 và N60.
Có tất cả 43 tai cần lấy vi khuẩn, nhưng trong 15 bệnh phẩm
không t́m ra vi khuẩn. Vi khuẩn có 4 loại, chủ yếu vẫn là Hémophilus
influenzae (19 tai) và phế cầu (4 tai). Về kháng sinh đồ, Hémophilus
influenzae có tỷ lệ kháng cao với cotrimoxazol trong cả 2 lô (7/8 trường hợp
ở lô CTRX và 8/11 ở lô AMOX). Nhưng với ampicillin, tỷ lệ kháng là 3/8 trường
hợp ở lô CTRX và 2/9 trường hợp ở lô AMOX. Đối với ceftriaxon, vi khuẩn
Hémophilus influenzae vẫn c̣n nhạy cảm (tỷ lệ kháng ở lô CTRX là 1/8 trường
hợp và ở lô AMOX là 2/11 trường hợp). Về vi khuẩn phế cầu, v́ số lượng quá ít
nên không thể so sánh giữa nhạy và kháng của vi khuẩn. Nếu so sánh ceftriaxon và
amoxi-clav đối với 2 vi khuẩn Hémophilus influenzae và phế cầu, nhận thấy
2 vi khuẩn này vẫn c̣n nhạy cảm in vitro đối với 2 loại kháng sinh trên.
-Trong lô AMOX có 1 trường hợp không khỏi và bệnh nhi bị
thủng nhĩ sau N5. Về nhĩ lượng đồ, nhận thấy chuyển dạng nhĩ lượng đồ rất chậm.
Thí dụ như trong lô CTRX, nhĩ lượng đồ ở dạng C2 chuyển sang dạng C1 là dưới
10%. Ngoài ra, dạng B cũng là dạng chuyển chậm sang các dạng khác. Trong lô
AMOX, dạng B và dạng C1 là dạng chuyển chậm cho đến N30. Đối với các dạng chuyển
chậm này, thời gian theo dơi kéo dài đến 60 ngày. Nếu tai bệnh vẫn giữ dạng B
đến N90, sẽ được tiến hành đặt ống nhĩ.
Trường hợp mặt màng nhĩ không chuyển biến tốt như ở lô CTRX
có 6/7 trường hợp màng nhĩ úa phải rạch màng nhĩ và đặt ống nhĩ. Trong lô AMOX,
có 3/5 màng nhĩ- úa phải rạch màng nhĩ. Như vậy có thể nói rằng trong giai đoạn
màng nhĩ úa có mủ, hai cách điều trị trên đều có khó khăn như nhau. Do vậy, vấn
đề quan trọng vẫn là phát hiện bệnh sớm, trong giai đoạn sung huyết, điều trị 1
liều hoặc 10 ngày cũng đều đem kết quả như nhau.
So sánh kết quả điều trị sau 2 tuần giữa hai lô, nhận thấy sự
khác biệt không có ư nghĩa thống kê (p>0,05) về khỏi bệnh, khỏi về mặt lâm sàng
và không khỏi về mặt cận lâm sàng.
KẾT LUẬN
Sau khi nghiên cứu tác dụng của ceftriaxon liều duy nhất tiêm
bắp 40mg/kg và amoxicillin 75mg/kg/ ngày trong 10 ngày trong điều trị viêm tai
giữa cấp, nhận thấy:
- Cả hai phác đồ đều có tác dụng
như nhau trong giai đoạn sung huyết.
- Trong giai đoạn tụ mủ tai giữa (màng nhĩ úa, mực nước, bóng
hơi), cả ceftriaxon và amoxicillin đều có khó khăn trong trị liệu. Các trường
hợp này cần được hỗ trợ với trích nhĩ và đặt ống nhĩ, hoặc được phối hợp thêm
các loại kháng sinh khác và đồng thời rửa và nhỏ kháng sinh vào ống tai. Màng
nhĩ tuy không c̣n úa nhưng thỉnh thoảng có một ít dịch chảy ra.
-
Điều trị viêm tai giữa cấp với kháng sinh, tuy có hiệu quả trong giai đoạn cấp
và tránh được thủng nhĩ, nhưng bệnh dễ chuyển sang viêm tai giữa thanh dịch.
Phải cần một thời gian khá dài để các dạng nhĩ- lượng đồ chuyển sang dạng nhẹ
hơn.
summary
Ceftriaxone vs amoxicilline for treatment of acute otitis
media without tympanic perforation in children
A double-blind, comparative study of the efficacy of 2 two
different antibiotic regimens in acute media was conducted at the ENT department
of the Children-s Hospital No
1 (HCMC) from 6/1996 to 12/1997. A total of 127 patients under 15 y.o. (152
cases) was enrolled.
Single IM dose of ceftriaxone (40mg/kg) plus 10-day oral placebo was given in 74
cases. A 10-day course of amoxicilline (75mg/kg/day) plus a single IM placebo on
the first day was given in 78 cases. Evaluation criteria were based on clinical
symp-toms
Results of this study showed that:
-Both regimens were of similar
efficacy during the congestion period of acute otitis media.
-Supportive measures (myringotomy, combina-tion of local
and/or other antibiotics.) were necesssary during the suppurative period.
-Serious otitis media should be predicted although an
effective antibiotherapy might be helpful to avoid a tympanic perforation.
tài liệu THAM KHẢO
1.- Bain J, Murphy E, Ross F. Acute otitis media: clinical
course among children who received a short course of high dose antibiotic. BMJ.
1985 ; 291 : 1243-1246.
2.- Fraschini F, Braga PC, Scarpazza G, et al. Human
pharmacokinetics and distribution in various tissues of ceftriaxone.-
Chemotherapy. 1986: 32; 192-199.
3.- Green SM, Rothrock SG. Single-dose ceftraxone for
acute otitis media in children. Pediatrics. 1993 ; 91 : 23-30
4.- Hendrickse WA, Kusmiesz H, Shelton S, et al.- Five vs.
ten days of therapy for acute otitis media. Pediatr Infect Dis J. 1988 ; 7:
14-23.
5.- Ingvarson L, Lundgren K. Penicillin treament of acute
otitis media in children: a study of the duration of treament. Acta Otolaryngol.
1982; 94: 283-287.
6.- Meistrup-Larson KI, Sorenson H, Johnsen NJ, et al. Two
versus seven days penicillin treament for acute otitis media.- Acta Otolaryngol.
1983; 96: 99-104.
7.- Nhan Trừng Sơn. Dùng cefapirine dự pḥng trong cắt
amiđan trẻ em. Thời Sự- Y Dược Học, 12/1996: 23-24.