ÐẶT VẤN ÐỀ
Vết thương phổi - màng phổi chiếm hơn 80%(18)
tổng số các vết thương ngực nói chung. Trong điều trị cấp cứu ngoại khoa một
tràn máu hay tràn khí màng phổi, ngoài phương pháp chủ yếu là dẫn lưu kín khoang
màng phổi, còn có 5 - 12% các trường hợp phải mở ngực để xử trí.(4, 12,13)
Nhằm góp phần nâng cao chất lượng chẩn
đoán và điều trị, chúng tôi nghiên cứu vết thương phổi - màng phổi đơn thuần
trong thời bình qua 199 trường hợp tại BV. Chợ Rẫy từ 1/1989 đến 3/1996 mà không
kèm theo các loại vết thương như tim, động mạch chủ hay tĩnh mạch chủ, thực
quản, cơ hoành (vết thương ngực - bụng).
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Ðối tượng và thời gian nghiên cứu:
-Tất cả các bệnh nhân (BN) nam và nữ nhập
viện tại khoa cấp cứu hoặc phòng khám BV.Chợ Rẫy vì vết thương phổi - màng phổi
(P-MP) với tiêu chuẩn như tổn thương giải phẫu ít nhất là thủng thành lá màng
phổi, đồng thời có thể kèm theo một hay nhiều tổn thương khác như đứt các mạch
máu thành ngực, rách nhu mô phổi - cây phế quản, vết thương các động hoặc tĩnh
mạch phổi, phế quản, vết thương ống ngực và các mạch máu vùng nền cổ-ngực cao,
kể cả những trường hợp tử vong ngay khi đến BV Chợ Rẫy. Thời gian nghiên cứu từ
1/ 1989 đến 3/ 1996.
Các tiêu chuẩn loại trừ:
-Các BN có vết thương P_MP nhưng có kèm
theo vết thương tim, động mạch chủ, thực quản, hoành.
Các yếu tố chẩn đoán:
*Chẩn đoán lâm sàng:
-Tính chất, kích thước vật thể gây thương
tích. Vị trí, số lượng vết thương, các tổn thương phối hợp khác.
-Xác định hội chứng ba giảm ở đáy
hay toàn bộ một bên phế trường hoặc cả 2 bên phế trường. Chọc hút khoang màng
phổi bằng kim 16-18G: xác định có máu hay dịch, là máu mới hay cũ.
- Hội chứng nhiễm trùng, sốc khi nhập
viện:
-
Nhiễm trùng: thân nhiệt, các biểu hiện nhiễm trùng toàn thân
và tại chỗ.
-
Chẩn đoán sốc theo 5 tiêu chuẩn của Wilson: chỉ cần 3/5 tiêu
chuẩn sau:
1.
Huyết áp tâm thu -
80mmHg
2.
Tưới máu mô kém: da rịn mồ hôi, lạnh, tím, cung lượng tim <
2,5 l/ phút / m2
3.
Lượng nước tiểu < 25ml / giờ
4.
Cần dùng thuốc để duy trì chức năng bình thường của tim,
thận, não.
5.
Nhiễm acid với tỉ lệ Bicarbonat
≤
21 mg/h và acid lactic máu ≥
15 mg /100ml
-Máu đông màng phổi: Tràn máu màng
phổi được dẫn lưu kín hoặc chọc hút khoang màng phổi mà phổi không nở và còn hội
chứng ba giảm. Hệ thống dẫn lưu kém hoặc không hoạt động, có thể do máu cục đi
từ ngực ra trong ống dẫn lưu. Chọc dò có máu- dịch thoái hóa hoặc máu cục ở đầu
kim. BN có thể có sốt.
*Cậ- lâm sàng: Quan trọng nhất là X
quang ngực thẳng sau- trước, khi có chỉ định đặc biệt mới chụp thêm các tư thế
khác. Xác định có tràn dịch hay khí trong khoang màng phổi với những mức độ: ít,
vừa, nhiều theo các tiêu chuẩn của Lê Cao Ðài.(5 ) Phân tích hình ảnh
X quang của máu đông màng phổi thành 3 nhóm:
1) Ðám mờ không đồng nhất, vẫn còn
thấy được bóng sáng nhưng không thực sự rõ của các xương sườn.
2) Ðám mờ đồng nhất theo kiểu tràn dịch.
3) Hình ảnh hỗn hợp.
Các hình ảnh khác: gãy xương sườn
hoặc đốt sống lưng, bề rộng các khoảng gian sườn hoặc trung thất trên, thay đổi
vị trí của khí - phế quản, bóng tim, xóa mờ các đường giới hạn của khí - phế
quản, bóng tim, tụ máu nhu mô phổi, dị vật trong lồng ngực và các bệnh lý phối
hợp khác.
Trong các trường hợp lâm sàng và X quang
chưa xác định chắc chắn có máu đông màng phổi, thực hiện siêu âm để phát hiện
khối máu đông, dịch, fibrin, giả mạc và màng phổi tân tạo.
-Ngoài ra còn thực hiện các xét nghiệm
khác như: Cấy vi trùng, kháng sinh đồ, công thức máu, chức năng đông máu, điện
tâm đồ...
Các phương pháp xử trí cấp cứu:
Ðiều trị bảo tồn, dẫn lưu kín khoang màng phổi, mở ngực cấp cứu.
Ðánh giá kết quả:
-Về lâm sàng:
-
Tốt: khỏi, không biến chứng.
-
Trung bình: nhiễm trùng vết mổ, vết thương.
-
Xấu: suy hô hấp, mủ màng phổi.
-
Tử vong.
-Về X quang:
-
Tốt: phổi nở hoàn toàn hoàn hoặc chỉ dày dính ở góc sườn
hoành.
-
Trung bình: dày dính dưới 1/3 phổi.
-
Xấu: dày dính trên 1/3 phổi, hoặc còn dịch ít trong khoang
màng phổi --
-Biến chứng: nhiễm trùng vết thương hoặc vết mổ, suy
hô hấp, dày dính màng phổi, mủ màng phổi, ..
-Kiểm định thống kê bằng
phép kiểm
c2 và Student, có
hiệu chỉnh Yates với các trị số
- 5.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
*Giới tính: 178 trường hợp nam
(89,91%), 21 trường hợp nữ (10,09%).
*Tuổi: (Bảng 1)
Bảng 1.Phân bố tuổi bệnh nhân
|
Tuổi
|
Số bệnh nhân
|
Tỉ lệ %
|
|
0 - 10
|
1
|
0,5
|
|
11 - 20
|
36
|
18,12
|
|
21 - 30
|
93
|
46,73
|
|
31 - 40
|
50
|
25,13
|
|
41 - 50
|
10
|
5,0
|
|
51 - 60
|
7
|
3,52
|
|
61 - 70
|
2
|
1,0
|
|
Tổng số
|
199
|
100
|
Tác nhân gây thương tích:
Bạch khí: Dao, lê, và các vật sắc
nhọn khác: 170 trường hợp, trong đó có 2 trường hợp (1,17%) dao còn cắm trên
ngực lúc nhập viện.
Hỏa khí: Ðạn và mảnh trái nổ: 29
trường hợp, trong đó đạn chột 9 trưòng hợp (31,03%), đạn xuyên: 15 trường hợp
(51,72%), mảnh trái nổ; 5 trường hợp (17,24%).
*Sốc: 50 trường hợp (42,02%). Sốc
có tác nhân hỏa khí là 21/50 (42%) và bạch khí là 29/50 (58%).
*Hội chứng ba giảm: thấy ở 111
trường hợp: ở đáy phổi là 92 trường hợp (46,23%) và một bên phổi là 36 trường
hợp (18,09%).
*Tất cả bệnh nhân đều có đau ngực.
3 trường hợp ho ra máu với lượng ít, trong thời gian 1 đến 3 ngày.
*Chọc dò chẩn đoán: thực hiện ở 99
BN:
-Với tràn dịch màng phổi (máu, dưỡng
trấp): 68 trường hợp bao gồm: dưỡng trấp (1 trường hợp); máu không đông (58);
máu đông ngay trong ống tiêm (3); hút không ra chất gì (6). Tỉ lệ dương tính là
57/68 (83,82%).
-Máu đông màng phổi là 31 trường hợp, bao
gồm: máu đen thoái hóa hoặc dịch vàng lẫn máu (12 trường hợp); hút được ít máu
cục ở đầu kim (3); hút không được gì (16).
*Vị trí vết thương: Ở vùng trước
bên là 143 trường hợp (67,34%). Ở lưng có 61 trường hợp (30,65%), và vết thương
2 bên phức tạp là 4 trường hợp (2,01%).
-Ngực trái: 111 trường hợp (55,78%). Ngực
phải: 84 trường hợp (42,21%) và hai bên ngực: 4 trường hợp (2,01%)
*Các tổn thương phối hợp khác:
-Vết thương phần mềm ở đầu mặt cổ: 19
trường hợp.
-Vết thương phần mềm khác: 24 trường hợp
-Liệt
dây thanh âm- --------- : 1 trường hợp
-Vết
thương thấu bụng----- : 1 trường hợp
-Vết
thương tủy sống------ -- : 2 trường hợp
-Vết
thương sọ não hở----- - : 1 trường hợp
-Chấn
thương sọ não kín- -- :- 1 trường hợp
-Gãy
xương đòn--------------- : 1 trường hợp
-Gãy
xương chi trên-------- -- : 2 trường hợp
-Gãy
xương đùi--------------- -- : 1 trường hợp
Ðặc biệt có 7 trường hợp tràn dịch
hoặc khí màng phổi với lượng ít, có tiến triển về lâm sàng và X quang, trong 24
giờ đầu: 5 trường hợp tràn máu màng phổi lượng vừa, 1 trường hợp tràn khí màng
phổi lượng vừa và 1 trường hợp tràn máu màng phổi lượng vừa phát hiện ở ngày thứ
2.
*Siêu âm chẩn đoán:
-Phát hiện máu đông màng phổi: 5 trường
hợp.
-Chẩn đoán vết thương mạch máu vùng nền
cổ: 3 trường hợp.
-Chẩn đoán loại trừ 2 trường hợp vết
thương tim: và giúp loại trừ 1 trường hợp vết thương ngực-bụng.
*Chỉ định và phương pháp điều trị:
- Theo dõi không can thiệp: 4 trường hợp.
- Chọc hút: 2 trường hợp.
- Dẫn lưu kín khoang màng phổi: 137 tr/
hợp.
- Mở lồng ngực xử trí: 56 trường hợp.
- Truyền máu hoàn hồi thực hiện ở 17
trường hợp với tổng số máu đã truyền là 12550 ml, trung bình mỗi bệnh nhân
truyền được 740 ml máu.
*Ðánh giá kết quả lâm sàng:
-
Tốt: 161 trường hợp (80,90%)
-
Trung bình: 29 trường hợp (14,57%)
-
Kém: 9 trường hợp (4,53%).
*Ðánh giá kết quả bằng X quang:
-
Tốt: 99 trường hợp (60,37%)
-
Trung bình: 57 trường hợp (34,76%)
-
Kém: 8 trường hợp (4,87%)
+Bảng 2: Các phương pháp phẫu thuật:
|
Phương pháp
|
Số lần thực hiện (%)
|
|
Tái tạo thành ngực
|
7 (9,86)
|
|
Lấy dị vật (một đầu đạn AK)
|
1 (1,41)
|
|
Khâu phổi
|
9 (12,68)
|
|
Cắt phổi không điển hình
|
5 (7,04)
|
|
Cắt thùy phổi
|
1 (1,41)
|
|
Lấy máu đông màng phổi
|
13 (18,31)
|
|
Lấy máu đông màng phổi +
Bóc vỏ màng phổi sớm
|
18 (25,35)
|
|
Thắt mạch máu
|
16 (22,53)
|
|
Khâu phục hồi thành mạch
|
1 (1,41)
|
|
Tổng số
|
68 (100)
|
*Biến chứng và tử vong:
Có 75 trường hợp biến chứng:
- Nhiễm trùng vết thương / vết mổ:- 24
trường hợp (16,08%).
- Dày dính màng phổi: 37 trường hợp
(18,59%).
- Mủ màng phổi: 9 trường hợp (4,52%).
- Suy hô hấp : 4 trường hợp (2,01%).
- Xẹp phổi: 1 trường hợp (0,50%)
- Tử vong:- 5 trường hợp (2,51%).
BÀN LUẬN:
Tỉ lệ vết thương P-MP trong cấp cứu vết thương thấu ngực:
Trong thời gian nghiên cứu, có 199 vết
thương P-MP trên 305 trường hợp vết thương thấu ngực (65,25%), trên 687 trường
hợp cấp cứu chấn thương và vết thương thấu ngực (28,97%) và chiếm 20,49% tổng số
các trường hợp cấp cứu về Ngoại Lồng ngực và Tim - Mạch tại BV.Chợ Rẫy. Do phổi
chiếm thể tích lớn nhất trong lồng ngực nên tỉ lệ vết thương P-MP / vết thương
thấu ngực vết thương thấu ngực trong các báo cáo thường là cao: Theo Nguyễn
Thấu,(14) tỷ lệ này là 73% (72/92). Ðồng Sĩ Thuyên và Nguyễn Văn
Thành(17): báo cáo tại chiến trường Tây Nam 1978, có tỷ lệ là 56%.
Tác nhân gây thương tích trong thời
bình tại Việt Nam:
Trong nghiên cứu này, thương tích do dao
chiếm 67,34%, do các vật sắc nhọn khác chiếm 18,09%, và do hỏa khí chỉ chiếm
14,57%. Tại các nước Âu - Mỹ cho thấy trong thời bình số nạn nhân do đạn bắn vẫn
chiếm đa số: Theo Guiraudon G.(9) có 20 trường hợp bị đạn bắn trong
32 vết thương phổi - màng phổi. Siemens R.(11) có 77 % do hỏa khí
trong 125 vết thương thấu ngực.
Tình trạng sốc trong cấp cứu vết thương
P-MP:
BN vào viện trong tình trạng sốc
là 50 trường hợp. Có 24 trường hợp sốc mất máu (48%) có kèm theo các tổn thương
khác như vết thương- chấn thương sọ não, bụng, gãy xương, vết thương thấu bụng.
Sốc mất máu đơn thuần do vết thương P-MP là 17 trường hợp (34%). Bảy trường hợp
(14%) vết thương ngực hở rộng đều có sốc. Sốc trong tràn khí màng phổi với lượng
nhiều là 2 trường hợp (4%), do lượng khí nhiều gây đẩy lệch, chèn ép vào trung
thất và phổi bên lành làm rối loạn tuần hoàn, hô hấp.
Chẩn đoán:
Trong chẩn đoán, nhận thấy có 7 trường hợp
(3,52%) lúc mới nhập viện không có tràn khí hoặc máu màng phổi, nhưng trong vòng
24 giờ đầu đã tiến triển thành tràn máu màng phổi với lượng vừa (5 trường hợp),
tràn khí màng phổi lượng vừa (1 trường hợp), và 1 trường hợp tràn máu màng phổi
lượng vừa được phát hiện ở ngày thứ 2. Như vậy, dù chẩn đoán lúc mới nhập viện
không có tràn khí / máu màng phổi, vẫn nên theo dõi thêm 24-48 giờ nhằm phát
hiện các tiến triển có thể xảy ra. Theo Kerr T.M,(10) một vết thương
thấu ngực tiến triển từ không thành có tràn khí hoặc máu màng phổi thường xảy ra
trong 6 giờ đầu, nếu sang ngày thứ hai mới được phát hiện thì thường là nhẹ.
Trong trường hợp tràn khí màng phổi kéo
dài quá 48 giờ sau khi dẫn lưu kín có hút liên tục, nạn nhân có thể bị rách phổi
rộng hoặc tổn thương khí phế quản. Theo Wisner D.H.(21)
nên xác định chẩn đoán bằng nội soi mềm khí- phế quản. Nghiên cứu này chưa có
điều kiện triển khai kỹ thuật này.
Những tổn thương rách phổi chảy máu, đứt
động mạch vú trong, đứt động mạch liên sườn có chỉ định mở ngực đều được xác
định trong lúc mổ.
Ba trường hợp vết thương vùng nền cổ xuyên
thấu vào khoang màng phổi và gây tổn thương mạch máu vùng này được chẩn đoán sau
mổ. Ðó là vết thương tĩnh mạch cảnh gốc, tĩnh mạch dưới đòn, động mạch- tĩnh
mạch dưới đòn. Ngoài lâm sàng và X quang ngực thẳng, dùng siêu âm mạch máu để
chẩn đoán. Nhưng không phải vết thương cổ- nền cổ nào cũng có thể gây tràn máu
khoang màng phổi. Lê Ngọc Thành và Tôn Thất Bách(15) báo cáo 16
trường hợp vết thương mạch máu cổ-nền cổ nhưng không có trường hợp nào tràn máu
màng phổi. Blass D.C.(1) trong 51 trường hợp vết thương vùng cổ-nền
cổ có 8 vết thương mạch máu. Ðể chẩn đoán, tác giả còn đề nghị chụp động mạch
giúp phát hiện vị trí mạch máu bị thương tổn. Trong loạt này, lâm sàng là định
hướng tổn thương, cộng với siêu âm mạch máu có thể chẩn đoán tương đối chính xác
tổn thương để có chỉ định mổ thám sát, mặc dù chụp động mạch cấp cứu là cách tốt
nhất xác định tổn thương mạch máu.(18,19)
Ðể chẩn đoán máu đông màng phổi hay máu
cục trong khoang màng phổi ở 31 trường hợp, dựa vào biểu hiện lâm sàng, vết
thương P-MP được xử trí ban đầu như khâu kín vết thương sau khi cắt lọc, dẫn lưu
kín khoang màng phổi 1 hay nhiều lần mà phổi không nở. Trong truờng hợp hút
không được chất gì, cũng không thể loại trừ chẩn đoán vì có thể chọc vào vùng
trống. Vì vậy cần phối hợp với các triệu chứng khác trước khi loại trừ hoàn toàn
chẩn đoán máu đông màng phổi.
Chỉ định điều trị:
- Mở ngực cấp cứu trong loạt này là 56
trường hợp (28,14%). Nhận thấy tỉ lệ mở ngực của nghiên cứu này tương đương một
số tác giả như- Guiraudon G:(9)- 27,27 % ; Lammour A:(8)
30%; Nguyễn Hải Yến:(20) 25,2%. Theo tác giả này, tỉ lệ mở ngực cao
do viện quân y 175 là tuyến cuối, nhận thương binh đa số là nặng, số thương binh
đến muộn nên số bệnh nhân mở ngực lấy máu cục trong khoang màng phổi còn cao.
Chúng tôi cũng có nhận định tương tự. BV Chợ Rẫy là tuyến cuối có chuyên khoa
ngoại lồng ngực, thường phải tiếp nhận các trường hợp nặng từ nơi khác chuyển
đến. Trong đó, tỷ lệ bệnh nhân mở ngực lấy máu cục chiếm 55,56%.
Ðiều trị:
Phương pháp dẫn lưu kín được áp dụng đúng
nguyên tắc: ống dẫn lưu có kích thước lớn (thường dùng ống Argyl số 28 để dẫn
lưu khí và số 32 hoặc 34 để dẫn lưu máu), hệ thống dẫn lưu kín, hút liên tục
theo một chiều là điều kiện đảm bảo kết quả điều trị cho đa số bệnh nhân
(68.84%).
Kết luận
Summary:
Diagnosis and treatment of pleuro - pulmonary wounds.
From 1/1989 to 3/1996, at the
Department of Cardiovascular and Thoracic Surgery of Cho Ray Hospital, 199
emergency cases of pleuropulmonary wounds were cured. The stab wounds: 85.43%,
gunshot wounds: 14.57%. The conservative therapy:- 6 cases (3.02%), closed chest
tube thora-costomy: 137 cases (68.84%), thoracotomy: 56 cases (28.14%).
Ultrasound were used in diagnosis of- base neck vascular lesions (3 cases),
clotted hemothorax (5 cases), exclusion of cardiac lesion and thoraco-abdominal
wound (3 cases). Major complications were fibrothorax (18.59%), infec-tion of
wound incision (16.08%), empyema (4.52%). Mortality were- 2.51% (5 cases).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Blass D.C. & James E.C.:- Penetrating wounds of the
neck and upper thorax.j. Trauma 1978 ,18:- 2 - 7.
2..Collins M.P.: early decortication after thoracic
trauma. Arch. Surgery 1978 1978, 113:- 810 - 812.
3.Graham J. M. & Mattox K.L.:- Penetrating trauma of the
lung.j.trauma 1979,19:
4.Nguyễn Khánh Dư:- Nhân 135 trường hợp vết thương chiến
tranh lồng ngực. Nội san bv. Chợ
Rẫy 1978, 2:- 48 - 56.
5. Lê Cao Ðài, Nguyễn Thấu & Ðồng Sĩ Thuyên:- vết thương
phổi-màng phổi. Chấn thương ngực. nxb yh Hà Nội 1981, 88 - 115.
6.Lê Cao Ðài:- Vết thương thấu ngực ở chiến trường tây
nguyên và liên khu 5. Tổng kết kinh nghiệm xử trí vết thương chiến tranh. Cục
quân y, Hà Nội 1984, 102 - 111.
7. Garramone R.R. & Jacobs L.M.:- an objective method to
measure and manage occult pneumothorax. Surg.gynecol & obstet 1991, 173:- 257 -
261.
8. Lamour A., Azorin J., Lapandry C. & Hong Ph.:- Plaies
thoraciques: Attitudes therapeutiques à propose de 77 cas. Chirurgie 1987, 24:-
293 - 298.
9.Guiraudon G., Ettievent J.P. & Cuosin M.T.:- les plaies
pulmonaires.chirurgie 1978, 104:- 672 - 678.
10.Kerr T.M.:- Prospective trial of the six hour rule in
stab wounds of the chest. Surg.Gynecol & Obstet.1989, 169: 223-5
11. Siemens R., Polk H.C., Gray L.A.: Indication for
thoracotomy following penetrating thorax J.Trauma 1982, 17: 493-500.
12.Phạm Biểu Tâm & Văn Tần: vết thương và chấn thương ngực
- bụng. Sinh hoạt KHKT bv. Bình
Dân 1983,2:48 - 55.
13.Nguyễn Thấu & Phạm Công Dương:- Ðiều trị 106 vết thương
ngực trong chiến tranh ở phía bắc. Ngoại khoa 1980,4:13-17
14. Nguyễn Thấu: Vết thương lồng ngực trong chiến tranh.
Ngoại khoa 1973, 3: 60 - 67.
15..Lê Ngọc Thành & Tôn Thất Bách: Thái độ xử trí vết
thương mạch máu vùng cổ - nền cổ. Ngoại khoa 1993, 4:- 1 - 6.
16. Ðồng Sĩ Thuyên: Nhân 220 vết thương thấu ngực. Ngoại
khoa 1979, 6: 177 - 182.
17. Ðồng Sĩ Thuyên & Nguyễn Văn Thành:- Vết thương phổi -
màng phổi ở chiến trường biên giới tây - nam (qua 324 trường hợp). Tổng kết kinh
nghiệm xử trí vết thương chiến tranh. Cục quân y, hà nội 1984, 14 - 19.
18. Ðồng Sĩ Thuyên:- Vết thương phổi - màng phổi. Kinh
nghiệm xử trí vết thương chiến tranh. Học viện quân y, Hà Nội 1989, 209 - 230.
19. Ðồng Sĩ Thuyên: Vết thương phổi - màng phổi. Bệnh học
ngoại khoa. nxb y học
Hà Nội 1987, 46 - 66.
20. Lê Cao Ðài, Nguyễn Thấu & Ðồng Sĩ Thuyên: Xử trí kỳ
đầu 630 vết thương thấu phổi do hỏa khí tại viện quân y 175. Tổng kết kinh
nghiệm xử trí vết thương chiến tranh. Cục quân y, Hà Nội 1984, 30 - 40.
21.Wisner D.H.:- Trauma to the chest. Sabiston D.C. &
Spencer F. C.:- Surgery of the chest. W.b. Saunders company.sixth edition 1995,
vol 1: 456 - 493