ÐẶT VẤN ÐỀ
Dấu hiệu co ngắn mi trên (lagophtalmie),
thường gặp trong một loạt bệnh lý toàn thân hay tại chỗ (lồi mắt trong Basedow,
u hậu nhãn cầu, liệt mặt, chấn thương và nhiễm trùng mi trên...) mà nguyên nhân
do sự mất cân bằng đối kháng giữa cơ nâng mi trên và cơ vòng mi. Hậu quả là một
loạt những rối loạn về hình thái học của mắt, rối loạn về điều tiết của tuyến
lệ, ảnh hưởng đến giác mạc và thị lực, cũng như những thay đổi tâm lý của bệnh
nhân. Trong phạm vi của nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đề cập tới một số kinh
nghiệm phẫu thuật tạo hình co ngắn mi trên do tăng tác dụng đơn thuần của cơ
nâng mi ở một số bệnh lý như sau phẫu thuật sụp mi, sau viêm nhiễm mi, sau chấn
thương.
ÐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1/ Giải phẫu và sinh lý cơ nâng mi trên:
Cơ nâng mi (m. releveur) do thần kinh số
III chi phối, một đầu là cân bám vào mặt trước của sụn mi, ngoài ra cho một vài
chẽ cân bám vào tổ chức dưới da vùng trước sụn để tạo thành nếp mi trên, một đầu
cơ bám trên màng xương của xương bướm. Tác dụng của cơ này là kéo sụn mi lên
trên cùng với toàn bộ khối mi trên. Ngoài ra cơ Muller do thần kinh thực vật chi
phối cũng hỗ trợ tác dụng cho cơ nâng mi. Cơ đối kháng với cơ nâng mi là cơ vòng
mi (m. orbiculaire palpébral) có tác dụng khép mi mắt. Tất cả các nguyên nhân
gây nhược cơ vòng mi hoặc tăng trương lực cơ nâng mi không bù trừ đều dẫn đến co
ngắn mi trên. Ở trạng thái mắt nhìn thẳng, bờ tự do của mi trên che phủ một phần
giác mạc và cách rìa giác mạc khoảng 2 mm. Chức năng của cơ nâng mi trên được
xác định bằng biên độ chuyển động của mi trên giữa hai tư thế nhìn xuống thấp
nhất và cao nhất sau khi loại bỏ tác động của cơ trán. Chức năng của cơ nâng mi
được coi là bình thường khi biên độ chuyển động khoảng 12 - 15 mm. Khi chức năng
cơ nâng mi bình thường mà bờ mi trên nằm sát rìa giác mạc thì đều được coi là
tăng trương lực cơ nâng mi trên.
2/ Ðối tượng nghiên cứu:
Bao gồm 12 bệnh nhân (BN) đưọc chẩn đoán
co ngắn mi trên- do tăng trương lực đối kháng cơ nâng mi, và được vào điều trị
tại Trung tâm Phẫu thuật tạo hình Hà Nội từ tháng 6/1996 đến tháng 3/1998.
3/ Phương pháp nghiên cứu:
a. Lựa chọn BN: chúng tôi chỉ chọn
những BN có những tiêu chuẩn về lâm sàng như sau:
- Chức năng cơ nâng mi bình thường (biên
độ chuyển động mi trên lớn hơn 10 mm).
- Bờ tự do mi trên không che phủ một phần
giác mạc hay nằm ngay trên rìa giác mạc.
- Không có dấu hiệu lồi mắt trong bệnh
cảnh của Basedow.
- Không có dấu hiệu của các khối u vùng
hậu nhãn cầu.
- Không có tổn thương vùng da mi trên như
sẹo bỏng, sẹo co kéo...
- Không có dấu hiệu liệt mặt.
b. Kỹ thuật: Tiến hành các kỹ thuật
làm dài cơ nâng mi trên như sau:
- Dưới vô cảm tại chỗ bằng lidocain 1%,
rạch da theo nếp mi trên, bộc lộ cơ vòng mi vùng trước sụn mi. Sau khi bộc lộ bờ
trước sụn mi, bóc tách cơ nâng mi khỏi mặt trước trên sụn cũng như cơ Muller
phía sau, vách ổ mắt ở phía trước.
- Cơ nâng được cắt theo một trong hai kiểu
sau: hoặc cắt theo hình bậc thang dọc theo hai cánh cơ nâng mi (hình 1), hoặc
cắt theo hình răng cưa theo chiều ngang của cơ nâng mi (hình 2).
- Trong một số trường hợp, sử dụng
kết hợp một bản chất tổng hợp polyurethane kích thước 20 mm x 3 mm x 1 mm đệm
vào giữa cơ nâng mi và sụn mí.
- Tạo hình nếp mi bằng các mũi chỉ bằng
nylon 6.0 theo chiều da - mạc sụn - da.
- Cố định mi trên vào mi dưới bằng một mũi
chỉ trong 48 giờ.
KẾT QUẢ
Thực hiện kỹ thuật kéo dài cơ nâng mi trên
12 BN từ 19 đến 38 tuổi (8 nữ và 4 nam). Tất cả các BN chỉ bị co ngắn mi một bên
mắt, trong đó tỷ lệ mắt bệnh của mắt phải/ mắt trái là 5/7.
Nguyên nhân tổn thương bao gồm: 3 trường hợp do viêm nhiễm vùng mi mắt trên
trước đó 6 - 7 năm, 4 trường hợp sau phẫu thuật cắt ngắn cơ nâng mi trong bệnh
sụp mi bẩm sinh trước đó trên 1 năm, 1 trường hợp do chấn thương vùng mi trên, 4
trường hợp không tìm được nguyên nhân, triệu chứng duy nhất được phát hiện là
tình trạng co ngắn của mi trên. Mức độ co ngắn mi trên ở các BN như sau:
Bảng 1: Mức độ co ngắn mi trên
|
Mức độ co mi (bờ mi -rìa
giác mạc)
|
Nguyên nhân
|
|
|
Viêm nhiễm (n)
|
sau phẫu thuật (n)
|
Sau chấn thương
|
Không rõ (n)
|
|
|
|
|
0 mm
|
-
|
-
|
-
|
1
|
|
|
1 mm
|
1
|
1
|
1
|
-
|
|
|
2 mm
|
2
|
2
|
-
|
2
|
|
|
Trên 2 mm
|
-
|
1
|
-
|
1
|
|
Phẫu thuật kéo dài cơ nâng mi theo
kiểu bậc thang được thực hiện cho tất cả BN có mức độ co ngắn mi- dưới 2 mm (6
BN). Với 4 BN có độ co ngắn mi khoảng 2 mm, chúng tôi kéo dài cơ theo hình răng
cưa. Riêng hai trường hợp mức độ co mi lớn, kết hợp cơ nâng mi với ghép một bản
poly-urethane giữa sụn mi và cơ nâng mi.
Kết quả đưọc đánh giá vào ngày thứ 7 và
tháng thứ 3 sau phẫu thuật. Chỉ tiêu về vị trí của bờ mi trên với rìa giác mạc,
hình thái nếp mi trên, và sự chảy nước mắt được coi là những tiêu chuẩn chính để
đánh giá kết quả phẫu thuật.
Kiểm tra 12 trường hợp sau 3 tháng, nhận
thấy 8 trường hợp cho kết quả tốt với bờ mi trên ở vị trí hoàn toàn bình thường,
không có hiện tượng hở khe mi khi nhắm mắt. Riêng một trường hợp co ngắn mi trên
sau phẫu thuật sụp mi, kết quả hầu như- ít thay đổi so với trước khi phẫu thuật
kéo dài cơ nâng mi. Mặt khác, trên BN này có đặt một bản polyurethane ở sau cơ
nâng mi, sau phẫu thuật 1 tháng BN thấy xuất hiện cộm và nề kéo dài mi mắt bệnh,
chúng tôi đã phải phẫu thuật lấy bỏ bản polyurethane theo đường kết mạc.
Bảng 2: Kết quả phẫu thuật kéo dài cơ nâng mi
|
Mức độ co mi (bờ mi - rìa giác mạc)
|
Nguyên nhân
|
|
Viêm nhiễm
|
sau phẫu thuật
|
Sau chấn thương
|
Không rõ
|
|
-2 mm
|
2
|
2
|
1
|
3
|
|
-1 mm
|
1
|
1
|
-
|
1
|
|
0 mm
|
-
|
-
|
-
|
-
|
|
> 1 mm
|
-
|
1
|
-
|
-
|
BÀN LUẬN
Chuyển động của mi mắt trên phụ thuộc vào
sự tác dụng hợp đồng giữa hai nhóm cơ khép và mở mi mắt. Khi thức, trương lực
của cơ nâng mi mạnh hơn so với cơ vòng mi, hiện tượng này bị đảo ngược khi ở
trạng thái ngủ. Trong một số bệnh lý, cân bằng đối kháng giữa hai nhóm cơ mi bị
thay đổi, hậu quả là xuất hiện tình trạng sụp mi hay co ngắn mi tùy theo ưu thế
của cơ vòng mi hay cơ nâng mi. Co ngắn mi trên do tăng trương lực cơ nâng mi có
thể được điều trị bằng nhiều kỹ thuật khác nhau: kéo dài cơ nâng mi, tăng lực
đối kháng với cơ nâng mi bị động (ghép da, ghép sụn, ghép mảnh kim loại ở vùng
sụn...), tăng lực đối kháng với cơ nâng mi chủ động (chuyển cơ thái dương hay
ghép cơ tự do, ghép thần kinh bằng kỹ thuật vi phẫu).
Kéo dài cơ mi trên được coi là một kỹ
thuật tương đối đơn giản và cho hiệu quả cao với những trường hợp do viêm nhiễm
mi cũ, do chấn thương vùng mi, hoặc không do liệt thần kinh. Theo
chúng tôi, cắt cơ nâng mi theo hình bậc thang thích hợp nhất đối với các trường
hợp co ngắn mi dưới 1 mm, ngược lại cắt theo kiểu răng cưa được áp dụng cho
những BN có tiền căn phẫu thuật sụp mi hay co ngắn mi trên 2 mm. Một ưu điểm của
kiểu cắt răng cưa là có thể đồng thời tiến hành một lúc cắt một phần bờ trên sụn
để giảm tăng trương lực của cơ nâng mi trên.
Phẫu thuật cắt ngắn cơ nâng mi được áp
dụng phổ biến trong bệnh lý sụp mi bẩm sinh. Tuy nhiên, ở một số trường hợp việc
cắt cơ nâng mi quá nhiều hay cố định đầu tận của cơ nâng mi quá thấp so với sụn
mi có thể dẫn tới tình trạng co ngắn mi trên. Trong trường hợp co mi ở mức độ
nhẹ, hiện tượng này có thể tự điều chỉnh nhờ lý liệu pháp. Với mức độ nặng hơn,
can thiệp bằng phẫu thuật là biện pháp duy nhất.
Chúng tôi nhận thấy rằng phương pháp kéo
dài cơ nâng mi chỉ có tác dụng đối với những trường hợp co cơ nâng mi dưới 3 mm.
Một trường hợp thất bại do cơ nâng mi quá mỏng để có thể bóc tách khỏi mô xung
quanh, hơn nữa cắt cơ nâng mi theo hình răng cưa cũng không đủ kéo dài cơ này về
vị trí sinh lý. Theo nhiều tác giả, có thể áp dụng kỹ thuật ghép cân bán mạc hay
củng mạc cho những trường hợp co ngắn trên 3 mm.
Vấn đề tăng lực đối kháng thụ động của cơ
nâng mi chỉ nên coi là một biện pháp hỗ trợ cho các kỹ thuật khác. Các tác giả
thường sử dụng một bản kim loại mỏng (vàng, titan..) ghép vào khoảng giữa cơ
nâng mi và sụn mi, chính trọng lượng của bản kim loại sẽ làm tăng tác dụng của
cơ vòng mi ở tư thế đứng. Nhưng khi BN nằm, tác dụng của bản kim loại không có ý
nghĩa. Thay vì dùng bản kim loại, chúng tôi dùng polyurethane, một chất liệu trơ
hay dùng trong y khoa có ưu điểm dễ tạo khuôn, có đủ khối lượng cần thiết. Dùng
bản polyurethane kết hợp với kỹ thuật kéo dài cơ nâng mi trong trường hợp mức độ
co ngắn mi trên lớn hơn 2 mm.
KẾT LUẬN------
Co ngắn mi trên là một bệnh cảnh thường
gặp trên lâm sàng do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó các yếu tố tăng trương
lực cơ nâng mi đơn thuần được đề cập nhiều hơn cả. Với kỹ thuật cắt theo kiểu
bậc thang hay răng cưa nhằm kéo dài cơ nâng mi trên đã góp phần phục hồi tính
toàn vẹn về chức năng của mi trên, giải quyết những biến chứng có thể mắc phải
(khô giác mạc, loét giác mạc...), khắc phục những mặc cảm và rối loạn về tâm lý
xã hội của BN do một khuyết tật rất nhỏ gây ra.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Adenis J.P., Morax S.: Chirurgie palpebrale. Doin
editeurs. Paris. 1990
2. Montadon D., Maillard G.F, Morax S., Garey L.: Plasties
et reconstructions orbito-palpebrales. Maloine. 1988.
3. Putterman A.M: Cosmetic oculoplastic surgery. W.B..
Saunders C. 1993
4. Stricker M., Gola R.: Chirurgie plastique et
réparatrice des paupieres et de leurs annexes. Masson. 1990.