Nitrat được sử dụng rộng răi trong điều
trị bệnh mạch vành, không những cho bệnh nhân bị cơn đau thắt ngực ổn định mà cả
những bệnh nhân có cơn đau thắt ngực không ổn định. Mặc dầu thuốc có hiệu quả để
trị những rối loạn này, nhưng thuốc cũng bị giảm giá trị do hiện tượng lờn thuốc
xuất hiện nhanh chóng trong trị liệu lâu dài. Bài viết này nhằm cung cấp những
quan niệm hiện nay về việc sử dụng nitrat trên BN có cơn đau thắt ngực ổn định
mạn tính, nhưng nhiều nguyên tắc có thể áp dụng cho những bệnh cảnh lâm sàng
khác.
Năm 1846, Nitroglycerin được tổng hợp lần
đầu tiên bởi Sobrero, 20 năm sau, tác dụng cắt cơn đau thắt ngực của nitrat mới
được Lauder Brunton phát hiện với amyl nitrate. Từ năm 1879, William Murrell báo
cáo rằng Nitroglycerin đặt dưới lưỡi được sử dụng như một thuốc ngừa cơn và cắt
cơn đau thắt ngực, và từ đó được sử dụng trong điều trị bệnh mạch vành. Phải mất
thêm 100 năm nữa, cơ chế tác dụng của nitrat mới được hiểu rơ hơn khi giáo sư
Ferid Murad phát hiện rằng nitroglycerin và các chất tương tự phóng thích nitric
oxid (NO). Đến năm 1980 Louis Ignarro (Nobel Y học 1998) chứng minh chính NO làm
giăn nở mạch máu.
Cơ chế tác dụng của Nitrat
1. Cơ chế co cơ trơn thành mạch
Giống như cơ tim, sự co cơ trơn thành mạch
được thực hiện qua việc trượt các sợi mỏng actin và các sợi dầy myosin. Tuy
nhiên, có những khác biệt cơ bản giữa hoạt động cơ tim và cơ trơn thành mạch:
- Cơ trơn thành mạch không có troponin và
sự điều ḥa co cơ bởi calci được thực hiện trên sợi actin như đối với cơ tim.
- Ngược lại với cơ tim, myosin của cơ trơn
phải được phosphoryl hóa qua trung gian một enzym là myosin light chain kinase
(MLCK).
2. Cơ chế tác dụng của nitrat
Nitrat hữu cơ khi đi qua cơ trơn thành
mạch phóng thích ion nitrit NO2-, ion này qua một số phản
ứng hóa học trở thành nitric oxid (NO). NO tác động với nhóm sulfhydryl của mạch
máu để biến thành S-nitrisothiol (-SNO) NO2-SNO hoạt hóa guanylase
cyclase là một enzym, biến đổi guanosin triphosphat (GTP) thành cyclic GMP. Chất
này sẽ tạo thuận lợi cho sự phosphoryl hóa MLCK gây nên sự dăn cơ trơn. Cơ chế
chính xác của sự dăn cơ trơn mạch máu dưới ảnh hưởng của cyclic GMP chưa được
biết rơ. Có thể GMP kích hoạt protein kinase làm giảm calcium nội bào.
Tác dụng của nitrat
Tác dụng của nitrat là dăn mạch- dăn tĩnh
mạch là chính, ngoài ra c̣n dăn động mạch (vành và ngoại biên).
1. Tác dụng trên tuần hoàn ngoại biên:
Tùy thuộc vào liều lượng nitrat sử dụng:
- Liều thấp (ngậm dưới lưỡi) làm dăn tĩnh
mạch, do đó giảm lượng tuần hoàn trở về, giảm tiền tải dẫn đến giảm nhu cầu
oxygen của cơ tim 20-40%. Tác dụng này được sử dụng điều trị không những đau
thắt ngực mà c̣n dùng cho suy tim sung huyết và nhồi máu cơ tim.
- Liều cao (truyền dịch) làm dăn động mạch
giảm lực kháng ngoại biên, giảm hậu tải, do đó cũng ảnh hưởng giảm nhu cầu
Oxygen của cơ tim.
2. Tuần hoàn vành:
Nitrat làm giăn các động mạch vành lớn và
tiểu động mạch có đường kính > 100m.
Người ta chưa hiểu rơ v́ sao nitrat không dăn được các động mạch vành nhỏ hơn,
giả thuyết có thể là v́ các động mạch vành nhỏ không có nhóm sulfhyryl. Dăn động
mạch vành lớn có tác dụng tái phân phối máu đến các nhánh bàng hệ, đem máu từ
các vùng dưới ngoại tâm mạc đến các vùng dưới nội tâm mạc là vùng dễ bị thiếu
máu nhất. Đấy là ưu điểm của nitrat so với các thuốc dăn động mạch khác như
dipyridamole, nitroprusside là những thuốc dăn các động mạch vành nhỏ nên có thể
gây hiện tượng vùng thiếu máu bị chặn bớt máu bởi các vùng b́nh thường (coronary
steal).
3. Ảnh hưởng trên tiểu cầu:
Ở bệnh nhân đau thắt ngực và nhồi
máu cơ tim cấp mới, người ta nhận thấy nitrat có tác dụng ức chế nhẹ sự kết dính
tiểu cầu. Ngoài ra, nitroglycerin liều thấp c̣n có thể làm tan ră các tiểu cầu
đă ngưng kết, có thể nhờ đảo ngược quá tŕnh ngưng tập liên quan với adenosine
diphosphate (ADP).
Các loại nitrat sử dụng trong điều trị cơn Đau Thắt
Ngực
Điều
trị cơn đau thắt ngực (ĐTN)
Nitroglycerin là thuốc được dùng nhiều
nhất cho cơn đau thắt ngực, thường được dùng dạng viên ngậm dưới lưỡi, tuy có
dạng xịt (spray) có ưu điểm là bền vững dùng được ít nhất 3 năm trong khi dạng
viên thoái hóa rất nhanh khi đă tiếp xúc với không khí và phải thay mới mỗi 3
tháng. Isosorbid dinitat cũng được sử dụng dưới dạng viên ngậm dưới lưỡi, nhưng
tác dụng tức thời chậm hơn nitroglycerin
Pḥng ngừa cơn ĐTN bằng nitrogly-cerin
Nitroglycerin đặt dưới lưỡi: Tác
dụng của viên nitroglycerin trong pḥng ngừa cơn ĐTN thường bị coi nhẹ. Nhiều BN
có thể tiên đoán những hoạt dộng gây nên cơn ĐTN và có thể ngăn chận cơn đau
bằng nitroglycerin từ 2-5 phút trước đó hoặc có thể tránh được bằng những loại
thuốc khác.
Nitroglycerin uống: Dạng uống được
sử dụng mỗi 8 đến 12 tiếng. Liều này giúp cải thiện việc gắng sức 2-4 giờ sau
liều buổi sáng, nhưng hiện nay chưa có những dữ liệu chứng minh hiệu quả của
cách dùng ngắt quăng, nên nitroglycerin uống không được khuyên dùng.
Thuốc mỡ nitroglycerin: tác dụng
sau 30 phút kéo dài 4-6 tiếng, dùng ngày 1 lần có tác dụng chống đau thắt ngực
đáng kể. Nếu dùng 2 lần/ngày (không có khoảng nghỉ), sau 3 tuần sẽ bị lờn thuốc.(5)
Miếng dán nitroglycerin: Nghiên cứu
trên 562 bệnh nhân cho thấy sử dụng miếng dán khiến lờn thuốc xảy ra rất nhanh,
chỉ sau 24 tiếng. Do đó nên dùng miếng dán với khoảng nghỉ 12 giờ mỗi ngày mới
c̣n hiệu quả.(6)
Pḥng ngừa cơn ĐTN bằng Isosorbid dinitrat:
Isosorbid dinitrat đặt dưới lưỡi:
cũng có lợi trong việc ngăn ngừa cơn ĐTN, nhờ thời gian bán hủy dài hơn nên tác
dụng pḥng ngừa kéo dài đến một giờ.
Isosorbid dinitrat dạng chuẩn:
(standard-formulation) có hiệu quả chống đau thắt ngực rơ rệt nếu dùng ngắn hạn.
Dạng này được hấp thu nhanh chóng và dùng mỗi 4 đến 6 tiếng để đạt nồng độ điều
trị trong huyết tương.
Cũng giống như nitroglycerin, isosorbid
dinitrat phải qua giai đoạn chuyển hóa đầu tiên tại gan gây thoái biến đáng kể
do men glutathion-S-reductase. Khi dùng trong điều trị lâu dài, nếu dùng 3-4
lần/ngày, tác dụng chống đau thắt ngực cao nhất ở liều dùng đầu tiên và giảm dần
ở những lần sau do hiện tượng lờn thuốc. Nghiên cứu cho thấy hiện tượng lờn
thuốc không xảy ra khi có khoảng nghỉ 14 giờ (không dùng thuốc).(7)
Thuốc chỉ thật sự có tác dụng
- 10 giờ/ngày, v́ vậy nên
dùng 2lần/ngày (vào lúc 7 giờ và 13 giờ hoặc 13 giờ và 20 giờ).
Dạng isosorbide dinitrat thải chậm:
có độ hấp thu chậm hơn và nồng độ trị liệu trong huyết tương kéo dài 12 giờ. Khi
dùng 80mg x 2lần /ngày (cách nhau 12 tiếng) cũng gây lờn thuốc. Ngược lại, nếu
chỉ dùng 1 lần/ ngày hoặc 2lần/ ngày nhưng cách nhau < 12 tiếng giữa hai liều
(gọi là lệch pha) th́ tác dụng chống đau thắt ngực vẫn được duy tŕ.(8)
Pḥng ngừa cơn ĐTN bằng Isosorbid mononitrat:
Isosorbid mononitrat không qua
giai đoạn chuyển hóa đầu tiên tại gan nên khả dụng sinh học uống gần 100%. Thời
gian bán thải là 4 giờ.
Isosorbid mononitrat dạng chuẩn: Sử
dụng liều 20-40mg x 2 lần/ngày gây hiện tượng lờn thuốc nếu cách nhau 12 tiếng
trong 1 tuần. Ngược lại nếu dùng theo kiểu lệch pha - tức là cách nhau 7 tiếng -
th́ cho tác dụng chống đau thắt ngực kéo dài 12 giờ.(9)
Isosorbid mononitrat dạng thải chậm:
Trong một nghiên cứu đa trung tâm cho thấy dùng liều cao 120-240 mg/1 lần/ngày
cho tác dụng kéo dài 12 giờ/ngày. Hiện chưa thấy hiện tượng lờn thuốc xảy ra với
liều này.(10)
Hiện tượng lờn thuốc
Hạn chế chính trong việc sử dụng nitrat là
hiện tượng lờn thuốc, tức là giảm những tác dụng dăn mạch vành và huyết động học
khi điều trị lâu dài. Cơ chế của hiện tượng này vẫn- c̣n nhiều tranh căi, sau
đây là các giả thuyết chính:
+
Giảm sulfhydryl nội bào:
-Sulfhydryl, dẫn chất từ cystein là chất
cần thiết để phối hợp với NO tạo nên S-NO (nitrosothiol). S-NO là chất hoạt hóa
guanylate cyclase. NO quá nhiều sẽ làm giảm nhóm sulfhydryl nội bào và giải
thích v́ sao ở bệnh nhân lờn nitrat, lượng cGMP trong tiểu cầu thấy giảm.
Việc có thể áp dụng giả thuyết này vào
điều trị hay không vẫn c̣n bỏ ngỏ. Về mặt lư thuyết, có thể dùng acetylcystein
và methionin, những chất tạo sulfhydryl gián tiếp, để đối lại hiện tượng lờn
thuốc bằng cách cung cấp sulfhydryl cho tế bào mạch máu hoặc cho mô ngoại bào.
Mặc dầu cho sulfhydryl làm tăng đáp ứng với nitrat ở BN có lờn thuốc, nhưng ở BN
không có lờn thuốc nếu dùng acetylcystein (có chứa sulfhydryl) cũng làm tăng
hiệu ứng mạch máu của nitroglycerin.(11) Cho đến nay, giả thuyết giảm
sulfhydryl tuy đă qua thử nghiệm, nhưng vẫn không giải thích được trọn vẹn cơ
chế lờn thuốc nitrat.
* Giả thuyết thần kinh- thể dịch
Dăn tĩnh mạch do nitrat là giảm tiền tải
sẽ gây co động mạch bù trừ bằng cách hoạt hóa hệ giao cảm và hệ
renin-angiotensin. Truyền nitro-glycerin kéo dài có thể làm tăng catecholamin,
renin và các kích tố co mạch khác. Co mạch làm giảm tưới máu thận và chức năng
thận. Tuy nhiên giả thuyết thần kinh - thể dịch chỉ được chứng minh qua một số
nghiên cứu như dùng thuốc ức chế men chuyển cùng với nitrat cho thấy giảm hiện
tượng lờn thuốc nitrat trong một số nghiên cứu, trong khi các nghiên cứu khác
lại không thấy hiệu quả.(12)
Ngoài ra, Munzel và cộng sự(13)
c̣n chứng minh việc sử dụng nitrat làm tăng sự phóng thích kích tố endothelin 1
và protein kinase C có tác dụng co mạch. Những đáp ứng sinh hóa tại chỗ này có
thể đóng vai tṛ quan trọng trong hiện tượng lờn nitrat.
* Giả thuyết giảm tưới máu thận
Dùng hydralazin cùng với nitrat cho thấy
ngừa được lờn thuốc về phương diện huyết động học. Hydralazin cho phép duy tŕ
được tưới máu thận khi dùng chung với isosorbid dinitrat.(14)
Do đó có thể hiểu được tại sao hydralazin có hiệu quả ở bệnh nhân suy tim sung
huyết dù đă lờn nitrat từ nhiều tháng.
* Giả thuyết gốc tự do:
Ở vật thí nghiệm, điều trị với
nitroglycerin làm gia tăng các gốc tự do superoxid sản xuất từ nội mạch có tác
dụng làm gia tăng sự thoái biến NO. Giả thuyết này được củng cố bởi các nghiên
cứu cho thấy sử dụng các chất chống oxy hóa như sinh tố E giúp ngăn ngừa được
hiện tượng lờn thuốc đối với hiệu ứng động mạch của nitro-glycerin.(15)
Cơ chế tại sao nitrat làm gia tăng sản xuất anion superoxide chưa được rơ, nhưng
những tài liệu gần đây gợi ư vai tṛ của angiotensin II. Hydralazin có tác dụng
ức chế các oxidase gắn trên màng tế bào là những chất có vai tṛ trong việc gia
tăng sản xuất anion superoxid khi sử dụng nitrat. Đây là điều thú vị v́ người ta
biết rằng hydratazin sử dụng cùng với isosorbid dinitrat ở bệnh nhân suy tim
sung huyết có ảnh hưởng tốt trên tỷ lệ tử vong dù bệnh nhân bị lờn nitrat.(14)
* Giả thuyết về gia tăng thể tích huyết
tương:
Điều trị với nitrat cho thấy có sự gia
tăng rơ thể tích huyết tương, nguyên nhân chưa được rơ nhưng có vẻ không liên
quan đến giữ natri. Sự gia tăng này kéo dài cùng với sự duy tŕ điều trị lâu dài
nitroglycerin và đảo ngược ảnh hưởng của nitrat trên tiền tải. Tuy nhiên cơ chế
gây nên lờn thuốc cũng chưa rơ. Sử dụng lợi tiểu để ngăn ngừa lờn thuốc cho thấy
có những kết quả đối nghịch. Một nghiên cứu mù đôi thực hiện tại Maint Snai cho
thấy hydrochlorothiazid không có tác dụng ǵ trên hiện tượng lờn đối với hiệu
ứng dăn mạch vành của nitroglycerin qua da.(16)
Lờn thuốc chéo
Có hiện tượng lờn thuốc chéo giữa các dạng
nitrat. Do đó, người ta dùng nitroglycerin đặt dưới lưỡi để xác định, nếu không
có thay đổi về huyết áp hoặc nhịp tim là có lờn thuốc nitrat. Tuy nhiên dù có
lờn thuốc, người ta tin rằng vẫn có một số tác dụng huyết động học và dăn mạch
vành.
Kháng thuốc
Khi truyền dịch nitroglycerin liều cao ( >
200
mg/phút) mà vẫn không có ảnh
hưởng ǵ, dù trước đó bệnh nhân chưa dùng nitrat. Trường hợp này có tăng liều
hơn nữa cũng vô ích. Kháng thuốc có thể gặp ở bệnh nhân suy tim sung huyết hoặc
trong nhồi máu cơ tim cấp sớm, có thể v́ hệ thống renin - angiotensin đă kích
hoạt tối đa nên dễ kháng nitrat.
* Đối phó với lờn thuốc:
Tuy cơ chế lờn thuốc nitrat chưa rơ, nhiều
cách pḥng chống lờn thuốc đă được nghiên cứu. Một số thuốc đă được thử nghiệm
phối hợp với nitrate có những kết quả khác nhau:
- Dùng Acetylcystein để cung cấp nhóm
SH:
Các nghiên cứu cho thấy acetylcystein làm
gia tăng đáp ứng với nitrat; có thể v́ cung cấp nhóm SH và cũng có thể v́
acetylcystein là chất thanh toán các gốc tự do.
Các nghiên cứu dùng Acetylcystein cho kết
quả đối nghịch. Hơn nữa, N.Acetylcystein dạng uống chưa có trong khi thuốc ƯCMC
hoặc hydralazin uống lại có sẵn, nên giải pháp N-acetylsystéine không được ưa
chuộng.
- Dùng thuốc ức chế men chuyển
Để giảm hoạt tính của renin ở bệnh
nhân suy tim. Tuy phối hợp này có vẻ hấp dẫn và hợp lư về lư thuyết nhưng các
nghiên cứu cho kết quả khác nhau. Cũng không có chứng cớ ǵ là captopril (có
nhóm SH) tốt hơn các ƯCMC khác trong việc ngăn ngừa lờn nitrat.
- Dùng hydralazin:
Dùng phối hợp với isosorbid
dinitrat 160mg/ngày để tăng tưới máu thận dựa trên quan niệm lờn thuốc nitrat là
do giảm tưới máu thận. Ngoài ra hydralazin c̣n có khả năng ức chế các oxidase
gắn trên màng tế bào, nguyên nhân của sự gia tăng superoxid.
- Dùng lợi tiểu:
Để giảm sự gia tăng dung lượng huyết thanh
đóng vai tṛ quan trọng trong lờn thuốc nitrat.
- Sinh tố E:
Có nghiên cứu gần đây cho thấy sinh tố E
giảm được hiện tượng lờn thuốc, củng cố giả thuyết vai tṛ gốc tự do.
Tất cả những thuốc trên đây đều không chắc
chắn có thể ngăn chặn được hiện tượng lờn thuốc. Biện pháp đơn giản và hữu hiệu
nhất là thời biểu dùng thuốc.
Điều trị ngắt quăng(1)
Có hiệu quả trong việc ngăn ngừa hay ít ra
là giảm lờn thuốc.
Tuy điều trị ngắt quăng có ưu điểm
hơn điều trị liên tục, nhưng điều quan tâm là có thể gây thiếu máu cơ tim "dội
ngược" trong thời gian không c̣n nitrat. Tuy các dữ liệu gần đây chưa cho kết
luận khẳng định về nguy cơ thiếu máu cơ tim cấp gia tăng bởi điều trị ngắt
quăng, thầy thuốc và bệnh nhân cần cảnh giác về nguy cơ có thể này.
Dùng nitrat theo kiểu lệch pha:
(1)
Thí dụ dùng isosorbid dinitrat 80mg ngày 1
lần hoặc ngày 2 lần với 2 lần cách nhau dưới 12 giờ (vào lúc 7 giờ sáng và 13
giờ) tạo nồng độ thuốc trong máu dao động giúp duy tŕ hiệu quả dăn mạch vành.
* Dùng isosorbid mononitrat 20mg
ngày 1 lần, hoặc 2 lần cách nhau 7 giờ cho đến nay đă được xác định là ngăn ngừa
lờn thuốc tốt nhất.
Liều lượng leo thang:
Có thể áp dụng với suy tim sung huyết cũng
như đối với thiếu máu cơ tim không ổn định. Đây là một phương pháp dùng ngắn hạn
để tránh lờn thuốc.
Kết luận:
Nitrate hữu cơ được chứng minh qua hơn 100
năm sử dụng là thuốc có hiệu quả trong điều trị bệnh mạch vành cũng như suy tim
sung huyết. Điểm yếu và bất tiện- của nitrat là hiện tượng lờn thuốc. Tuy cơ chế
lờn nitrat vẫn chưa xác định, nhiều cách đối phó đă được nghiên cứu nhiều thuốc
đă được dùng thử (ức chế men chuyển, lợi tiểu, hydralazine, thuốc chứa
sulfhydryl) với những kết quả không đồ-g bộ. Cách đối phó hữu hiện nhất được
công nhận hiện nay là tạo khoảng nghỉ không có nitrat cho mỗi 24 giờ. Lư do là
người ta nhận thấy tuy lờn thuốc xảy ra rất nhanh nhưng hiện tượng này cũng đảo
ngược rất nhanh trong giai đoạn không có nitrat.
summary
The organic nitrates are important drugs
for the treatment of patients with angina, but important questions remain about
their efficacy due to nitrate tolerance. Although the mechanisms of nitrate
tolerance remain unknown, several approaches to its prevention have been
studied. A number of pharmacologic interventions have been tested, such as
angiotensin-converting-enzyme inhibitors, diuretics, and sulfhydryl-containing
drugs, but none have proved effective. The only widely accepted method
preventing tolerance is the use of a dosing strategy that provides an interval
of low nitrate exposure during each 24-hour period. The rationale for such
dosing
regimens is based on the observation that although tolerance to nitrate develop
rapidly, it is rapidly reversed during the nitrate-free interval.
Tài liệu tham khảo
1. John D. Parker. Nitrate Therapy for stable angina
pectoris- . New England Journal of Medecine.1998;338:520-531
2. Murad F. drugs used for the treatment of angina.
Goodman and Gilman. the Pharmacological basis of Therapeutics. 1996;ch.32:
764-773.
3. C.Liberra. Y. Caron. Dérivés nitréa et molsidomine
Médicaments en pathologie cardio-vasculane 1990.
4. -Elkayan U, Mehra A, Shotan A. Possible mechanisme of
nitrate tolerance. Am J Cardiol 1992,70:496-536
5. Reicheck N, Golstein RE. Sustained effects of
nitroglycerin ointment in patients with angina pectoris. Circulation
1974;50,384-52
6. Steering Committee. Transdermal Nitroglycerin
Cooperative Study. Am J Cardol 1991;68:1263-73
7. Parker JO, Farrell B. Lahey KA. Effect of intervals
between doses on the development of tolerance to isosorbide dinitrate. N Engl J
Med1987;316:1440-4
8. Silber S. Voggler AC. Krause KH. Induction and
circumvention of nitrate tolerance applying different dosage interval. Am J Med
1987;83:860-70
9. Parker JO. Eccentric dosing with
isosorbide-5-mononitrate in angina pectoris. Am J Cardiol 1993;72;871-6
10. Chrysant SG, Glasser SP, Bitter N. et al. Efficacy and
safety of extended- release isosorbide mononitrate. Am J Med 1993;72:1249-56
11. Winniford MD, Kennedy PL, Wells PJ. Potentiation of
nitroglycerin-induced coronary dilatation by N-acetylcys-teine. Circulation
1986;73:138-42
12. Katz RJ, Levy WS, Buff L, Wasserman AG. Prevention of
nitrate tolerance with angiotension converting enzyme inhibitors. Circulation
1991;83:1271-7
13. Munzel T, Giaid A, Kurz, Stewart DJ, Harrisson DG.
Evidence for a role of endothelin 1 and protein kinase C in nitroglycerin
tolerance. Proc Natl Acad Sci USA 1995;92:5244-8
14. Bauer JA, Fung HL. Concurrent hydralazine
administration prevents nitroglycerin - induced hemodynamic tolerance in
experimental heart failure. Circulation 1991;84:35-9
15. Watanabe H,Kakihana M,Ohtsuka S,Sugishita. Randomized
doubled-blind, placebo-controlled study of supplemental vitamin E on attenuation
of the development of nitrate tolerance. Circulation 1997;96:1916-23
16. Parker JD, Parker AB, Farrell, Parker JO. The effect
of diuretic therapy on the development of tolerance to nitroglycerine and
exercise capacity in patients with chronic stable angina. Circulation
1996;93:691-6