|
Điều trị nhiễm Helicobacter pylori kháng với kháng sinh
Vào năm 1996, nhiều nhà tiêu hóa học Châu
Âu khuyến cáo việc điều trị hàng đầu H. pylori bao gồm thuốc ức chế bơm
proton kết hợp với hai trong ba thuốc sau: clarithromycin, nitroimidazol và
amoxillin. Trong trường hợp thất bại, dùng thêm một đợt phác đồ ba thứ thuốc
hoặc bốn thứ (omeprazol cộng với liệu pháp ba thuốc có bismuth). Tuy nhiên, v́
bệnh nhân tuân thủ và dung nạp kém với liệu pháp bốn thuốc nên cần có phương
cách điều trị khác thay thế cho những người không đáp ứng với hai hoặc hơn hai
đợt dùng phác đồ chuẩn ba thuốc.
Những nghiên cứu sơ khởi in vitro cho thấy
H.pylori
rất nhạy với rifabutin, một dẫn xuất spiropiperidyl của rifampicin S. Nồng độ
tối thiểu của rifabutin cần để ức chế 90% sự phát triển của 49 ḍng H.pylori
là 0,0078
mg/ ml (so với nồng độ
0,25
mg/ ml của
Clarithromycin, 0,031 mg/
ml của Amoxicillin, và 4,0 mg/
ml của metronidazol). Hơn nữa, rifabutin có thêm hiệu quả diệt khuẩn khi phối
hợp với amoxicillin hay metronidazol và chọn lọc rất ít ḍng H.pylori
đột biến kháng thuốc. Những kết quả thí nghiệm này cho phép tiến hành một thí
điểm nghiên cứu mở, nhẵm đánh giá hiệu quả in vivo và sự dung nạp của rifabutin
trong điều trị nhiễm H.pylori.
Nghiên cứu trên 28 bệnh nhân ngoại trú
(tuổi
trung b́nh là 48 -
12) là những người không đáp ứng với
- 2 đợt dùng phác đồ
chuẩn ba thuốc trong đó có nhóm ức chế bơm proton. Tất cả đều được nội soi sinh
khán dạ dày nhiều vị trí. Trên tất cả bệnh nhân đều t́m thấy H.pylori.
Bệnh nhân đuợc điều trị trong 1 tuần với các thuốc: 40 mg pantoprazol x 2 lần
mỗi ngày, 1g amoxicillin x hai lần mỗi ngày và 300 mg rifabutin một lần mỗi
ngày. Phân tích tác dụng phụ và tính tuân thủ được thực hiện cuối liệu tŕnh. 4
tuần sau khi hoàn tất điều trị, tiến hành thử urea qua hơi thở. Tỷ lệ diệt trừ
H.pylori được đánh giá trên cơ sở của cả phân tích điều trị-lành bệnh
(intention-to-treat analysis) và phân tích theo quy tŕnh (per-protocol
analysis). Tất cả bệnh nhân đều uống thuốc theo thời biểu quy định. Tỷ lệ diệt
trừ H.pylori là 78,6% (KTC 95%: 63,4% - 93,8%) trong cả hai phân tích.
Nghiên cứu này cho thấy rifabutin phối hợp
với pantoprazol và amoxicillin có hiệu quả diệt H.pylori ở những bệnh
nhân không đáp ứng sau hai hay hơn 2 đợt dùng phác đồ chuẩn ba thứ thuốc. Tác
dụng phụ ít và sự tuân thủ tốt.
Theo N Eng J Med - 1998, Vol 339, N.1, 53:
Treatment of antibiotic-resistant H.pylori infection
Bs. Lê Tuyết Hoa
Oestrogen giúp bảo vệ trí
nhớ ở người lớn tuổi
Theo một nghiên cứu mới được công bố trên
tạp chí thần kinh (Neurolgy 1997; 49: 1491 -97), liệu pháp thay thế bằng
oestrogen (LPTTO) giúp giảm mất trí nhớ do tuổi tác.
Bác sĩ Susan Resnick ở Pḥng thí nghiệm
của Viện Quốc gia Hoa Kỳ về Nhân cách và Nhận thức ở tuổi già cho biết nghiên
cứu trên gồm 2 phần. Phần đầu là một nghiên cứu theo chiều dọc về sự lăo hóa:
288 bệnh nhân nữ sau măn kinh được thử test về trí nhớ thị giác (test of visual
memory, gọi là Benton Visual Retention Test - BVRT-).
Trong test này, bệnh nhân xem những mẫu
thiết kế trong 10 giây, sau đó yêu cầu họ vẽ lại theo trí nhớ. H́nh vẽ giống
hoàn toàn được cho điểm 0. Nếu phạm lỗi thừa, thiếu, méo mó, hay có những lỗi
khác sẽ lần lượt bị thêm điểm.
Trong nghiên cứu của Resnick, 116 bệnh
nhân được dùng LPTTO tại thời điểm thử test, c̣n 172 người khác không dùng
LPTTO. Sau khi điều chỉnh theo tuổi, các tác giả nhận thấy những bệnh nhân dùng
Oestrogen có điểm số tốt hơn nhiều so với người không dùng LPTTO. Điểm số giữa
hai nhóm chênh lệch khoảng 1/4 độ lệch chuẩn.
Kế đến những nhà nghiên cứu xét
riêng nhóm phụ là những người thử test hai lần: một lần trước khi bắt đầu dùng
LPTTO và lần thứ hai 6 năm sau khi dùng LPTTO. Họ được ghép cặp với 18 phụ nữ
được thử test hai lần nhưng chưa bao giờ dùng LPTTO. Kết quả là trong suốt thời
gian trung b́nh 6 năm giữa hai lần test, tỷ lệ lỗi của người dùng oestrogen vẫn
ổn định trong khi của người không dùng hormon lại tăng thêm trung b́nh 2 điểm.
Để so sánh, một nghiên cứu riêng rẽ khác đă dùng thang điểm của test BVRT như
một chỉ số tiên đoán nguy cơ bệnh Alzheimer đă nhận thấy rằng qua 6 năm, chỉ số
này thay đổi 6 điểm chênh lệch giữa người b́nh thường và người sẽ bị Alzheimer
về sau.
Tác giả kết luận những phát hiện
của họ cũng như nhiều nghiên cứu khác đề nghị rằng điều trị sớm có thể tác động
đến sự suy giảm do tuổi tác trong nhận thức và trí nhớ và sự phát bệnh sa sút
tinh thần.
Theo Lancet Vol. 351, N. 9095, 3 Jan 1998, 39:
Oestrogen helps to protect memory into old age
BS Lê Tuyết Hoa
Những yếu tố dự đoán về tiên
lượng và nguy cơ- suy thận cấp trong viêm nội tâm mạc do vi khuẩn.
Dịch tễ học, tiêu chuẩn chẩn đoán
và điều trị viêm nội tâm mạc đă thay đổi căn bản trong hai thập niên qua, tuy
nhiên vẫn c̣n ít chú ư đến thay đổi bệnh nguyên của suy thận và những yếu tố dự
đoán suy thận hoặc sự liên quan giữa suy thận và tử vong trên bệnh nhân viêm nội
tâm mạc do vi khuẩn (VNTMVK).
Mục tiêu: T́m hiểu những yếu tố
nguy cơ dẫn đến suy thận cấp và tử vong ở bệnh nhân VNTMVK đă được xác định.
Phương pháp: Hồi cứu 204 đợt liên
tiếp được chẩn đoán VNTMVK theo tiêu chuẩn Duke. Sử dụng phương pháp hồi quy để
xác định những yếu tố tiên đoán sinh hóa và lâm sàng của tử vong và bộc phát suy
thận cấp.
Kết quả: Đánh giá 204 đợt liên tiếp
VNTMVK được xác định trên 185 bệnh nhân. Tử vong chung là 20%. Nếu có viêm nội
tâm mạc trên van nhân tạo và giảm tiểu cầu làm gia tăng nguy cơ tử vong tại bệnh
viện. 1/3 bệnh nhân tiến triển đến suy thận cấp (xác định bằng Creatinin huyết
thanh > 2 mg/dl). Suy thận cấp làm gia tăng tỷ suất nguy cơ (OR) bị tử
vong lên gấp 5 lần (p = 0,0001). Bằng phân tích đơn biến, những thông số lâm
sàng và sinh hóa liên hệ chặt chẽ với nguy cơ dẫn đến suy thận cấp là: tuổi cao,
tiền căn cao HA, giảm tiểu cầu, nhiễm S.aureus, và nhiễm trùng van nhân
tạo. Tuổi tác (OR 2,9, p = 0,002) và mức độ giảm tiểu cầu (OR 0,2, p = 0,0001)
có kết hợp một cách độc lập với nguy cơ tiến triển đến suy thận cấp. Những bệnh
nhân bị suy thận cấp do hội chứng nhiễm trùng hoặc sau phẫu thuật tim tỷ lệ tử
vong cao hơn do những nguyên nhân khác.
Kết luận: Suy thận cấp kết hợp với
VNTMVK vẫn c̣n là một vấn đề lâm sàng thường gặp, gây tử vong cao. Những BN có
tuổi cao và có giảm tiểu cầu là những yếu tố nguy cơ độc lập dẫ đến suy thận
cấp.
Theo Nephrology, Vol. 49 No 2 - 1998 (96-101):
Predictors of prognosis and risk of acute renal failure in bacterial
endocarditis.
BS Lê Tuyết Hoa
ĐÁNH GIÁ những BẤT THƯỜNG
CỦA VAN TIM Ở bệnh nhân BÉO PH̀ DÙNG DEXFENFLURAMIN, DEXFENFLURAMIN PHÓNG THÍCH
CHẬM, hoặc GIẢ DƯỢC
Thuốc gây chán ăn fenfluramin, thường dùng
phối hợp với phentermin, được ghi nhận là có liên quan với t́nh trạng hở van
tim. Nghi vấn cũng đặt ra đối với dexfenfluramin, một đối phân-d của
fenfluramin, có thể gây ra t́nh trạng này. Vấn đề đặt ra cho nghiên cứu có thể
được giải đáp bằng cách đổi một thử nghiệm lâm sàng đang tiến hành so sánh
dexfluramin phóng thích chậm với dexfluramin thường và giả dược
Các tác giả đă chuyển một nghiên cứu mù
đôi so sánh dexfluramin có đối chứng với giả dược thành cuộc khảo sát siêu âm
trên 1072 người béo ph́ trong ṿng một tháng (số trung vị) sau khi ngưng điều
trị. Các bệnh nhân (khoảng 80% là nữ) đă được chọn lọc ngẫu nhiên để sử dụng
dexfluramin (366 bênh nhân); dexfluramin phóng thích chậm (352 bệnh nhân), hoặc
giả dược (354 bệnh nhân). Thời gian điều trị trung b́nh là 71 đến 72 ngày cho
mỗi nhóm. Các kết quả siêu âm đươc đánh giá theo cách mù.
Kết quả: Khi xem xét tất cả các độ
hở van tim và khi cả hai nhóm dexfluramin được gộp chung, nghiên cứu nhận thấy
trong nhóm điều trị có tỉ-lệ hở van động mạch chủ ở bất kỳ độ nào (17% so với
11,8%, P= 0.03) và hở van hai lá (ở bất kỳ độ nào) cũng đều cao hơn nhóm giả
dược. Các sự khác biệt này chủ yếu là do hở van sinh lư, hở van kín hay hở van
nhẹ chiếm một tỉ lệ vượt trội- Phân tích dựa trên các tiêu chuẩn của cơ quan
Quản lư Dược và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) về hở van động mạch chủ nhẹ và nặng, hở
van hai lá vừa và nặng lại không thấy có sự khác biệt giữa các nhóm (P = 0.14
đến 0.75). Các phân tích này cho thấy hở van động mạch chủ nhẹ và nặng có trong
5% trường hợp thuộc nhóm dexfenfluramin, 5.8% thuộc nhóm dexflufenramin phóng
thích chậm, 5.4% ở nhóm với hai thuốc gộp lại và 3.6% ở nhóm giả dược. Hở van
hai lá vừa và nặng xảy ra theo tuần tự là 1.7%, 1.8%, 18%, và 1.2%. Hở van động
mạch chủ nhẹ và nặng, hở van hai lá vừa và nặng, hoặc cả hai xảy ra theo
uần tự là 6.5%, 7.3%, 6.9%, và 4.5%.
Kết luận: Các tác giả phát hiện có
gia tăng nhẹ tỉ lệ hở van động mạch chủ và van hai lá trên bệnh nhân được điều
trị với dexfenfluramin, và độ hở trong đa số trường hợp được xếp loại là sinh
lư, kín đáo hoặc nhẹ. Tuy nhiên thời gian điều trị ngắn, và chưa rơ là khi điều
trị lâu hơn th́ các kết quả c̣n giống hay sẽ là khác đi.
Theo N Eng J Med 1998;339:725-32:
An assessment of heart-valve
abnormalities in obese patients taking dexfenfluramine, sustained released
dexfenfluramine or placebo
BS Nguyễn Văn Phượng
UỐNG THUỐC NGỪA THAI VÀ
NGUY CƠ UNG THƯ BUỒNG TRỨNG DO DI TRUYỀN
Phụ nữ có các đột biến ở gen BRAC1
hoặc BRAC2
có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư buồng trứng trong suốt cuộc sống. Nói chung,
uống thuốc ngừa thai bảo vệ chống lại ung thư buồng trứng, nhưng người ta chưa
được biết điều này có xảy ra trên các dạng ung thư có tính di truyền hay không-
Phương pháp: Đây là một nghiên cứu
bệnh-đối chứng đă được tiến hành trên 207 bệnh nhân bị ung thư buồng trứng do di
truyền, so sánh với 161 chị em của các người này. Tất cả các bệnh nhân đều có
đột biến ở gen BRAC1 (179 phụ nữ) hoặc BRAC2
(28 phụ nữ). Các phụ nữ trong nhóm chứng có thể có hay không có đột biến gen.
Khai thác tiền căn uống thuốc ngừa thai bằng cách phỏng vấn, trả lời các bảng
câu hỏi và so sánh các kết quả này giữa các bệnh nhân với-người chứng, sau khi
đă hiệu chỉnh theo năm sinh và số lần sinh đẻ (parity).
Kết quả: Sau khi điều chỉnh, tỉ
suất nguy cơ (OR) mắc ung thư buồng trứng với tiền căn uống thuốc ngừa thai bất
kỳ là 0.5 (khoảng tin cậy 95%, 0.3-0.8). Nguy cơ giảm nếu thời gian dùng thuốc
gia tăng (P khuynh hướng<
0.001), nguy cơ giảm 60% nếu thời gian dùng thuốc
-6 năm. Uống
thuốc ngừa thai có tác dụng bảo vệ đối với ung thư- buồng trứng ở cả người mang
đột biến gen BRAC1 (OR: 0.5; khoảng tin cậy 95%, 0.3-0.9) lẫn người mang
đột biến gen BRAC2 (OR 0.4; khoảng tin cậy, 0.2-1.1)
Kết luận: Dùng thuốc ngừa
thai có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư buồng trứng ở phụ nữ có các đột biến
bệnh lư ở gen BRAC1 hoặc BRAC2.
Theo N Engl J Med1998;339:424-8
Oral contraceptives and the risk of hereditary ovarian
cancer
BS Nguyễn Văn Phượng
Thuốc đối kháng
canci và nguy cơ tử vong ở đàn ông và phụ nữ cao huyết áp trong nghiên cứu
Framingham
Một vài nghiên cứu- mới đây thông báo rằng
thuốc đối kháng canci được dùng rộng răi trong điều trị cao huyết áp có liên
quan với tăng nguy cơ bệnh tim mạch; những nghiên cứu này đă nghi ngờ độ an toàn
khi dùng dài hạn thuốc đối kháng canci.
Mục tiêu: Khảo sát mối liên quan
giữa việc dùng thuốc đối kháng canci với tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân cao huyết áp
được theo dơi trong nghiên cứu Framingham.
Đối tượng và phương pháp: Từ những
bệnh nhân trong nghiên cứu Framingham, bị cao huyết áp được phát hiện từ pḥng
khám thường qui, các tác giả đă phân tầng 3539 bệnh nhân (tuổi trung b́nh là 64
và độ lệch chuẩn là 13 tuổi) theo việc sử dụng thuốc đối kháng canci và bệnh
mạch vành lúc khởi đầu nghiên cứu. Cứ mỗi lần khám theo dơi (mỗi 2-4 năm), các
đối tượng được phân loại lại theo việc dùng thuốc thuốc đối kháng canci; Chỉ số
đánh giá cuối nghiên cứu là tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân. Tỷ suất nguy cơ do
dùng thuốc thuốc đối kháng canci và khoảng tin cậy 95% được tính bằng mô h́nh
hồi quy Cox.
Kết quả: Có 970 bệnh nhân chết
trong suốt quá tŕnh theo dơi. Trong nhóm cao huyết áp không có bệnh mạch vành,
tỷ suất nguy cơ tử vong liên quan việc dùng thuốc đối kháng canci là 0,93
(khoảng tin cậy[KTC] 95% là 0,72- 1,21; P= 0,59) và là 0,92 (KTC 95% là 0,69-
1,24; P= 0,58) trong nhóm có bệnh mạch vành (phát hiện lúc khởi đầu nghiên cứu).
Mọi mô h́nh được điều chỉnh theo tuổi, giới, đang hút thuốc, huyết áp tâm thu,
huyết áp tâm trương, việc dùng thuốc chẹn bêta và các thuốc điều trị cao huyết
áp khác.
Kết luận: Qua nghiên cứu thuần tập
3539 bệnh nhân cao huyết áp, thấy tỷ lệ tử vong không khác nhau giữa các nhóm có
dùng và không dùng thuốc đối kháng- canci, nhóm có bệnh với nhóm không có bệnh
mạch vành. Những kết quả của thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, dài hạn đang tiến
hành sẽ cung cấp dữ liệu xác định về độ an toàn của thuốc đối kháng- canci.
Theo Arch Intern Med. 1998; 158: 1882-1886:
Calcium Antagonists and Mortality Risk in Men and Women With Hypertension in the
Framingham Heart Study.
BS Đào Duy An
Giám sát kháng thuốc chống lao toàn cầu, 1994-1997
Lao kháng thuốc đe doạ những nổ
lực kiểm soát bệnh này. Báo cáo này đưa ra tỷ lệ lưu hành kháng bốn loại thuốc
hàng đầu ở 35 nước (trong đó có Việt Nam) tham gia Dự án Giám sát Thuốc Kháng
Lao Toàn Cầu, giai đoạn 1994-1997 của Tổ Chức Y Tế Thế giới và Hiệp hội Quốc tế
Chống lao và bệnh phổi.
Phương pháp: Dữ liệu thu thập từ
các khảo sát cắt ngang và báo cáo giám sát. Các nước tham gia thực hiện theo
hướng dẫn để bảo đảm mẫu có tính đại diện, tiền căn chính xác của điều trị,
phương pháp xét nghiệm chuẩn và các định nghĩa thông dụng. Hệ thống xét nghiệm
tham chiếu bảo đảm chất lượng xét nghiệm. Số trung vị của bệnh nhân được nghiên
cứu ở mỗi nước hoặc vùng là 555 (55- 14.344 người).
Kết quả: Trên bệnh nhân chưa được
điều trị trước đó, tỷ lệ chủng M. tuberculosis (số trung vị) đề kháng với
ít- nhất một loại thuốc là 9,9% (2 - 4%); kháng isoniazid là 7,3%; kháng
streptomy-cin là 6,5%; kháng rifampin (1,8%) hoặc etham-butol (1%). Tỷ lệ lưu
hành đa kháng thuốc lao nguyên phát là 1,4% (O-14,4%).
Trên bệnh nhân có tiền căn đă điều trị ít
hơn hoặc bằng một tháng, tỷ lệ lưu hành kháng bất kỳ một trong bốn loại thuốc là
36% (5,3 - 100%) và tỷ lệ lưu hành đa kháng thuốc là 13% (0 - 54%). Tỷ lệ lưu
hành chung của kháng thuốc là 12% (2,3- 42,4%) đối với một loại thuốc và đa
kháng thuốc là 2,2% (0 - 22,1%). Đặc biệt tỷ lệ lưu hành đa kháng thuốc lao tăng
cao ở Liên Xô cũ, Châu Á, Cộng Hoà Dominic và Achentina.
Kết luận: Kháng thuốc lao được phát
hiện ở cả 35 nước và những vùng khảo sát, gợi ư rằng đây là một vấn đề toàn cầu.
Theo N Engl J Med 1998; 338: 1641-9
Global surveillance for antituberculosis- drug resistance, 1994- 1997.
BS Đào Duy An
OLANZAPIN PHẢI CHĂNG LÀ MỘT LOẠI THUỐC CHỐNG LOẠN THẦN
MỚI -
Việc dùng chlorpromazin trên lâm
sàng thật sự là một cuộc cách mạng làm thay đổi tậ- gốc ít nhất một phần tiên
lượng của bệnh tâm thần phân liệt (TTPL). Hiện tại, đáp ứng điều trị thay đổi từ
40 - 80% và khi các triệu chứng chính được cải thiện th́ các biểu hiện thứ yếu
như rối loạn khí sắc hoặc trầm cảm vẫn tồn tại. Theo nghĩa dung nạp, th́ độ nặng
và tần suất các biến cố ngoại ư về sinh học và lâm sàng là các yếu tố góp phần
vào tiến triển xấu và khả năng tái phát của bệnh; các rối loạn vận động cấp hay
mạn tính h́nh như không tách khỏi tác dụng chống loạn thần, Delay và Denicker
nhậ- định các rối loạn trên là một trong năm tiêu chuẩn tác dụng của thuốc an
thần kinh.---
Về sinh lư bệnh học TTPL có thể hiểu do
rối loạn hoạt động hệ dopaminergique ở vùng đặc hiệu và hiện có nhiều lư lẽ để
giải thích sự rối loạn các thụ thể 5-HT2 (Braff và Geyer,- 1988; Van
Praag, 1989).- Một đặc trưng chủ yếu của thuốc chống loạn thần không điển h́nh
là đối kháng mạnh với các thụ thể giống thụ thể 5-HT2 (Meltzer và
Nash, 1991) hơn là gắn vào thụ thể D2 của dopamin.- Sự đối kháng này
được xem như yếu tố dự đoán về hoạt tính lâm sàng và dược lư học của thuốc chống
loạn thần cổ điển (Creese và cộng sự, 1976).-
Olanzapin có những đặc tính dược lư học
tương ứng với các tiêu chuẩn "không đặc hiệu".- Nghiên cứu mối liên hệ của các
thụ thể đă chứng minh được ái lực với các thụ thể D1, D2,-
D4 và các thụ thể sérotonin tưp 2(5-HT2a/2c) của
olanzapin.- Ái lực này của serotonin quan trọng hơn ái lực dopamin (hệ số 8/1).-
Các nghiên cứu trên động vật đă khẳng định olanzapin ức chế hành vi leo trèo do
apomorphin gây ra ở chuột, chứng minh olanzapin có tác dụng chống dopamin in
vivo. (Moore &cs 1992). Ức chế đáp ứng cổ điển né tránh có điều kiện đă được
dùng để dự đoán khả năng có thể chống loạn thần của một loại thuốc. Ngược lại,
gây căng trương lực lại xảy ra với sự xuất hiện các triệu chứng ngoại tháp.-
Olanzapin ngăn chặn đáp ứng né tránh có điều kiện ở liều rất thấp so với liều
gây căng trương lực. Tác dụng này không thấy ở các thuốc chống loạn thần cổ điển
(Moore &cs 1993).
Khi dùng liều thấp so với liều cần thiết
olanzapin ngăn chặn hành vi qua trung gian -dopaminergique gây ra (Moore &cs
1993; Bymaster &cs 1994). Olanzapin cũng có ái lực với các thụ thể cholinergique
như ức chế run do oxotrémonin gây ra ở loài chuột (Moore &cs1992) Tác dụng chống
cholinergique và đối kháng thụ thể 5-HT2a/2c cũng như sự đối kháng yếu hơn của
các thụ thể D2, làm giảm mức độ trầm trọng của các triệu chứng ngoại
tháp và cả nguy cơ rối loạn vận động muộn (Miller & Hiley, 1974; Iversen S. D và
Iversen L. L 1975; Coulemans &cs 1984).
Khi sử dụng dài ngày, olanzapin làm giảm
chọn lọc số lượng neuron dopaminergique có hoạt tính tự phát tại vùng viền,-
không phải tại thể vân.- Tác dụng này của olanzapin trên tế bào với dopamin
giống tác dụng của clozapin (Stockton& Rasmussen 1993; Stockton &cs 1994).
Trái ngược với các thuốc chống loạn thần
khác, olanzapin tăng tỷ lệ đáp ứng trong các test xung đột (Benvenga & Leander
&cs 1994). Olanzapin có thể thay thế clozapin trong một nghiên cứu về khả năng
sai biệt dược lư đồng thời, cho thấy sai biệt dược lư của chúng giống nhau
(Moore & cs 1992). Các nghiên cứu dược động học cho phép xác định các tham số
đặc trưng của olanzapin như PIC huyết tương đạt được sau 4,9 giờ, độ thanh thải
toàn phần từ 27,5l/giờ và thời gian bán huỷ 34 giờ (v́ vậy dùng liều duy nhất
trong ngày).
Theo bốn nghiên cứu lâm sàng trên
2914 bệnh nhân TTPL, rối loạn dạng phân liệt hoặc cảm xúc phân liệt đáp ứng tiêu
chuẩn DSM III-R ghi nhận olanzapin có hiệu quả và dung nạp tốt so với giả dược
và haloperidol. Nghiên cứu hiệu quả chống loạn thần toàn phần,- đánh giá sự thay
đổi điểm số trung b́nh toàn phần thang BPRS hợp nhất (Woerner &cs) và thang BPRS
xuất phát từ PANSS (Key & cs 1986) cũng như đánh giá trên CGI (Guy &cs 1976) đă
chứng minh tính ưu việt của olanzapin so với giả dược, haloperidol (Woerner
&cs). Đối với các triệu chứng dương tính của BPRS,- olanzapin hiệu quả cao hơn
nhóm giả dược và haloperidol. Trong nhóm triệu chứng âm tính của BPRS & SANS
(Andraesen &; Adraesen &Olsen1982), olanzapin đă tỏ ra hiệu quả hơn haloperidol
và giả dược trên các triệu chứng thiếu sót ( p<0, 005). Ở công tŕnh thứ tư tỷ
lệ đáp ứng xác định theo tiêu chuẩn chặt chẽ (giảm ít nhất 40% chỉ số thang điểm
BPRS) sau ít nhất 3 tuần điều trị rất có ư nghĩa ở nhóm dùng olanzapin so với
nhóm dùng haloperidol (p<0,001). Trong nhóm thử nghiệm HGAJ so sánh olanzapin
với halope-ridol về các triệu chứng trầm cảm đánh giá bằng MADRS, olanzapin hiệu
quả giảm triệu chứng trầm cảm kèm theo rơ rệt hơn haloperidol (p<0, 005).
Nghiên cứu triệu chứng ngoại tháp với
thang Simpson-Angus và thang mất vận động của Barnes đă chứng minh sự dung nạp
hơn hẳn của olanzapin so với haloperidol và không có yếu tố gây ngoại tháp với
liều phụ thuộc. Không ghi nhận sự thay đổi ECG như tần số hoặc thay đổi Qtc.
Những tác dụng phụ hay gặp nhất là tăng
trọng lượng cơ thể, ngủ gà, chóng mặt và mất vận động. Trung b́nh trọng lượng cơ
thể tăng 2kg,- thường xảy ra ở phần lớn bệnh nhân dùng liều khởi đầu 15mg/ngày
và có chỉ số cơ thể thấp.
Về dung nạp sinh học, có tăng nhẹ men
tran-saminase ở 2,1% bệnh nhân dùng olanzapin. Có ghi nhận tỷ lệ prolactin huyết
tương tăng lúc bắt đầu điều trị nhưng có khuynh hướng giảm dần và luôn thấp hơn
ở bệnh nhân dùng haloperidol (p<0, 001). Các xét nghiệm huyết học cho phép kết
luận olanzapin không gây biến chứng độc hại. Người ta đă dùng olanzapin cho 32
bệnh nhân TTPL có tiền căn bị biến chứng huyết học khi dùng clozapin cho thấy
không có di chứng giảm bạch cầu đa nhân trung tính và bệnh bạch cầu.
Tất cả những số liệu dược động học,- lâm
sàng và sinh học đă khẳng định tính không điển h́nh của olanzapin và hiệu quả
của nó đối với các rối loạn của bệnh TTPL và các dấu hiệu thiếu sót cũng như các
biểu hiện trầm cảm kèm theo. Sự dung nạp tốt về lâm sàng, sinh học và dễ sử dụng
làm cho olanzapin trở thành loại thuốc hứa hẹn trong điều trị bệnh TTPL.
Theo L-information psychiatrique 10/1996:
Olanzopine pourquoi un nouvel
antipsychotique-
Bs Phạm Văn Trụ.
Hội nghị toàn cầu lần thứ 8 về loạn cương dương tại
Amsterdam
Sau kỳ họp lần thứ 7 tại San Francisco,
Mỹ, Hội Quốc Tế Nghiên cứu Loạn Cương Dương SIR (1) đă lại họp toàn cầu
lần thứ 8 ở Amsterdam, hà Lan, từ
ngày 24 đến 28-8-1998 tại trường Đại học VRIJE
Loạn cương dương (LCD=Erectile
Dysfunction = ED) hiện nay đă được đa số các quốc gia chấp nhận để thay thế
những từ bất lực, liệt dương, nhược dương, yếu sinh lư... vừa không chính
xác, vừa rất dễ "chạm tự ái". Trạng thái LCD được mô tả như: trường hợp của một
người đàn ông, tuy vẫn c̣n ham muốn, nhưng "cơ quan liên hệ- không đủ khả năng
ĐẠT rồi DUY TR̀ "chất lượng" để có thể tiến hành "sinh hoạt" thỏa đáng. Do ảnh
hưởng của cơn sốt VIAGRA,- t́nh huống nói trên đă được mọi người biết đến nhiều
hơn, đồng thời các nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ các ông bị LCD cao hơn dự kiến
rất nhiều, chiếm khoảng 10% toàn bộ nam giới của một nước. Tuy không do tuổi tác
gây ra, nhưng đa số các "đại nhân" ở trong trạng thái "mất vui" này, đều trên 40
tuổi, thường đang có vị trí xă hội "nhất định", có quyền hoặc có tiền, nên LCD
ngày càng phát triển thành thị trường lớn đối với các công ty dược quốc tế, và
mỗi kỳ họp toàn cầu ISIR đều được soi như cơ hội tiếp thị vô cùng quan trọng, để
chào hàng những phương tiện chẩn đoán hoặc điều trị mới nhất.
Theo chương tŕnh mỗi ngày sẽ có một chủ
đề trọng tâm cùng với những "yếu tố vệ tinh" kèm theo. Thứ ba 25/8 được dành
cho: 15 năm điều trị bằng phương tiện tiêm thể hang do Bs Ronald Virag,
người phát minh, chủ tŕ. kề từ
khi xuất hiện trên hành tinh cho đến nay, anh đàn ông chỉ đ̣i hỏi duy nhất hai
điều, trước hết là ĐẠT vào lúc anh ta cần sử dụng và DUY TR̀ một " thời gian
nhất định" đủ để sử dụng thỏa đáng. Nếu không được như vậy, cho đến nay tất cả
mọi phương tiện trị liệu cho dù Đông, Tây, Nam, Bắc cũng chỉ đem lại những kết
quả "không đồng bộ", quá lắm th́ nó lại "lên" vào những lúc chẳng ai cần, rồi
nhiều khi cần th́ "được", nhưng không kéo dài đủ để sử dụng...v.v... Cho đến
ngày 25/6/1980, BS Ronald Virag trong lúc đang phẫu thuật hạ bộ một người đàn
ông, đă tiêm lầm Papaverin vào trong thể hang, gâ- nên một cơn
cương "quá cỡ thợ mộc". Gây cương nhân tạo bằng dược phẩm đă chính thức
ra đời từ đó, và hiện nay chừng 40 loại thuốc khác nhau đang được sử dụng. Tại
các nước tiên tiến: Mỹ, Canada, Úc... chỉ riêng có PGE1 (Prostaglandin E1 tức
Alprostadil) sản xuất theo quy mô công nghiệp mới được phép lưu hành, nhưng ở
những quốc gia khác, bác sĩ điều trị có thể dùng đơn chất hoặc hợp chất gồm 2-3
thậm chí 6 dược phẩm khác nhau để gây cương theo ư muốn. Trong khi Papaverin đơn
thuần hầu như không c̣n được sử dụng, do kết quả không ổn định và lâu dài về sau
thường làm xơ hóa các mô ở chỗ tiêm. Sau nhiều thỏa luận sôi nổi, đa số đại biểu
đều nhất trí là cho đến nay, nếu người đàn ông không ngán ngại th́ tiêm thể hang
vẫn phải kể như phương tiện điều trị hữu hiệu nhất và chắc chắn nhất để giúp
"thực hiện ư đồ". V́ cho dù cương không hẳn đă giải quyết được tất cả, nhưng lại
là tất cả, nếu không cương lên, kể như chẳng c̣n ǵ để nói nữa.
Ngày thứ tư 26/8 được dành cho giải phẫu,
sinh lư, bệnh lư, điều trị học... Cơ chế cương một lần nữa lại được xác
định như hiện tượng vô cùng phức tạp và đa dạng, chính v́ vậy mà tất cả mọi thứ
thuốc đều có thể hiệu nghiệm do "phước chủ may thầy", hoặc chẳng hiệu nghiệm ǵ
cả. Ngoài tiêm trực tiếp thể hang, các phương tiện gây cương khác cũng được báo
cáo: PGE1 nhét niệu đạo MUSE và hai thuốc uống mới, chuẩn bị cạnh tranh với
VIAGRA là Apomorphin (SPONTANE) và Phentolamin (VASOMAX). Đồng thời các cung
cách điều trị theo kiểu Mỹ, Châu Mỹ Latinh, Ư, Hà Lan, Úc..v.v... cũng được lần
lượt tŕnh bày trước khi hội nghị kết thúc bằng những thảo luận về lồng ghép bộ
phận giả. Tuy đắt tiền, nhưng cách giải quyết này vẫn được ưa chuộng tại Mỹ,
Canada... trong thời điểm mà việc phẫu thuật trên các mạch máu nhằm gia tăng lưu
lượng tuần hoàn, để "chi viện" thêm cho "nó", vẫn chưa có ǵ khả quan hơn so với
Hội nghị lần trước ở San Francisco.
Chẩn đoán rồi điều trị là chủ đề của ngày
Thứ Năm 27/8 với những phương tiện cực kỳ tối tân như đo điện cơ trơn ở thể
hang, X quang thể hang... chỉ để phục vụ nghiên cứu.
Về điều trị, ngoài hai hợp chất sẽ được
sản xuất theo quy mô công nghiệp dùng tiêm vào thể hang gồm Papaverin-
Phentolamin rồi Phetolamin- VIP, mọi người đều tập trung sự chú ư vào thuốc uống
là VIAGRA và hai đối thủ cạnh tranh SPONTANE, VASOMAX. Đầu tiên, lẽ dĩ nhiên
VIAGRA chiếm thế "thượng phong" với thành tích trên 2 triệu toa đă kê đơn, đem
lại doanh thu trên 1 tỷ USD chỉ sau vài tháng tham gia thị trường. Mười bốn báo
cáo về VIAGRA lần lượt được tŕnh bày, tập trung vào mức độ an toàn và tất cả
các phản ứng phụ ghi- nhận cho đến nay. Dù sao, nếu cơ quan Quản lư Thực phẩm
Dược phẩm của Mỹ vốn được kể vào hàng "khó khăn hắc ám" nhất thế giới, tiếp tục
cho phép lưu hành th́ sự việc vẫn có thể coi như chưa có ǵ đáng lo ngại. Cần
nhấn mạnh, chống chỉ định với các Nitrat phải được xem như tuyệt đối, uống chung
Nitrat với VIAGRA có thể gây tai biến rất nghiêm trọng. Hai dược phẩm mới
SPONTANE và VASOMAX do những "đại gia" trong làng dược quốc tế sản xuất đă " rút
kinh nghiệm" từ VIAGRA. SPONTANE tan nhanh dưới lưỡi khỏi cần uống, c̣n VASOMAX
không chống chỉ định với Nitrat, đang dự trù tham gia thị trường trong vài tháng
sắp tới.
Ngoài ra, do phương tiện MUSE đă chứng
minh có thể gây cương qua trung gian của thể xốp bằng cách nhét PGE, vào trong
niệu đạo, một tác giả Mỹ đă báo cáo những kết quả sơ bộ đáng phấn khởi về một
loại kem PGE1 thoa vào quy đầu có thể sẽ được đưa vào sử dụng sau năm 2000.
Ngày thứ Sáu 28/8 và cuối cùng, được sắp
xếp để tổng kết các phương tiện điều trị và thảo luận về rối loạn t́nh dục ở phụ
nữ thường có khả năng gây LCD cho người đàn ông. Phương tiện nhét niệu đạo được
bổ sung thêm hợp chất PGE1- Prazosin nhằm gia tăng hiệu quả, đồng thời những
nghiên cứu về việc sử dụng thuốc tiêm thể hang lâu dài nhiều năm cũng được tŕnh
bày. Trong khi đó, ống hút chân không vẫn không bị bỏ quên do c̣n được nhiều
người ưa thích. Việc các đối tượng "tham gia hợp tác" để cùng nhau giải quyết đă
được bàn tán sôi nổi và nhất trí xem như yếu tố quan trọng trong điều trị LCD.
Về chuyên môn, các phương tiện gây cương
hữu hiệu đă được khẳng định gồm: ống hút chân không, tiêm thể hang, nhét niệu
đạo và thuốc uống, mỗi loại đều rất đa dạng, nhiều mẫu mă khác nhau với những ưu
khuyết điểm đặc thù để đáp ứng tốt với mọi yêu cầu của người đàn ông đang ở
trong -t́nh huống tế nhị", hoă- yêu cầu của đối tượng, hoặc của cả hai.
Như vậy là "trị ngọn" chứ đâu phải "trị
gốc"- Hoàn toàn đúng! Nhưng riêng người viết, sau bao nhiêu năm phải đối đầu
giải quyết bệnh cảnh phức tạp này, đă chẳng c̣n tin tưởng vào bất cứ loại thuốc
"trị gốc- nào cả, do chỉ toàn đạt kết quả nhờ "phước chủ may thầy" và hơn nữa,
nếu không kết quả, người dùng đành ráng chịu chứ chẳng dám khiếu nại, thắc mắc
như những trường hợp thấp khớp, loét bao tử... chẳng hạn.
V́ trạng thái Loạn cương dương
cũng đa dạng, muôn màu muôn vẻ như chính bản thân con người. Hăy thử kể 4 "cái
gốc" thường gặp nhất: một ông vừa bị phá sản, người kia có bệnh tiểu đường, vị
thứ ba đang dùng thuốc điều trị cao huyết áp và hạ cholesterol, cuối cùng là anh
thanh niên bị chấn thương cột sống do tai nạn giao thông. Tất cả 4 bệnh nhân nói
trên đều có chung " cái ngọn" là định nghĩa của LCD đă nói ở đầu bài.
Một loại thuốc nào đó, đủ khả năng điều
trị đồng loạt cả 4 cái "gốc" hoàn toàn khác nhau như trên, chỉ có thể có
trong... chuyện thần thoại!
Hội nghị bế mạc vào 5 giờ chiều với buổi
chiêu đăi của đoàn Úc, tặng mỗi đại biểu một con Kanguru để đeo trên ve áo, cùng
với lời mời nồng nhiệt đến Perth vào năm 2000.
BS Trần Bồng Sơn
CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA
TIỀN SẢN GIẬT, NHAU TIỀN ĐẠO, VÀ CÁC hệ
QUẢ bất lợi- TRÊN TRẺ SƠ SINH Ở PHỤ NỮ
MẮC BỆNH CAO HUYẾT ÁP MẠN TÍNH
Phụ nữ- mắc bệnh cao huyếp áp mạn
tính khi mang thai sẽ tăng nguy cơ bị tiền sản giật, và chịu các hệ quả bất lợi
trên trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, trong nhóm này, các yếu tố nguy cơ về các ảnh hưởng
xấu này chưa được biết đến.
Phương pháp: Phân tích dữ liệu về
các hệ quả từ một nghiên cứu đa trung tâm tiến hành trên 763 phụ nữ cao huyết áp
mạn tính dùng aspirin liều thấp để ngừa tiền sản giật. Tiền sản giật được định
nghĩa là protein niệu mới xuất hiện (protein niệu
> 300 mg/24 giờ) trong số
682 phụ nữ không có protein niệu lúc đầu. Trong 81 phụ nữ khác có protein niệu
lúc đầu, tiền sản giật được định nghĩa dựa trên các tiêu chuẩn lâm sàng chặt
chẽ. Mục tiêu nghiên cứu là các hệ quả trên mẹ và trẻ sơ sinh.
Kết quả: Trong số 763 phụ nữ,
193-người có tiền sản giật (25%). Tần suất của tiền sản giật không bị ảnh hưởng
bởi sự hiện diện của protein niệu lúc đầu (27% phụ nữ có protein niệu- so với
25% không có protein niệu ), nhưng tần suất này
cao hơn ở phụ nữ đă bị cao huyết áp ít nhất 4 năm (31% so với 22%; OR: 1.6;-
khoảng tin cậy 95%, 1.1-2.2) và ở phụ nữ đă có tiền sản giật trong lần mang thai
trước (32% so với 23%; OR: 1.6; khoảng tin cậy 95%, 1.1-2.3). Phụ nữ có protein
niệu lúc đầu có khuynh hướng sanh non (<35 tuần của thai kỳ) một
cách có ư nghĩa (36% so với 16%; OR: 3.1; khoảng tin cậy 95%, 1.8-5.3) và trọng
lượng trẻ sanh ra cũng nhỏ hơn so với tuổi thai (32% so với 10%; OR: 2.8; khoảng
tin cậy 95%, 1.6-5.0)
Kết luận: Ở phụ nữ mắc bệnh cao
huyết áp mạn tính, sự hiện hiện của protein niệu- sớm lúc mang thai có liên quan
với các hệ quả bất lợi trên trẻ sơ sinh mà không tùy thuộc vào sự phát bệnh tiền
sản giật.
Theo N Engl J Med 1998;
339:667-71:
Risk factors for preeclampsia, abruptio placentae, and adverse neonatal outcomes
among women with chronic hypertension
BS Nguyễn Van Phượng
|