ĐẶT VẤN ĐỀ:
Theo sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật,
phẫu thuật nội soi nói chung, phẫu thuật nội soi niệu khoa nói riêng, trong thời
gian qua đă có nhiều tiến bộ đáng kể. Số lượng người bệnh được phẫu thuật nội
soi tại bệnh viện B́nh dân TP. Hồ Chí Minh ngày càng tăng. Về phương diện gây mê
hồi sức cũng có nhiều vấn đề khác với những phẫu thuật cổ điển thông thường mà
người làm công tác gây mê hồi sức cần quan tâm thực hiện, theo dơi để đem lại an
toàn tối đa cho người bệnh.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Theo dơi- những người bệnh được mổ nội
soi Niệu khoa tại BV. B́nh Dân.
- Thực hiện và đề nghị phương pháp vô
cảm-hồi sức nào thuận lợi cho người bệnh.
- Tổng kết kinh nghiệm để phục vụ công tác
điều trị và giảng dạy.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Đối tượng nghiên cứu:
-Người bệnh có chỉ định mổ nội soi tại
pḥng mổ nội soi Niệu khoa BV. B́nh Dân.
-Không phân biệt tuổi tác, giới tính hay
bệnh và phương pháp phẫu thuật.
2. Vật liệu nghiên cứu:
- Máy móc dụng cụ để gây mê và hồi sức.
- Dụng cụ để gây tê tủy sống:
Kim chọc ḍ tủy sống số 22, 25 của
công ty B. Braun, loại dùng một lần.
Thuốc Marcaine 0,5% trong dung
dịch Glucose 8%: 20 mg của công ty Astra.-
Phương pháp tiến hành:
Thăm khám và chuẩn bị người bệnh như
trường hợp gây mê- phẫu thuật thông thường.
Chọn phương pháp vô cảm thích hợp.
Thực hiện phương pháp vô cảm
Theo dơi người bệnh trong và sau mổ: xử lư
những t́nh huống bất thường xảy ra.
Thu thập, ghi chép những dữ kiện và xử lư
số liệu theo những phương pháp thống kê.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ ngày 01 tháng 7/1997 đến 01 tháng
9/1998, chúng tôi đă thực hiện và theo dơi được 272 trường hợp mổ cắt đốt nội
soi niệu khoa, gồm có:
-1.- Phái:
|
----------- -Phái
|
Nam
|
Nữ
|
|
-Số trường hợp
|
247
|
25
|
|
---- %
|
90,80
|
9,20
|
------ 2.- Tuổi:
|
Tuổi
|
Số trường hợp
|
%
|
|
10 - 20
|
1
|
0,37
|
|
21-30
|
12
|
4,41
|
|
31-40
|
17
|
6,25
|
|
41-50
|
14
|
5,15
|
|
51-60
|
21
|
7,72
|
|
61-70
|
90
|
33,09
|
|
71-80
|
86
|
31,62
|
|
81-90
|
29
|
10,65
|
|
91
|
2
|
0,74
|
------ 3.- Bệnh mổ:
|
Loại bệnh
|
Số trường hợp
|
%
|
|
Bướu tiền lập tuyến
|
203
|
74,64
|
|
Sỏi niệu quản
|
- 41
|
15,07
|
|
Bướu bọng đái
|
- 14
|
- 5,15
|
|
Hẹp cổ BD
|
-- 11
|
- 4,04
|
|
Bệnh khác
|
---- 3
|
- 1,10
|
4.- Bệnh kèm theo:
|
Loại bệnh
|
Số trường hợp
|
%
|
|
Cao huyết áp
|
69
|
25,37
|
|
Thiếu máu cơ tim
|
- 6
|
- 2,21
|
|
Bệnh hô hấp
|
14
|
-- 5,15
|
|
Bệnh tiêu hoá
|
- 4
|
-- 1,47
|
|
Bệnh khác
|
- 3
|
-- 1,10
|
5.- Thời gian phẫu thuật:
|
Thời gian (phút)
|
Số trường hợp
|
%
|
|
20- 30
|
108
|
39,71
|
|
31-60
|
139
|
51,10
|
|
61-90
|
- 16
|
-- 5,88
|
|
91-120
|
---- 4
|
--- 1,47
|
|
121-150
|
---- 5
|
--- 1,84
|
6.- Lượng máu mất:
|
Lượng máu mất- (ml)
|
Số trường hợp
|
%
|
|
<100
|
149
|
54,78
|
|
101-200
|
- 88
|
32,35
|
|
201- 300
|
- 21
|
- 7,72
|
|
301-400
|
-12
|
- 4,41
|
|
401-500
|
- 2
|
- 0,74
|
7.- Tai biến - Biến chứng:
|
Tai biến, biến chứng
|
Số trường hợp
|
%
|
|
Tụt- huyết áp
|
41
|
15,07
|
|
Lạnh run
|
21
|
- 7,72
|
|
Mạch chậm
|
- 6
|
- 2,21
|
|
Chảy máu
|
14
|
- 5,15
|
8.- Phương pháp vô cảm và tỉ lệ thành
công
|
Phương pháp vô cảm
|
Số trường hợp
|
% thành công
|
|
Gây tê tủy sống
|
263
|
97,72
|
|
Gây mê
|
--- 9
|
100
|
BÀN LUẬN:
Bệnh viện B́nh dân là một trong
những cơ sở áp dụng phẫu thuật nội soi trong niệu khoa có thể nói đầu tiên ở
miền Nam hay trong cả nước. Trong những năm trước, một khi thực hiện phẫu thuật
nội soi, bác sĩ phẫu thuật phải nh́n trực tiếp qua máy nội soi mà thao tác,
nhưng từ năm 1995, khoa phẫu thuật nội soi Niệu được trang bị máy nội soi hiện
đại với đầy đủ dụng cụ; khi thực hiện phẫu thuật nội soi cả kíp mổ được nh́n qua
màn h́nh TV phóng lớn với h́nh ảnh rơ ràng nên giúp các thao tác chính xác góp
phần tăng tỉ lệ thành công của loại phẫu thuật này. Cho nên hiện nay, phẫu thuật
nội soi dùng cắt bướu tiền liệt tuyến, bướu bọng đái hay lôi sỏi niệu quản vùng
chậu là những phẫu thuật thường ngày. C̣n lại những trường hợp như bướu tiền
liệt tuyến có những vấn đề kèm theo như sỏi lớn ở bọng đái không thể lấy sỏi ra
khi thực hiện phẫu thuật nội soi th́ mới thực hiện mổ bọng đái qua ngă bụng.
Trong năm 1992 chỉ có 23/238 (9,66%) trường hợp bướu tiền liệt tuyến được mổ nội
soi, so với trong nghiên cứu này từ tháng 7/1997 đến 7/1998 đă thực hiện được
1330 trường hợp, trong đó chiếm đa số là bướu tiền liệt tuyến có 904 trường hợp
(67,97%). Điều này nói lên thế mạnh của phương pháp mổ cắt đốt nội soi tại BV
B́nh dân trong công tác điều trị bệnh niệu khoa, đặc biệt trong điều trị bướu
tiền liệt tuyến so với phương pháp mổ hở cuả những năm trước kia.(1, 2, 4,
6)
Vấn đề ṛng nước: Trong mổ nội soi
niệu khoa, để làm căng bọng đái và rửa sạch những vết- máu- chảy, người ta dùng
nước ṛng liên tục với một lượng rất lớn, dung dịch này có áp lực thẩm thấu nhỏ
hơn áp lực thẩm thấu của huyết tương nên có thể gây nên hội chứng tái hấp thu
gây giảm sodium /máu. Do vậy cần theo dơi lượng sodium trong máu trước, trong và
sau khi mổ. Triệu chứng sớm của hội chứng nguy hiểm này ở người bệnh c̣n tỉnh là
sự- thay đổi tri giác của bệnh nhân. Phương pháp vô cảm bằng gây tê vùng có thể
giúp phát hiện sớm tai biến nguy hiểm này, nên gây tê tủy sống chiếm vị trí quan
trọng trong phẫu thuật nội soi. Trong loạt này, tuy chưa gặp trường hợp nào bị
hội chứng này, nhưng trong nghiên cứu năm 1997(1) có mấy trường hợp
xét nghiệm nồng độ Natri/máu thấp sau mổ so với trước mổ và một trường hợp bị
giảm Natri/máu nhiều kèm theo biểu hiện triệu chứng phù năo phải điều trị đặc
hiệu, truyền dung dịch sodium ưu trương, người bệnh đă có đáp ứng tốt.
Vấn đề nhiễm trùng: Trong những thủ
thuật, phẫu thuật niệu khoa, vấn đề nhiễm trùng cũng được nhiều tác giả đề cập
đến do ứ đọng nước tiểu. nên cần tôn trọng nguyên tắc vô trùng chặc chẽ, y dụng
cụ vô trùng một cách tuyệt đối.(3,4,7,8)
Vấn đề chảy máu: Trong mổ nội soi
Niệu khoa rất khó ước lượng máu mất do lượng dung dịch ṛng vào bàng quang khi
cắt đốt rộng lớn, mỗi giờ khoảng từ 20-30 lít, nên cần tính toán thật cẩn thận
lượng dịch vào và ra để suy ra lượng máu mất. Trong nghiên cứu này, có 35 trường
hợp (12,87%) với lượng máu mất từ trên 200 đến 500 ml và chỉ có một trường hợp
phải truyền máu (500 ml), chiếm tỉ lệ thấp so với phương pháp mổ. Trong một
nghiên cứu năm 1992,(1) có 126/292 trường hợp (43,15%) máu mất trên
250 - 1000 ml; và trong đó 36 trường hợp phải truyền máu từ 250 ml-1000 ml, sự
khác biệt rất có ư nghĩa. Đây là một thuận lợi nổi bật trong mổ cắt đốt nội soi.(1,3,4,5)
Thời gian phẫu thuật: thường kéo
dài từ 20 phút đến 150 phút, thời gian trung b́nh là 41,66
- 2,40
phút. So với nghiên cứu năm 1992(1) trên 292 người bệnh với đa
số là mổ hở, thời gian mổ trung b́nh là 71,55
- 12,90
phút. Sự khác biệt có ư nghĩa thống kê (t=4,38; p<0,01). Như vậy phương pháp mổ
nội soi có thời gian ngắn hơn.
Vấn đề vô cảm: Trên 97% được thực
hiện- gây tê tủy sống, mức tê cần đủ cao đến T9-10 để người bệnh không bị đau
khi cắt đốt vách bọng đái. Khi chọc ḍ tủy sống nên dùng kim nhỏ để giảm tỉ lệ
đau đầu. Trong vài năm qua, dùng kim chọc ḍ tủy sống số 25 (loại dùng một lần),
nhận thấy tỉ lệ đau đầu rất thấp và chưa cần thiết dùng kim chọc ḍ nhỏ hơn (số
27, 29) v́ đa số người bệnh lớn tuổi, các dây chằng liên đốt thường bị vôi hóa
nên khó chọc ḍ với loại kim nhỏ. Hơn nữa, tỉ lệ đau đầu thường gặp ở những
người bệnh trẻ tuổi hơn. Trong nghiên cứu năm 1992,(1) có 92,86%
trường hợp được thực hiện với phương pháp vô cảm bằng gây tê tủy sống và kết quả
cho thấy hầu hết đều đáp ứng yêu cầu phẫu thuật cũng như t́nh trạng người bệnh.
Dùng phương pháp vô cảm gây tê tại chỗ chỉ
thực hiện ở những trường hợp mở bàng quang ra da để giải quyết bí tiểu cấp tính.
Phương pháp gây mê nội khí quản được thực
hiện khi có chống chỉ định của gây tê tủy sống hoặc gây tê tủy sống thất bại.
Từ những thực tế đă nêu trên, nhận thấy
gây tê tủy sống là phương pháp vô cảm tối ưu trong phẫu thuật cắt đốt nội soi
niệu khoa.(1,2,4,6)
Vấn đề tụt huyết áp: Nếu tính những
trường hợp có huyết áp thấp hơn 20% so với lúc đầu, trong nghiên cứu này có 41
trường hợp (15,07%). Đa số thường thấy ở những người bệnh lớn tuổi cao, có tiền
căn cao huyết áp, chưa được truyền dịch đủ để bù đắp khối lượng tuần hoàn trước
khi gây tê hoặc mức tê quá cao gây ức chế hệ thần- kinh giao cảm, vận mạch. Để
hạn chế tụt huyết áp, ngoài tư thế nằm sản phụ khoa kê chân cao do yêu cầu phẫu
thuật, cần phải làm đầy khối lượng tuần hoàn bằng cách truyền một lượng dịch
tinh thể từ 500-1000ml trước khi gây tê. Khi huyết áp tụt nhiều, xử trí bằng
cách cho người bệnh thở dưỡng khí, tăng tốc độ dịch truyền, sử dụng thuốc vận
mạch Ephedrine từ 05- 10 mg/ lần pha loăng trong mỗi lần chích tĩnh mạch, tất cả
trường hợp đều đáp ứng thuận lợi.
Vấn đề lạnh run: thường gặp trong
gây tê tủy sống. Nguyên nhân có thể do tác dụng phụ của dịch truyền tĩnh mạch
hay dung dịch dùng để ṛng bàng quang khi cắt đốt hoặc do các yếu tố khác. Bệnh
nhân than lạnh từ trong ruột lạnh ra và có biểu hiện rung cơ hai chân, hai tay
hay toàn thân, tuy nhiên không có trường hợp nào bị rối loạn hô hấp, tuần hoàn.
Trong nghiên cứu này, có- 21 trường hợp (7,72%). Xử trí bằng cách: giảm tốc độ
dịch truyền, cho người bệnh thở dưỡng khí, đắp ấm, nếu không thuyên giảm, sử
dụng Dolargan từ 25 - 50mg chích tĩnh mạch, hầu hết các trường hợp đều đáp ứng
thuận lợi.
KẾT LUẬN:
Phẫu thuật nội soi trong chẩn đoán và điều
trị phát triển rất nhanh trong những năm gần đây và đă trở thành một phương pháp
điều trị được ưa chuộng. Về phương diện gây mê hồi sức, nhận thấy gây tê
tủy sống đủ mức te-là phương pháp vô cảm có nhiều thuận lợi trong phẫu
thuật nội soi niệu khoa. Tuy nhiên cần đề pḥng, ngăn ngừa hội chứng hấp
thu làm hạ sodium trong máu hoặc những tai biến do phương pháp vô cảm
gây ra. Ngoài ra cần hạn chế hay điều chỉnh- kịp thời những rối loạn do phẫu
thuật nội soi
SUMMARY:
Anesthesia Reanimation for endoscopic intervention in
Urology.
From July 01, 1997 to September 01
1998 in B́nh Dân hospital, the anesthesia department, we have performed and
followed up 272 cases of endo scopic interventions in urology including 203
cases (74,63%) of Transurethral Resection of Prosta-tectomy (TURP) and 41 cases
(15,08%) of ureteral stone removal. Regional anesthesia for TURP in form of
spinal anesthesia requiring regional anesthesia to at least- T 9-10 mandatory to
ablate stimuli from the distended bladder, almostall of cases (263/272:96,69%);
has many benefits inclu-ding the patient being able to recognize signs of
intravascular absorption of irrigating fluid which is non-electrolyte hypotonic
Sorbitol 3,6 % solution, and to make an early diagnosis of bladder perforation
possible.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.- Nguyễn Văn Chừng, MD. Phương pháp Vô Cảm và Hồi Sức
trong mổ Tiền Liệt Tuyến. Tạp chí Y Học, chuyên San của tập II, công tŕnh
Nghiên Cứu Khoa Học. Đại Học- Y Dược TP. Hồ Chí Minh năm 1994. P: 261 - 265.
2.-- Nguyễn Văn Chừng, Lê thị Hồng Hoa,Trương Thanh Hoàng.
Hội Chứng hấp thu trong mổ cắt đốt nội soi Niệu Khoa. Y Học TP. Hồ Chí Minh. Hội
nghị Khoa Học Kỹ Thuật khoa Y lần thứ XVII. Tập I. 1997. P: 25 - 29.
3.- Stanley Deutsch, MD. Ph D. Anesthesia for Urological
Surgery. Annual Refresher- Course Lectures. San Diego, 1991P: 151/ 1- 4.
4.-- L. Jacob, J. L. Pansard. Anesthésie et réanimation en
Urologie. Maloine Paris 1994.
5.- G. Edward Morgan, Jr.; Maged S. Mikhail. Clinical
Anesthesiology. A Lange medical book, 2nd edition, 1996.
6.- Richard I. Mazze. Anesthesia and the Renal and
Genito-urinary System. Anesthesia. Ronald D. Miller. 3rd edition
1990, P:1791 - 1808.
7.- Dr. L. Jacob. Rein. Anesthésie Réanimation Urgences.
Tome II, P: 1167 - 1277. Université Paris VI. Médecins du Monde. 1994.
8.- Michael J. Murray, Douglas B. Coursin, Ronald G.
Pearl, Donald S. Prough. Renal critical care/ Critical Care Medicine
perioperative management. Lippincott - Raven Publishers. Philadelphia. Newyork.
1997.P: 551 - 575.