GIỚI THIỆU
Glucocorticoid đã tạo nên cuộc cách mạng
trong điều trị nhiều lọai bệnh, giảm biến chứng thương tật trong viêm khớp dạng
thấp và giảm tử vong trong những bệnh lý khác như hen phế quản. Tuy nhiên
Glucocorticoid gây ra nhiều tác dụng phụ, một trong những tác dụng phụ gây tai
hại nhất là loãng xương (LX).- Ðó là tình trạng giảm khối xương và phá vỡ siêu
cấu trúc xương đưa đến những tổn thương nhỏ.(1) Toàn bộ hệ xương đều
yếu và dẫn đến gãy xương. Nnhững vị trí thường bị gãy như thân đốt sống, đầu xa
xương quay, phần gần của xương đùi, nhưng những xương dài, xương sườn cũng có
thể bị gãy.
Có hai lọai LX: nguyên phát và thứ phát.
LX thứ phát do bệnh hệ thống hay do thuốc như glucocorticoid, diphenylhydantoin.
LX do dùng glucocorticoid kéo dài tiến triển rất nhanh trên trẻ em và trên người
bệnh có nguy cơ cao, ngay cả khi dùng corticoid liều thấp.2
Chiến lược điều trị LX thứ phát cũng giống như nguyên phát.
CƠ CHẾ BỆNH sinh
Rối loạn tái cấu trúc xương, mất chất
xương do giảm tạo xương và tăng hủy xương. Glucorticoid tương tác trong quá
trình chuyển hóa Ca ở nhiều mức độ, giảm tổng hợp protein cơ bản của chất nền
(matrix) của xương như collagen type I và osteocalcin từ nguyên cốt bào
osteoblast (cơ chế quan trọng nhất), ức chế hấp thu Ca ở ruột và ống thận,
giảm hormon sinh dục nhất là sau mãn kinh (nam và nữ), nhưng không thay đổi
chuyển hóa vit D. (2,3)
Sau vài tháng dùng corticoid sẽ xuất hiện
mất bè xương (trabecular bone) trong 30% trường hợp,(3) mật độ xương
(bone density) giảm 10-20% so với trước khi dùng corticoid. Mất chất xương xảy
ra trên hầu hết bệnh nhân với mức độ như nhau. Do đó khi điều trị bằng
glucocorticoid, độ mất chất xương tuỳ thuộc vào mật độ xương ban đầu nghĩa là
phụ thuộc tuổi, phái tính, cân nặng và bệnh cơ bản. Lượng corticoid tích tụ cũng
ảnh hưởng đến mật độ xương. Gãy xương ở 1/3 bệnh nhân sau 5-10 năm dùng
corticoid, thường ở những vị trí giàu bè xương như thân xương sống xương sườn và
gãy xương hông cũng tăng gấp ba lần. Ðặc biệt ở những bệnh nhân ghép cơ quan có
nguy cơ cao bị LX: trong một nghiên cứu(3) cho thấy - số bệnh nhân
ghép tim bị gãy xương trong năm đầu sau phẫu thuật ghép.
Những bất thường này vẫn tiếp tục kéo dài
ở người trưởng thành dù đã giảm liều hoặc ngưng corticoid. Nhưng ở trẻ em, nếu
được điều trị, hình ảnh học của cột sống được cải thiện do tạo được lớp xuơng
nội sụn xung quanh xương bị loãng cũ, cải thiện được khối lượng xương (nồng độ
ostecalcin huyết thanh tăng), tăng tạo xương, giảm hủy xương.(2)
Nghiên cứu của Adachi và cộng sự(4)
đã nhấn mạnh LX như một diễn tiến tự nhiên của việc dùng corticoid kéo dài.
Nghiên cứu này cho thấy trong nhóm bệnh nhân nữ mãn kinh đã dùng corticoid mà
không được điều trị chống LX (chỉ dùng Ca), có đến hơn 20% bị gãy xương trong
năm đầu. Ðiều này đặt nặng vai trò của điều trị dự phòng ngay từ khi khởi sự
dùng corticoid.
YẾU TỐ NGUY CƠ 5
Sau đây là những yếu tố nguy cơ:
|
Mãn kinh sớm
Chủng tộc Caucasian hoặc Á châu
Gầy ốm
Tiền căn gia đình
Không sanh đẻ
|
Hút thuốc
Nghiện rượu
Ít vận động
Ăn ít Ca
|
Bệnh Coeliac
Bệnh tuyến giáp
Ðiều trị steroid
Cường cận giáp
|
ÐIỀU TRỊ loãng xương
Ngừng corticoid, xương sẽ cải thiện rõ
rệt. Sử dụng glucocorticoid liều cách ngày hoặc dưới dạng khí dung hay bơm hậu
môn cũng làm giảm LX.(3)
Sử dụng estrogen, testosteron, vitamin D
và các đồng chất, calcitonin ngăn được hiện tượng mất chất xương do dùng
glucocorticoid.
Vit D điều hòa Ca2+ nội môi
bằng cách thúc đẩy sự hấp thu Ca ở ruột, tương tác với PTH để tăng vận chuyển Ca
(mobilization) từ xương và giảm bài tiết ở thận. Vit D ảnh hưởng trực tiếp và
gián tiếp lên những tế bào tái tham gia cấu trúc xương.(2)
Việc bổ sung Ca, vit D cho kết quả không
hằng định. Thêm Ca chỉ làm giảm tiêu xương nhưng không hoàn toàn ngăn chận sự
mất xương.(3) Kết quả của hai nghiên cứu gần đây phối hợp Ca và
calciferol cho kết quả ngược lại. Calcitriol (sản phẩm chuyển hóa ban đầu có
hoạt tính của vit D) ngăn mất xương ở cột sống nhưng không ngăn được ở xương
đùi. Một nghiên cứu khác, vit D không hiệu quả hơn Ca trong ngăn ngừa mất xương
ở cánh tay và hiệu quả giảm gãy xương cũng không rõ.(3,4)
Hormon sinh dục thay thế tỏ ra có hiệu quả
cho phụ nữ mãn kinh và nam giới có biểu hiện suy sinh dục, làm giảm chuyển hóa
xương và bảo tồn được khối xương. Estrogen kết hợp 0,625mg /ngày là liều thấp
nhất có hiệu quả. Thời gian điều trị đòi hỏi phải ít nhất 5 năm.(2)
Calcitonin là hormon hạ Ca máu được phát
hiện năm 1962 có tác động đối lập với- PTH, làm gia tăng tái cấu trúc xương bằng
cách kích thích tạo xương từ nguyên cốt bào, tác động đặc biệt lên hủy cốt bào
qua việc ức chế sự tiêu xương.(1,2,6) Trên thị trường có 2 lọai:
Salmon calcitonin -(Calcimar, Miacalcin) dùng TB, TDD và calcitonin-
người tổng hợp (synthetic human calcitonin (Cibacalcin) TDD.
Fluorid tăng liên tục khối xương ở cột
sống, giảm gãy xương cột sống nhưng làm tăng nguy cơ gãy xương hông và các xương
khác ngoài xương cột sống.(2) Fluoride lại cho đáp ứng không giống
nhau trong mọi trường hợp. Nhiều người bị tác dụng phụ (đau đầu gối, bàn chân,
mắt cá) và không dung nạp thuốc vì ói. Vì vậy fluorid không được sử dụng trên
lâm sàng.
Gần đây, biphosphonat là những đồng phân
của pyrophosphonat, được lựa chọn để điều trị loãng xương do glucocorticoid vì
có khả năng ức chế sự tiêu xương(2) và có ít tác dụng phụ. Cơ chế
không rõ, có lẽ biphosphonat không kết hợp với chất cơ bản của xương và được hủy
cốt bào hấp thu làm mất chức năng của hủy cốt bào, khiến cho hiện tượng tiêu
xương giảm đi.(2)
Etidronat (etidronat) là biphosphonat đầu
tiên được sử dụ-g trên lâm sàng. Nhiều nghiên cứu đối chứng gần đây về LX sau
mãn kinh cho thấy etidronat làm tăng khối xương cột sống và xương chậu ở mức độ
vừa và có thể bảo vệ xương không bị gãy.(2,7,10,11)
Etidronat ngăn chận hiện tượng mất chất xương ở cột sống và mấu chuyển xương
đùi.(4) Vẫn chưa biết rõ hiệu quả của etidronat trên đậm độ xương và
giảm gãy xương có kéo dài hơn 1 năm được hay không. Dù không sinh thiết xương,
nhưng người ta nhận thấy phosphatase kiềm chuyên biệt cho xương (dấu hiệu đặc
trưng của sự tạo xương) lúc đầu giảm, đến tuần thứ 52 mới tăng về bình thường.
Một dấu ấn (marker) nhạy cảm cho sự tiêu xương là N-telopeptide giảm còn 52,5% ở
tuần 52 (kết quả này giống như điều trị với hormon thay thế ở người nữ mãn
kinh).(4)
Một khiếm khuyết của etidronat là ức chế
quá trình vô cơ hóa xương mà kinh nghiệm lâm sàng cho thấy có thể gây nhuyễn
xương về sau. Nên dùng etidronat theo chu kỳ mà không sử dụng liên tục (xen kẽ
với Ca và vit D). Ðiều trị 2 tuần bằng etidronat cho mỗi 3 tháng và kéo dài
trong 3 năm để làm giảm khiếm khuyết này.
Hiện nay đã ra đời những biphosphonat thế
hệ thứ hai và thứ ba nhằm giảm được tác dụng ức chế này1 do đó có
nhiều khả năng sẽ thay thế etidronat trong vài năm tới. Ðó là alendronat,
residronat, teludronat còn trong vòng thử nghiệm.
1) Quan niệm mới trong sử dụng nhóm biphosphonat
Trong nhiều năm nay, etidronat đã là thuốc
hàng đầu điều trị loãng xương. Nhưng có hai sự kiện đã làm thay đổi cách nhìn.(1,4)
Một là, số liệu theo dõi 3 năm của một nghiên cứu đa trung tâm tại Mỹ cho thấy
không có khác biệt giữa việc giảm tỷ lệ gãy xương giữa nhóm etidronat và nhóm
chứng.(8) Cộng thêm những mối bận tâm về nhuyễn xương đã khiến FDA
không chấp nhận etidronat. Hai là trong 2 năm nay alendronat đã chứng tỏ hữu
hiệu hơn cả trong nhóm biphosphonat đang lưu hành vì gia tăng được đậm độ xương
hông, xương sống và toàn thân sau 3 năm điều trị, giảm xuất độ gãy xương sống,
xương chậu, xương xánh tay ở 50% phụ nữ mãn kinh.(9,10) Khác với
etidronat, alendronat không gây nhuyễn xương và nhanh chóng được FDA chấp thuận.(4,14)
Không bao lâu sau, thử nghiệm FIT (The Fracture Intervention Trial) cho thấy
alendronat giảm gãy xương ở phụ nữ mãn kinh và ít tác dụng phụ.(15)
Hiện nay các bác sỹ thực hành ở Mỹ đã chuyển sang dùng alendronat thay vì
etidronat với liều 10mg/ngày.(12)
Trong khi đó, etidronat vẫn được ghi toa ở
những nước khác do an toàn cao, cải thiện được đậm độ xương, giá thành thấp. Tuy
nhiên, có 3 vấn đề phải cân nhắc:
(1) Mức tăng đậm độ xương có tương ứng với
mức độ ngăn ngừa gãy xương- Những nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ gãy xương
giảm không nhất thiết phải tương xứng với mức độ tăng đậm độ xương.
(2) Không có sự khác biệt giữa alendronat
và etidronat trong ngăn ngừa mất xương ở người nữ mãn kinh khỏe mạnh vì tất cả
biphosphonat đều làm chậm mất xương trong thời mãn kinh.
(3) Về tính an toàn: nếu dùng etidronat
đúng cách, dung nạp etidronat trên hệ tiêu hóa có chiều hướng tốt hơn và không
gây nhuyễn xương.(8)
(4) Giảm tỷ lệ gãy xương ở phụ nữ mãn kinh
nhưng không chắc chắn rằng etidronat ngăn được gãy xương. Theo một phân tích đa
trung tâm,(8,14,15) alendronat làm giảm gãy xương ở tất cả đối tượng
nghiên cứu còn etidronat chỉ giảm gãy xương ở những phụ nữ có mật độ xương thấp
nhất hoặc đã từng bị gãy xương. Trong thử nghiệm FIT, có <5% bệnh nhân dùng
alendronat giảm được đậm độ xương, trong khi đó số không đáp ứng ở nhóm
etidronat cao gấp 3-4 lần.
Như vậy việc chọn lựa etidronat hoặc
alendronat tùy thuộc vào sự hiểu biết của bác sỹ, khía cạnh an toàn thuốc, những
nguy cơ làm điều trị thất bại, giá thành của thuốc, và hơn hết là lưu ý đến mong
muốn của người bệnh.
2 Tác dụng phụ của nhóm biphosphonat
Tất cả biphosphonat đều kém hấp thu ở ruột
nên phải uống xa bữa ăn (trước hoặc sau 90ph) và chỉ uống với nước. Các rối lọan
tiêu hóa thường gặp khi dùng nhóm này là đau bụng, tiêu chảy, táo bón, bỏng rát
sau ức, khó tiêu. Nhiều nghiên cứu đã báo cáo những trường hợp viêm thực quản do
hóa chất hoặc ăn mòn thực quản khi uống alendronat đặc biệt ở liều 40mg/ngày.
Viêm thực quản ăn mòn cũng gặp ở người dùng nhóm biphosphonat nhẹ hơn như
palmidronat.(11)
Ðể giảm kích thích thực quản, khởi đầu nên
uống vào buổi sáng với nhiều nước (180-240ml nước trắng) ít nhất 30ph trước khi
ăn hoặc uống nước giải khát vào buổi sáng và không nên nằm trong 30ph sau khi
uống. Những yếu tố thúc đẩy cho viêm thực quản nặng khi dùng alendronat như:
uống thuốc với ít nước, uống trong tư thế nằm hoặc nằm sau khi uống, cứ tiếp tục
uống dù đã có biểu hiện viêm thực quản hay có bệnh lý thực quản trước đó khiến
thời gian tiếp xúc với thuốc kéo dài. Công thức của alendronat là muối mononatri
của acid alendronic giúp tăng độ tan của thuốc và dễ dàng hấp thu ở đọan đầu
ruột non.(13)
KHUYẾN CÁO
Cần đo mật độ xương cột sống trước khi
điều trị corticoid. Phải điều trị loãng xương cho những người có mật độ xương ở
giới hạn dưới của giá trị bình thường của người trẻ. Khi không thể đo mật độ
xương, quyết định điều trị LX phải dựa vào các yếu tố nguy cơ. Ðiều trị cho tất
cả bệnh nhân nữ lớn tuổi dùng corticoid kéo dài và cả những người bị gãy xương
sau một va chạm nhẹ. Khi điều trị, cần bổ sung Calcium sao cho tổng lượng nhập
vào đạt 1,5g/ngày và lưu ý điều trị suy sinh dục. Nếu chức năng sinh dục bình
thường hoặc đối tượng cần giảm hoặc chống chỉ định sử dụng hormon thay thế, đa
số tác giả khuyên dùng biphos-phonat. Phối hợp calcitriol và calcitonin chỉ dành
cho những trường hợp bệnh xương nặng.
Chúng ta buộc phải chấp nhận mất chất
xương và một tỷ lệ gãy xương như một hậu quả không tránh khỏi khi dùng corticoid
liều cao. Ðiều cần thiết hiện nay là xem nguy cơ LX như một thành tố quan trọng
khi quyết định dùng glucocorticoid cho người bệnh trước khi gãy xương xảy ra.
TÓM TẮT
Liệu pháp glucocorticoid kéo dài đã góp
phần giảm biến chứng và tử vong trong nhiều bệnh. Nhưng một biến chứng-phải chấp
nhận là loãng xương có tính chất tàn phế do đưa đến hậu quả gãy xương. Vì vậy
nhất thiết phải đặt vấn đề dự phòng trước khi quyết định dùng corticoid. Những
đối tượng cần dự phòng bao gồm: người có mật độ xương ở giới hạn dưới của giá
trị bình thường, phụ nữ lớn tuổi có hay không có tiền sử gãy xương sau một va
chạm nhẹ, đối tượng những có nguy cơ khác. Nhóm biphosphonat được ưa chuộng cho
điều trị vì hiệu quả và tính an tòan cao. Alendronat tỏ ra ưu điểm hơn hẳn
etidronat vì gia tăng mật độ xương toàn thân và giảm gãy xương rõ rệt. Tuy nhiên
chọn lựa etidronat hay alendronat còn tùy theo kiến thức của thầy thuốc, nguy cơ
tác dụng phụ, giá thành của thuốc. Cần bổ sung Ca và lưu ý sử dụng hormon sinh
dục thay thế cho bệnh nhân nam hoặc nữ mãn kinh có biểu hiện suy sinh dục. Phối
hợp calcitriol và calcitonin chỉ dành cho những trường hợp loãng xương nặng.
Từ khóa: loãng xương-mãn
kinh-etidronat-alendronat
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.-- Robert Marcus. Agents affecting calcification and
bone turnover. Goodman & Gilman-s. The pharmacological basis of
the therapeutics. 9th ed. Mc Graw Hill; 1996:1529-42.
2.-- Stephen MK, Michael FH, Metabolic bone diseases.
Principles of internal medicine. Harrison-s Vol.2:2176
3.-- Ian RR. Preventing glucocorticoid-induced
osteoporosis. N Eng J Med, 1997:337, 420-21.
4.-- Adachi JD, William GB, Jacques B, et al. Intermittent
etidronat therapy to prevent corticoid induce osteoporosis. N Eng J Med
1997; 337:382-87.
5.-- John, L., Robert, N. Hormon replacement therapy: some
questions answered. J Clin Med Modern Medicine 1996,Vol. 39, No.1.
6.-- Farley, J.R., Tarbaux, N.M., Hall, S.L., Linkhart,
T.K., and Baylink, D.J. The anti-bone-resorptive agent calcitonin also acts in
vitro to directly increase bone formation and bone cell proliferation.
Endocrinology, 1988, 123:159-167.
7.-- Storm, T., Thamsborg, G., Steiniche, T., Genant,
H.K., and Sorensen, O.H. Effect of intermittent cyclical etidronat therapy on
bone mass and fracture rat in women with postmenopausal osteosporosis. N Eng
J Med, 1990, 322:1265-1271.
8.
Harris ST, Watts NB, Jackson RD, et al. Four year study of intermittent
cyclic etidronat treatment of postmenopausal osteoporosis: three years of
blinded therapy followed by one year of open therapy. Am J Med
1993;95:577-67.
9.
Saag K.G., Ronald E., Thomas J.S., and others. Alendronate for the
prevention and treatment of glucocorticoid-induced osteosporosis. N Eng J Med
1998;339: 292-99.
10.
Liberman UA, Weiss SR, Broll J, et al. Effect of oral alendronate on bone
mineral density and the incidence of fractures in postmenopausal osteosporosis.
N Eng J Med 1995;333:1427-43
11.
Chesnut CH III, McClung MR, Ensrud KE, et al. Alendronate treatment of the
postmenopausal osteosporotis women: effect of multiple dosages on bone mass and
bone remodelling. Am J Med 1995;99:144-52.
12.
Siris E, Weinstein RS, Altman R et al. Comparative study of alendronate vs
etidronate for the treatment of Paget-s disease of bone. J Clin Endocrin
Metab
1996;81:961-7.
13.
Piet C, Dieter FL, Laurence JH, Anastasia D, Wendy S, et al. Esophagitis
associated with the use of alendronate. N Eng J Med 1996;335:1016-21.
14.
Rosen C. J. A tale of 2 worlds in prescribing etidronate for osteosporosis.
The Lancet
1997;350:1340.
15.
Black DM, Cummins SR, Karpf DB, et al. Randomized trial of effect of alendronate
on risk of fracture in women with existing vertebral fractures. Lancet
1996;348:1535-41