YẾU TỐ NGUY CƠ DẪN ĐẾN ĐỘC TÍNH TRÊN PHỔI
KHI DÙNG METHOTREXATE TRONG VIÊM KHỚP DẠNG THẤP
Methotrexate (MTX) được dùng như một
thuốc chống thấp trị liệu ban đầu (initial disease-modifying antiheumatic drug)
cho bệnh nhân viêm khớp dạng thấp (VKDT) tiến triển ở giai đọan sớm. Đây là đối
tượng có nguy cơ phá hủy khớp rất cao.1
Trên lâm sàng, khi sử dụng MTX cần lưu ư tác dụng phụ phải ít hơn hoặc bằng với
hiệu quả mang lại. Một số tác dụng phụ có thể được ngăn ngừa hoặc giảm bớt bằng
cách dùng MTX chung với folic acid hoặc folinic acid. Những tác dụng phụ khác
như độc hại lên gan có thể tránh bằng cách theo dơi men gan và albumin huyết
thanh cũng như sớm nhận ra các yếu tố nguy cơ.2- Độc tính trên phổi
biểu hiện trên lâm sàng là viêm phổi mô kẽ.3 Những yếu tố nguy cơ dẫn
đến gây độc cho phổi khi dùng MTX cũng như việc đề xuất theo dơi phù hợp để giảm
tần xuất biến chứng vẫn chưa được biết hết.
Carroll và cs ghi nhận tác dụng phụ lên
phổi của MTX thường xảy ra sớm, vào giai đọan mới dùng thuốc. Trong một nghiên
cứu đa trung tâm của Graciella, độc tính phổi gặp nhiều nhất trong 32 tuần đầu
dùng MTX.4 Liều tích lũy liên quan đến thời gian điều trị nhưng không
tương quan chặt chẽ với tổn thương phổi. Xuất độ bệnh phổi do độc tính của MTX
và biểu hiện lâm sàng chưa được biết đầy đủ. Hơn nữa rất khó phân biệt độc tính
trên phổi của MTX với biến chứng phổi của chính bệnh thấp khớp hay bội nhiễm
phổi. Tiền sử bệnh phổi được nhiều tác giả đồng ư là một nguy
cơ cao dẫn đến độc tính lên phổi của MTX.
Graciella và cs trong một nghiên cứu
bệnh-chứng đa trung tâm đă phân tích nhiều yếu tố bị nghi ngờ góp phần gây độc
tính cho phổi của MTX 4 như bệnh phổi (đang mắc hoặc tiền sử), điều
trị MTX thời gian ngắn, hạ albumin máu, creatinin máu cao, tuổi tác,
nghề nghiệp ít đi lại, hút thuốc, tiểu đường, số lượng các biểu hiện ng̣ai khớp
của VKDT, tổn thương phổi-màng phổi, những thuốc kháng thấp hổ trợ đă dùng trước
đó (đặc biệt là sulfasalazin, vàng uống, d-penicillamin), hạ albumin máu và
triệu chứng thần kinh trung ương trong thời gian dùng MTX. Kết quả phân tích cho
thấy: (1) Tuổi tác đóng vai tṛ trong sinh bệnh VKDT, trong sự đáp ứng điều trị
và kiểu khởi phát độc tính: bệnh lư dạ dày do NSAID, tổn thương gan do MTX
thường gặp trên người lớn tuổi. (2) Hút thuốc và nghề nghiệp phải di chuyển
nhiều khiến đường hô hấp thường xuyên tiếp xúc với những chất gây hại dễ đưa đến
sinh bệnh học của độc tính- phổi do MTX. (3) Tổn thương phổi màng phổi do bất kỳ
nguyên nhân nào được Carroll, Golden và các cs5 ghi nhận là một yếu
tố nguy cơ, nhưng trong nghiên cứu của Graciela, yếu tố này không có ư nghĩa khi
so sánh với những yếu tố khác. Nghiên cứu này một lần nữa khẳng định độc hại cho
phổi xuất hiện nhiều nhất trong thời gian khởi sự dùng MTX.
Những yếu tố được chứng minh không kết
hợp với độc hại cho phổi bao gồm: (1) Tiền sử dùng thuốc kháng thấp: có thể làm
tiến triển bệnh nặng thêm hay góp phần tăng độc tính thuốc kháng thấp
đ̣i hỏi phải dùng đa thuốc. Nhiều tác giả nhận thấy hầu hết bệnh nhân
VKDT bị bệnh phổi do MTX thường dùng muối vàng trước đó điều này chứng tỏ ảnh
hưởng của sự tích tụ độc tính dần. (2) Tiểu đường, một biểu hiện thường thấy ở
bệnh nhân tiểu đường có tổn thương phổi do MTX: khởi phát của tiểu đường thường
đến trước VKDT. Người ta đă biết tiểu đường là yếu tố nguy cơ gia tăng ngộ độc
gan ở người bệnh vẩy nến khi dùng MTX nhưng ảnh hưởng độc trên phổi vẫn chưa
được báo cáo. Cơ chế trong đó tiểu đường gây hại cho phổi và gan khi dùng MTX
cần phải được khảo sát hơn nữa. (3) Hạ albumin máu: dù nồng độ albumin máu thấp
trước khi khởi sự điều trị MTX chỉ dùng để đánh giá tiến triển bệnh nhưng trong
thời gian dùng MTX thấy có đáp ứng lâm sàng mà t́nh trạng giảm albumin máu vẫn
kéo dài đó là dấu hiệu báo trước độc tính cho gan. Trên lâm sàng đôi khi khó
phân biệt albumin máu thấp là diễn tiến của bệnh chính hay chỉ là độc tính trên
gan. (4) Triệu chứng trên hệ thần kinh trung ương trong thời gian dùng MTX.
Tóm lại, yếu tố nguy cơ ngộ độc phổi do MTX gồm tuổi
già, tổn thương phổi màng phổi do thấp, dùng thuốc kháng thấp bổ sung trước đó,
hạ albumin máu. Những yếu tố ít ảnh hưởng hơn là hút thuốc, nghề nghiệp, các
biểu hiện ng̣ai khớp của VKDT. Mặc dù tiểu đường có vẻ là yếu tố nguy cơ mạnh
vẫn nhưng không thể giải thích được ảnh hưởng của tiểu đường lên độc tính cho
phổi của MTX bởi rất ít gặp.
Thầy thuốc cần- báo cho bệnh nhân có nguy
cơ biết về tính độc hại trên phổi khi sử dụng MTX. Bệnh nhân phải được hướng dẫn
để báo cho bác sỹ điều trị khi có những thay đổi hô hấp hoặc ho. Bác sỹ cần
lượng giá tất cả các nguy cơ độc cho phổi ở bệnh nhân VKDT và đề ra ngưỡng thấp
nhất cho việc chấm dứt liệu pháp MTX- đặc biệt là trong vài tháng đầu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Willkens RF. Resolve: methotrexate
is the drug of choice after NSAIDs in rheumatoid arthritis.
Semin Arthritis Rheum. 990;20:76-80
2. Shiroky JB, Neville C, Esdaile JM,
Choquette D, Zummer M, Hazeltine M, et al. Low dose methotrexate with leucovorin
(folinic acid) in management of rheumatoid arthritis.- Results of a multicenter
randomized, double-blind, placebo-controlled trial. Arthritis Rheum
1993;36:795-803-
3. Goodman & Gilman-s. The
pharmacological basis of therapeutics. 9th edition:1245-47
4. Graciela S.A., Joel M.K., Maurizio
M., Michael E.W. et al. Risk factors for Methotrexate-induced lung injury in
patients with rheumatoid arthritis. Ann of Int Med. Vol127 No 5:356-64
5. Carroll GJ, Thomas R, Phatouros CC,
Atchson MH, Leslie AH, Cook NJ et al. Incidence, prevalence and possible risk
factors for pneumonitis in patients with rheumatoid arthritis receiving
methotrexate. J Rheumatol. 1994;21:51-4