MELISSA VÀ
SELECT: DUNG NẠP VÀ HIỆU QUẢ CỦA MELOXICAM(THUỐC ỨC
CHẾ COX-2 CHỌN LỌC) TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM KHỚP THOÁI HOÁ
DUNG NẠP QUA
ĐƯỜNG TIÊU HOÁ CỦA MELOXICAM SO SÁNH VỚI DICLOFENAC TRÊN BỆNH NHÂN VIÊM KHỚP
THOÁI HOÁ. (NHÓM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ MELISSA)
Mặc dù được sử dụng
rộng răi, các kháng viêm không steroids thựng hay gây ra các tác dụng phụ trên
đường tiêu hoá. Sự ức chế men cyclooxygenase (COX) là nền tảng cho cả hiệu lực
lẫn độc tính của nhóm thuốc này. Sự khám phá ra hai đồng dạng của COX, COX-1 cấu
thành và COX-2 cảm ứng, đă dẩn đến giả thuyết cho rằng ức chế chọn lọc COX-2 sẻ
lảm giảm tiềm năng độc tính trên đựng tiêu hoá mà không ảnh hưởng đến hiệu lực.
Nghiên cứu quốc tế đánh giá tính an toàn của Meloxicam trên phạm vi rộng lớn
(The Meloxicam large scale international study safety assessment - Melissa)- báo
cáo sau đây, đă được thiết lập nhằm thăm ḍ sự dung nạp của Meloxicam, một ức
chế COX-2 ưu thế so sánh với diclofenac. Melissa là một thử nghiệm lâm sàng quốc
tế, tiền cứu, mù đôi và ngẫu nhiên trên phạm vi rộng theo dỏi trong 28 ngày trên
bệnh nhận bị viêm khớp thoái hoá có triệu chứng. Nguời bệnh nhận Meloxicam 7.5
mg hoặc diclofenac 100 mg dạng phóng thích chậm, liều khuyến cáo để điều trị
viêm khớp thoái hoá. Đánh giá các tác dụng không mong muốn cũng như hiệu quả của
thuốc là mục tiêu chánh của thử nghiệm. Tổng số 9323 trường hợp đă được điều trị
(4635 với meloxicam và 4688 với diclofenac). Các tác dụng ngoài ư muốn xảy ra ít
hơn đáng kể ở nhóm điều trị với meloxicam. Điều này do các tác dụng ngoài ư muốn
trên đường tiêu hoá ít hơn (13%) so với nhóm điều trị với diclofenac (19%; P< 0.001). Trong các tác dụng ngoài ư muốn
thường gặp, ít thấy xảy ra ăn khó tiêu (P < 0.001), buồn nôn và nôn (P< 0.050), đau bụng (P <
0.001) và tiêu chảy (P < 0.001) ở nhóm
meloxicam so với nhóm diclofenac. Năm bệnh nhân ở nhóm meloxicam bị thủng, loét
hoặc chảy máu so với bảy ở nhóm điều trị với diclofenac (sự khác biệt không có
ư-ghiă). Không có trường hợp nào loét có biến chứng, có kiễm chứng bàng nội soi,
được phát hiện ở nhóm meloxicam, trong khi ở nhóm piroxicam th́ có 4 trường hợp.
Ở nhóm điều trị với meloxicam. Số thời gian phải nằm viện là 5 ngày ở nhóm
meloxicam, trong khi đó ở nhóm điều trị với piroxicam, số này là 121 ngày. Có
254 bệnh nhân (2.54%) thuộc nhóm meloxicam bỏ cuộc v́ tác dụng ngoài ư muốn của
thuốc so với 373 (7.96%) người thuộc nhóm piroxican. (P<
0.001). Sự khác nhau này là do sự sai biệt về các tác dụng ngoài ư muốn trên
đường tiêu hoá ghi nhận được (3.02 ở nhóm meloxicam so với 6.14 ở nhóm
piroxicam; P< 0.001). Sự khác biệt về
mặt hiệu quả, đánh giá bằng thang điểm thị giác tương tự (visual analogue
scales), luôn nghiêng về phiá diclofenac. Trong bất cứ trường hợp nào, khoảng
tin cậy 95% không bao giờ vượt qua con số 0, điều nay cho thấy sự khác biệt có ư
nghiă thống kê. Tuy nhiên, các sự khác biệt này là nhỏ(khác biệt 4.5-9.0%) và
không đạt các mức định trướo về ư nghiă lâm sàng. Mặc dù vậy, một số đáng kể
bệnh nhân ngưng không dùng meloxicam v́ thuốc kém hiệu quả(80/6435 so với
49/4688; P< 0.01). Nghiên cứu Melissa
xác nhận kết quả các nghiên cứu trước đây cho thấy meloxicam cải thiện đáng kể
sự dung nạp của hệ tiêu hoá so với các kháng viêm không steroids khác, kể cả
diclofenac. Các kết quả này phản ảnh phần nào tính chọn lọc ưu thế cuả
meloxicam, mặc dù liều và các khiá cạnh khác của sự dung nạp cũng có thể là quan
trọng. Các kết quả trên đây hổ trợ giả thuyết cho rằng sự ức chế chọn lọc cuả
COX-2 tương đối so với COX-1 có thể hứa hẹn là một cách tiếp cận hiệu nghiệm
trong trị liệu với NSAID.
CẢI THIỆN DUNG NẠP
HỆ TIÊU HOÁ CỦA ỨC CHẾ CHỌN LỌC CYCLOOXYGENASE 2 (COX-2). SO SÁNH MELOXICAM VỚI
PIROXICAM: KẾT QUẢ THƯ -NGHIỆM LÂM SÀNG VỀ TÍNH AN TOÀN VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
TRÊN PHẠM VI RỘNG CÁC TRỊ LIỆU VỚI CHẤT ỨC CHẾ COX TRONG VIÊM KHỚP THOÁI HOÁ
(SELECT).
---
Select là một
nghiên cứu quốc tế trên phạm vi rộng, đa trung tâm, tiền cứu, mù đôi ngẫu nhiên
với 2 lần giả (dummy), tiến hành trên nhóm song song. Các bệnh nhân với viêm
khớp thoái hoá đợt cấp được điều trị với liều khuyến cáo meloxicam (7.5 mg) hoặc
piroxicam (20 mg) mỗi ngày trong 28 ngày. 4320 bệnh nhân được điều trị với
meloxicam và 4336 với piroxicam. Tần suất các phản ứng phụ xảy ra ít hơn đáng kể
ở nhóm điều trị với meloxicam (22.5%) so với nhóm dùng piroxicam 27.9%; P<
0.001), chủ yếu là do các phản ứng phụ trên đường tiêu hoá của meloxicam ít hơn
đáng kể so với piroxicam (10% so với 15,4%; P< 0.001), trong khi hiệu quả của hai thứ thuốc
là như nhau. Các sự cố riêng lẻ trên đường tiêu hoá cũng ít xảy ra ở nhóm
meloxicam hơn là nhóm piroxicam: ăn khó tiêu (3.4 so với 5.8%; P<
0.001), buồn nôn/nôn (2.5% so với 3.4%; P<
0.05) và đau bụng (2.1% so với 3.6%; P<
0.001). Có 16 bệnh nhân trong nhóm piroxicam bị thủng, loét hoặc chảy máu ở
đường tiêu hoá trên so vơi 7 bệnh nhân trong nhóm dùng meloxicam (nguy cơ tương
đôí piroxicam:meloxicam=1.4), và có 4 trường hợp thủng và chảy máu dẩn đến biến
chứng đều nằm ở nhóm điều trị với piroxicam (nguy cơ tương đối
piroxicam:meloxicam=1.9). Kết quả của SELECT phù hợp với một thử nghiệm lâm sàng
khác cùng thiết kế và cở mẫu so sánh meloxicam 7.5 mg vơi diclofenac 100 mg trên
bệnh nhân viêm đa khớp thoái hoá, và với một phân tích toàn diện trước kia về
tính an toàn của meloxicam. Điều này giúp thêm dữ kiện cho giả thuyết đề nghị về
mối tương quan giữa ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2 và cải thiện tính dung nạp
qua đường tiêu hoá của NSAID.
Theo Br. J of
Rheumatology-1998, Vol 37, N.9, 937-945, 946-951-
ABSTRACT
Hypothesis have
been postulated that selective inhibition of COX-2 will minimize the potential
toxicity for GI toxicity without comprising efficacy. MELISSA and SELECT are two
prospective, large-scale international studies investigating the tolerability of
meloxicam, a preferential inhibitor of COX-2, compared to diclofenac and
piroxicam respectively in the treatment of- osteoarthritis. Findings are
mutually consistent and also consistent with a pooled analysis of double-blind
clinical trials- demonstrating that meloxicam has an improved GI tolerability
profile compared with equi-effective dosea of other standard NSAID. The results
of these studies support the relevance of the COX concept to improve therapy for
arthritic disease.