WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

B́nh luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái B́nh

ĐH Y Tế Công Cộng

 

MELISSA VÀ SELECT: DUNG NẠP VÀ HIỆU QUẢ CỦA MELOXICAM(THUỐC ỨC CHẾ COX-2 CHỌN LỌC) TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM KHỚP THOÁI HOÁ

 

 

DUNG NẠP QUA ĐƯỜNG TIÊU HOÁ CỦA MELOXICAM SO SÁNH VỚI DICLOFENAC TRÊN BỆNH NHÂN VIÊM KHỚP THOÁI HOÁ. (NHÓM NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ MELISSA)

 

Mặc dù được sử dụng rộng răi, các kháng viêm không steroids thựng hay gây ra các tác dụng phụ trên đường tiêu hoá. Sự ức chế men cyclooxygenase (COX) là nền tảng cho cả hiệu lực lẫn độc tính của nhóm thuốc này. Sự khám phá ra hai đồng dạng của COX, COX-1 cấu thành và COX-2 cảm ứng, đă dẩn đến giả thuyết cho rằng ức chế chọn lọc COX-2 sẻ lảm giảm tiềm năng độc tính trên đựng tiêu hoá mà không ảnh hưởng đến hiệu lực. Nghiên cứu quốc tế đánh giá tính an toàn của Meloxicam trên phạm vi rộng lớn (The Meloxicam large scale international study safety assessment - Melissa)- báo cáo sau đây, đă được thiết lập nhằm thăm ḍ sự dung nạp của Meloxicam, một ức chế COX-2 ưu thế so sánh với diclofenac. Melissa là một thử nghiệm lâm sàng quốc tế, tiền cứu, mù đôi và ngẫu nhiên trên phạm vi rộng theo dỏi trong 28 ngày trên bệnh nhận bị viêm khớp thoái hoá có triệu chứng. Nguời bệnh nhận Meloxicam 7.5 mg hoặc diclofenac 100 mg dạng phóng thích chậm, liều khuyến cáo để điều trị viêm khớp thoái hoá. Đánh giá các tác dụng không mong muốn cũng như hiệu quả của thuốc là mục tiêu chánh của thử nghiệm. Tổng số 9323 trường hợp đă được điều trị (4635 với meloxicam và 4688 với diclofenac). Các tác dụng ngoài ư muốn xảy ra ít hơn đáng kể ở nhóm điều trị với meloxicam. Điều này do các tác dụng ngoài ư muốn trên đường tiêu hoá ít hơn (13%) so với nhóm điều trị với diclofenac (19%; P< 0.001). Trong các tác dụng ngoài ư muốn thường gặp, ít thấy xảy ra ăn khó tiêu (P < 0.001), buồn nôn và nôn (P< 0.050), đau bụng (P < 0.001) và tiêu chảy (P < 0.001) ở nhóm meloxicam so với nhóm diclofenac. Năm bệnh nhân ở nhóm meloxicam bị thủng, loét hoặc chảy máu so với bảy ở nhóm điều trị với diclofenac (sự khác biệt không có ư-ghiă). Không có trường hợp nào loét có biến chứng, có kiễm chứng bàng nội soi, được phát hiện ở nhóm meloxicam, trong khi ở nhóm piroxicam th́ có 4 trường hợp. Ở nhóm điều trị với meloxicam. Số thời gian phải nằm viện là 5 ngày ở nhóm meloxicam, trong khi đó ở nhóm điều trị với piroxicam, số này là 121 ngày. Có 254 bệnh nhân (2.54%) thuộc nhóm meloxicam bỏ cuộc v́ tác dụng ngoài ư muốn của thuốc so với 373 (7.96%) người thuộc nhóm piroxican. (P< 0.001). Sự khác nhau này là do sự sai biệt về các tác dụng ngoài ư muốn trên đường tiêu hoá ghi nhận được (3.02 ở nhóm meloxicam so với 6.14 ở nhóm piroxicam; P< 0.001). Sự khác biệt về mặt hiệu quả, đánh giá bằng thang điểm thị giác tương tự (visual analogue scales), luôn nghiêng về phiá diclofenac. Trong bất cứ trường hợp nào, khoảng tin cậy 95% không bao giờ vượt qua con số 0, điều nay cho thấy sự khác biệt có ư nghiă thống kê. Tuy nhiên, các sự khác biệt này là nhỏ(khác biệt 4.5-9.0%) và không đạt các mức định trướo về ư nghiă lâm sàng. Mặc dù vậy, một số đáng kể bệnh nhân ngưng không dùng meloxicam v́ thuốc kém hiệu quả(80/6435 so với 49/4688; P< 0.01). Nghiên cứu Melissa xác nhận kết quả các nghiên cứu trước đây cho thấy meloxicam cải thiện đáng kể sự dung nạp của hệ tiêu hoá so với các kháng viêm không steroids khác, kể cả diclofenac. Các kết quả này phản ảnh phần nào tính chọn lọc ưu thế cuả meloxicam, mặc dù liều và các khiá cạnh khác của sự dung nạp cũng có thể là quan trọng. Các kết quả trên đây hổ trợ giả thuyết cho rằng sự ức chế chọn lọc cuả COX-2 tương đối so với COX-1 có thể hứa hẹn là một cách tiếp cận hiệu nghiệm trong trị liệu với NSAID.

 

CẢI THIỆN DUNG NẠP HỆ TIÊU HOÁ CỦA ỨC CHẾ CHỌN LỌC CYCLOOXYGENASE 2 (COX-2). SO SÁNH MELOXICAM VỚI PIROXICAM: KẾT QUẢ THƯ -NGHIỆM LÂM SÀNG VỀ TÍNH AN TOÀN VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRÊN PHẠM VI RỘNG CÁC TRỊ LIỆU VỚI CHẤT ỨC CHẾ COX TRONG VIÊM KHỚP THOÁI HOÁ (SELECT).

---

Select là một nghiên cứu quốc tế trên phạm vi rộng, đa trung tâm, tiền cứu, mù đôi ngẫu nhiên với 2 lần giả (dummy), tiến hành trên nhóm song song. Các bệnh nhân với viêm khớp thoái hoá đợt cấp được điều trị với liều khuyến cáo meloxicam (7.5 mg) hoặc piroxicam (20 mg) mỗi ngày trong 28 ngày. 4320 bệnh nhân được điều trị với meloxicam và 4336 với piroxicam. Tần suất các phản ứng phụ xảy ra ít hơn đáng kể ở nhóm điều trị với meloxicam (22.5%) so với nhóm dùng piroxicam 27.9%; P< 0.001), chủ yếu là do các phản ứng phụ trên đường tiêu hoá của meloxicam ít hơn đáng kể so với piroxicam (10% so với 15,4%; P< 0.001), trong khi hiệu quả của hai thứ thuốc là như nhau. Các sự cố riêng lẻ trên đường tiêu hoá cũng ít xảy ra ở nhóm meloxicam hơn là nhóm piroxicam: ăn khó tiêu (3.4 so với 5.8%; P< 0.001), buồn nôn/nôn (2.5% so với 3.4%; P< 0.05) và đau bụng (2.1% so với 3.6%; P< 0.001). Có 16 bệnh nhân trong nhóm piroxicam bị thủng, loét hoặc chảy máu ở đường tiêu hoá trên so vơi 7 bệnh nhân trong nhóm dùng meloxicam (nguy cơ tương đôí piroxicam:meloxicam=1.4), và có 4 trường hợp thủng và chảy máu dẩn đến biến chứng đều nằm ở nhóm điều trị với piroxicam (nguy cơ tương đối piroxicam:meloxicam=1.9). Kết quả của SELECT phù hợp với một thử nghiệm lâm sàng khác cùng thiết kế và cở mẫu so sánh meloxicam 7.5 mg vơi diclofenac 100 mg trên bệnh nhân viêm đa khớp thoái hoá, và với một phân tích toàn diện trước kia về tính an toàn của meloxicam. Điều này giúp thêm dữ kiện cho giả thuyết đề nghị về mối tương quan giữa ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2 và cải thiện tính dung nạp qua đường tiêu hoá của NSAID.

 

Theo Br. J of Rheumatology-1998, Vol 37, N.9, 937-945, 946-951-

 

ABSTRACT

 

Hypothesis have been postulated that selective inhibition of COX-2 will minimize the potential toxicity for GI toxicity without comprising efficacy. MELISSA and SELECT are two prospective, large-scale international studies investigating the tolerability of meloxicam, a preferential inhibitor of COX-2, compared to diclofenac and piroxicam respectively in the treatment of- osteoarthritis. Findings are mutually consistent and also consistent with a pooled analysis of double-blind clinical trials- demonstrating that meloxicam has an improved GI tolerability profile compared with equi-effective dosea of other standard NSAID. The results of these studies support the relevance of the COX concept to improve therapy for arthritic disease.

[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net