Vào năm 1938, Aschenbrenner và Bodechtel
đă nghiên cứu thấy rằng những tổn thương trong sọ có thể gây nên những biến đổi
trên điện tâm đồ (ĐTĐ), nhưng báo cáo chính thức đầu tiên về biến đổi ĐTĐ ở bệnh
nhân (BN) tai biến mạch máu năo (TBMMN) là do Byer, Ashman và Toth vào năm 1947.
Sau đó, năm 1954 Burch, Meyers và Abildskov đă t́m thấy biến đổi trên ĐTĐ như:
khoảng QT kéo dài, sóng T âm tính và xuất hiện sóng U bất thường ở BN đột quỵ
cấp tính. Từ đó về sau xuất hiện nhiều báo cáo về đề tài này cho thấy có mối
tương quan giữa TBMMN với sự biến đổi ĐTĐ.
Về mặt tử vong, TBMMN là một trong những
nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư. Trong
những nguyên nhân gây tử vong, có không ít những trường hợp đột tử và kèm theo
những thay đổi bất thường trên ĐTĐ mà trong bệnh sử không ghi nhận bệnh tim
trước đó. V́ vậy, những đột tử tim mạch xảy ra trên BN TBMMN tuy đă được giải
thích bởi bệnh kèm theo như bệnh tim thiếu máu cục bộ, nhưng những nghiên cứu
gần đây đă gợi ư rằng đây không phải là câu trả lời trọn vẹn và thỏa đáng.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm mô tả sự
biến đổi trên ĐTĐ ở những BN bị TBMMN từ 15 đến 45 tuổi, và bước đầu t́m hiểu
mối liên quan giữa sự thay đổi bất thường trên ĐTĐ với bệnh TBMMN.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là một nghiên cứu tiền cứu mô tả,
thuần tập (cohort) nhằm theo dơi biến đổi ĐTĐ của BN TBMMN trẻ và-không có
bệnh lư tim mạch trước đó. Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Thần Kinh BVCR từ
đầu tháng 05/1997 đến 30/09/1997
1- Đối tượng nghiên cứu
1.1 Số lượng nghiên cứu: Bao gồm 30
bệnh nhân được chẩn đoán TBMMN một trong 3 dạng sau đây: xuất huyết năo (XHN),
xuất huyết dưới màng nhện (XHDMN), nhũn năo (NN).
1.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh:
Những BN nhập vào Khoa Thần Kinh BVCR được
chẩn đoán là TBMMN ở lứa tuổi từ 15 đến 45 tuổi. Việc chẩn đoán TBMMN chủ yếu
dựa vào CT-Scan năo. Không có những dấu hiệu bất thường về tim mạch trước đó,
hay bệnh lư tim mạch như: cao huyết áp, bệnh van tim, tiểu đường có biến chứng
tim mạch, xơ vữa động mạch... Không có rối loạn về điện giải và lipid máu.
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những BN đang sử dụng những thuốc kích
thích hoặc ức chế giao cảm.
- Những BN đang dùng những thuốc có ảnh
hưởng đến dẫn truyền cơ tim. Ví dụ như thuốc chống loạn nhịp nhóm I.A
(Quinidine, Disopy-ramide, Procainamide), nhóm I.B (Lidocaine, Phenyltoin,
Mexiletin), nhóm III (Amiodarone, Sotalol, Bretylium).
2. Qui tŕnh tiến hành
Sau khi nhập vào khoa Thần Kinh, BV Chợ
Rẫy, BN phù hợp với tiêu chuẩn chọn bệnh như như trên sẽ được tiến hành đo ĐTĐ
theo tŕnh tự như sau:
* ĐTĐ lần 1,2,3 đo trong ngày 1,2,3 kể từ
lúc nhập viện và thường được đo trong pḥng cấp cứu.
* ĐTĐ lần 4 được ghi vào giai đoạn BN tạm
ổn định và được chuyển ra khỏi pḥng cấp cứu.
* ĐTĐ lần 5 được ghi vào giai đoạn ổn định
một ngày trước khi BN xuất viện.
Đọc ĐTĐ dựa theo tiêu chuẩn của Henry J.L.
Marriott (Practical electrocardiography).
Những chỉ số theo dơi là: QTc, sóng T,
đoạn ST, khoảng PR, sóng Q, sóng U, nhịp, tần số. Trong đó quan trọng là thời
khoảng QTc được đo trên ĐTĐ của BN so với QT b́nh thường (QTn) tính theo bảng
Ashman.
Các dữ liệu và thông số theo dơi được mô
tả và phân tích theo phương pháp thống kê: Phép kiểm định
c2 (Chi - Squared
Test), So sánh hai số trung b́nh theo Student T - Test.
KẾT QUẢ
1.Thay đổi về điện tim:
1.1 Khoảng QT: So sánh từng
cặp QTc và QTn từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 5 (bằng phép kiểm T từng cặp,
p=0,05). (Biểu đồ 1)
Vậy QTc trong 5 lần đo đều lớn hơn có ư nghĩa so với QTn và sự khác biệt này có
ư nghĩa thống kê. Khi dựa vào giá trị trung b́nh của QTc đo được ta thấy QTc2
dài hơn QTc1 rồi sau đó giảm dần từ ngày thứ 3 đến ngày thứ năm.
1.2 Thay đổi ST
|
-----------
|
Ngày 1
|
Ngày 2
|
Ngày 3
|
Ngày 4
|
Ngày 5
|
|
-- n
--- %
|
7
87,5
|
9
90
|
10 90,9
|
9
90
|
7
87,5
|
|
-- n
--- %
|
1
12,5
|
1
10
|
1
0,1
|
1
10
|
1
12,5
|
|
Tổng
---- %
|
8/30 26,7
|
10/28 35,7
|
11/27 40,7
|
10/26 38,5
|
8/26 30,8
|
Nhận xét: Ở cả 5 ngày, trong 30
trường hợp có khoảng từ 8 đến 11 trường hợp có ST thay đổi, trong đó ST chênh
lên luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với ST chênh xuống.
1.3 Thay đổi sóng T
|
----------- -----------
|
Ngày 1
|
Ngày 2
|
Ngày 3
|
Ngày 4
|
Ngày 5
|
|
2 pha- n--
---------- %
|
2
7,6
|
2
8,4
|
2
8,7
|
2
10
|
1
4,8
|
|
Dẹt---- n
--------- %
|
2
7,6
|
1
4,2
|
0
|
0
|
0
|
|
Cao-- n
--------- %
|
1
3,8
|
0
|
0
|
1
5
|
1
4,8
|
|
Âm--- n
--------- %
|
21 80,8
|
21 87,4
|
21 91,3
|
17
85
|
19 90,5
|
|
Tổng---- %
|
26
100
|
24
100
|
23
100
|
20
100
|
21
100
|
Nhận xét: Sự thay đổi sóng T trong
các ngày khá cao, trong đó sự thay đổi sóng T dạng đảo ngược chiếm ưu thế trong
cả 4 dạng (2 pha, dẹt, cao, đảo ngược) là: 80,8% - 87,4% - 91,3% - 85% - 95% từ
ngày 1 đến ngày 5. Kế đến là dạng thay đổi kiểu hai pha, dẹt, cao.
1.4 Sóng U
|
----------- -----------
|
Ngày 1
|
Ngày 2
|
Ngày 3
|
Ngày 4
|
Ngày 5
|
|
(+)-- n
----- %
|
8
26,7
|
7
30
|
7
28,6
|
6
25,9
|
6
23
|
|
(-)--- n
----- %
|
22 73,3
|
21
70
|
20 71,4
|
20 74,1
|
20
77
|
|
Tổng
|
30
100
|
28
100
|
27
100
|
26
100
|
26
100
|
Nhận xét: Sự xuất hiện sóng U chiếm
tỷ lệ từ 23% đến 30%.
2.Mối tương quan
Tính trong 24 giờ đầu, QTc kéo dài được
ghi nhận trong xuất huyết năo (XHN), xuất huyết dưới màng năo (XHDMN) và nhũn
năo (NN) với tỷ lệ như sau:
|
-----------------------
|
Tần số
|
Tỷ lệ %
|
|
Xuất huyết năo
|
12/14
|
85,7
|
|
Xuất huyết dưới màng
nhện
|
8/9
|
88,9
|
|
Nhũn năo
|
5/7
|
71,4
|
Nhận xét: Như vậy đoạn QT kéo dài ở
nhóm XHDMN là cao nhất (88,9%) rồi đến nhóm XHN (85,7%) và thấp nhất ở nhóm NN
(71,4%). Tuy nhiên sự khác biệt chưa có ư nghĩa thống kê.
BÀN LUẬN
Kết quả trên cho thấy bất thường nổi bật
nhất xảy ra trong giai đoạn tái cực.
1- Khoảng QT
Khoảng QTc trung b́nh đo được trên BN
trong cả 5 lần đo đều dài hơn có ư nghĩa so với khoảng QTn trung b́nh tra trong
bảng Ashman (độ tin cậy 95%).-
Xét trong lần đo ĐTĐ thứ 1 (24 giờ đầu),
trong 3 nhóm XHN- XHDMN - NN, khoảng QTc kéo dài được ghi nhận với tỷ lệ theo
thứ tự: 85,7%, 88,9%, 71,4%.
C̣n kết quả nghiên cứu trên 75 BN của tác
giả Arruda WO (Brazil) 1992 đo ĐTĐ trong 48 giờ đầu của cơn đột quỵ của nhóm
XHN: 37/55 trường hợp (67,2%), nhóm XHDMN: 8/15 trường hợp (53,3%).
Ở cả hai kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
khoảng QTc kéo dài đều cao ở cả hai nhóm XHN và XHDMN (85,7% so với 67,2% và
88,95 so với 53,35). Như vậy, khoảng QTc kéo dài nổi bật ở nhóm xuất huyết trong
năo phải chăng có liên quan đến rối loạn thần kinh thực vật thường hay gặp trong
xuất huyết trong năo hơn là nhũn năo.
2- Thay đổi ST, T và sóng U
Kết quả nghiên cứu này cho thấy sự thay
đổi ST (ST chênh lên và chênh xuống) chiếm tỷ lệ khá cao trong cả 5 lần đo ĐTĐ:
8/30 (27%), 10/28 (35,7%), 11/27 (40,4%), 11/26 (42,3%), 10/26 (38,5%). Dạng ST
chênh lên chiếm ưu thế hơn là dạng ST chênh xuống,
Sự thay đổi sóng T chiếm tỷ lệ cao thật sự
từ lần đo ĐTĐ thứ 1 đến thứ 5 với theo thứ tự như sau: 26/30 (86,7%)- 24/28
(85,7%)- 23/27 (85,2%) 20/26 (76,9%)- 21/26 (80,8%) trong đó dạng sóng T âm
chiếm ưu thế.
Sự xuất hiện sóng U chiếm tỷ lệ từ 23% cho
đến 30% trong 5 lần đo ĐTĐ
Theo Burch và CS cho thấy thay đổi thông
thường nhất trên ĐTĐ là khoảng QT kéo dài, sóng T đảo ngược và sự xuất hiện sóng
U (nghiên cứu trên 17 BN bị TBMMN).
Theo kết quả một nghiên cứu cùng đề tài
của Lindgren và CS(11) trên 28 BN bị TBMMN với điều kiện không có bất
thường về tim mạch trước đó. Không ghi nhận có block nhĩ thất, block nhánh hoặc
sự thay đổi của phức bộ QRS. Bất thường thường nhất là thay đổi đoạn ST và sóng
T được ghi nhận trong 13 trường hợp. Thay đổi điển h́nh là sóng T âm tính nhẹ
hoặc dẹt, đoạn ST chênh xuống hoặc nằm ngang (horizontal). Không có trường hợp
nào trên ĐTĐ cho thấy dấu hiệu điển h́nh của nhồi máu cơ tim cấp tính (sóng Q
hoại tử, đoạn ST chênh lên, sóng T đảo ngược). Khoảng QTc kéo dài được thấy ở 3
BN, sóng U dương tính ở 4 BN. Sự thay đổi ST và sóng T được thấy ở 1/2 số trường
hợp BN bị đột quị mà không có tiền sử bệnh tim mạch trước đó.
Theo nghiên cứu có đối chứng của Dimand và
Grob(4)
so sánh ĐTĐ của 100 BN TBMMN (NN, XHN, XHDMN) trong 3 ngày đầu nhập viện với ĐTĐ
của 100 BN tương đồng về tuổi và giới tính nhập viện v́ ung thư đại tràng cho
thấy: ST chênh xuống và khoảng QT kéo dài cao gấp 7 lần ở nhóm TBMMN so với nhóm
chứng, sóng T đảo ngược cao gấp 4 lần ở nhóm TBMMN so với nhóm chứng. Điều này
gợi ư mối liên quan giữa TBMMN với biến đổi ĐTĐ.
Một nghiên cứu có đối chứng so sánh ĐTĐ
của 53 BN TBMMN (NN, XHN, XHDMN) được ghi trong 24 giờ đầu nhập viện (có kèm
theo ĐTĐ được ghi trung b́nh 4 tháng trước đó ) so với ĐTĐ của nhóm chứng tương
đồng về tuổi, giới tính nhập viện v́ lư do không phải bệnh lư có liên quan mạch
máu (cũng có ĐTĐ được ghi 4 tháng khi bị TBMMN). Khoảng QT kéo dài (mà không ghi
nhận trên ĐTĐ trước đó 4 tháng) chiếm 32% trường hợp TBMMN so với 2% ở nhóm
chứng, sóng T đảo ngược mới xuất hiện chiếm 15%, sóng U bất thường chiếm 13% ở
nhóm TBMMN so với 0% ở nhóm chứng. Sự khác biệt này có ư nghĩa rất cao, do đó
không thể cho rằng: những bất thường ĐTĐ mới xuất hiện hầu như là do sự song
hành của bệnh TBMMN và bệnh lư tim hoặc TBMMN ở tất cả BN đều do cục thuyên tắc
từ tim.
Theo nghiên cứu của Arruda -WO và CS trên
70 BN xuất huyết trong năo (55 BN bị XHN và 15 BN bị XHDMN), ĐTĐ được ghi trong
48 giờ đầu nhập viện, cho thấy thay đổi thông thường nhất là khoảng QTc kéo dài.
Cơ chế về biến đổi bất thường
trên ĐTĐ ở BN TBMMN cho đến nay vẫn chưa được giải thích rơ. Một số tác giả đưa
ra giả thuyết cathecolamin/ máu tăng cao ở những BN TBMMN gây nên tổn thương tế
bào cơ tim. Những tổn thương- mạch máu năo cấp tính làm tăng áp lực nội sọ có lẽ
gây nên sự gia tăng đột ngột mức cathecolamin ở tim thông qua hệ thống thần kinh
tự động và hậu quả đưa đến tổn thưong cơ tim. Cơ chế thần kinh có liên quan đến
việc điều ḥa tái cực thất. Các nhánh của thần kinh giao cảm chi phối các vùng
khác nhau của cơ thất. Sự mất cân đối trong hoạt động của các nhánh này gây nên
khử cực và tái cực không đồng bộ mà hậu quả là sự kéo dài của khoảng QT, xuất
hiện ổ kích thích.-
Với số liệu và kết quả nghiên cứu
c̣n quá ít ỏi, nhưng bước đầu chúng tôi cũng đă nhận thấy ở những BN TBMMN có sự
biến đổi ĐTĐ chủ yếu trong giai đoạn tái cực. Kéo dài QTc là bất thường thông
thường nhất và có lẽ có mối tương quan với loại TBMMN, ngoài ra c̣n ghi nhận có
sự biến đổi- ST và sóng U.
SUMMARY
ECG changes in young stroke patients
Young stroke patients without signs of
primary heart disease stroke were prospectively evaluated regarding the
electrocardiographic abnormalities. Study group comprised 30 patients (7
patients with cerebral infarction, 14 patients with cerebral hemorrhage, 9
patients with subarachnoid hemor-rhage). Patients taking cardiovascular drugs
(beta blockers, calcium-channel blockers, inotropic drugs) or with severe
metabolic/electrolyte distur-bances were excluded. The most common ECG
abnormality was a prolonged QTc interval (compared with QTn of Ashman table):
hemorrhagic stroke (87%), cerebral infarction (71%). No relation was found
between a prolonged QTc and the kind of stroke The another abnor-malities in ECG
were ST, T changes with negative T waves, ST segment elevation and abnormal U
waves.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Lê Văn Thành và c.t.v, Tai biến mạch máu năo, Hội chứng và bệnh học thần
kinh, Nhà xuất bản Y học, 1984, 109-134.
2.
Byer E, Ashman R, Toth LA, Electrocardiograms with large, upright T waves
and long QT intervals, Am Heart J, 1984.
3.
Cruickshank JM, Neil-Dwyer G, Brice J, Electrocardio-graphic changes and
their prognostic significance in subaranoid haemorrhage, J Neurol Neurosurg
Psychiatry, 1974, 755.
4.
Dimant J, Grob D, Electrocardiographic changes and myocardial damage in
patients with acute cerebrovascular accidents, Stroke, 1974, 775.
5.
Edward Feldmann, Vascular disorders, Current diagnosis in neurology,1988,
29-87.
6.
Harold P. Adams, Stroke, 1995, 1029-1048.
7.
Harry D. Patton, Neurophysiology, 1965, 240.
8.
Hockman CH, Mauck HP, Hoff EC, ECG changes resulting from cerebral
stimulation, Am Heart J, 1966, 695.
9.
KenediI, Csanda E, Electrocardiographic changes in response to electrical
stimulation of the cerebral cortex, Acta Physiol Acad Sci Hung, 1959, 165.
10.
Lavy S, Yaar I, Melamed E, The effect of acute stroke on cardiac functions as
observed in an intensive stroke care unit, Stroke, 1974, 775.
11.
Lindgren -A, Woblfart - B, Pahlm - o, Johansson - BB, Electrocardiographic
changes In Stroke patients without primary heart disease, Clin - physiol. 1994
Mar, 223-231.
12.
Michael J. Aminoff, Cardiac manifestationof acute neurological lesions,
Neurology and general medicine, 1995, 183-200.
13.
Norris JW, Froggatt GM, Hachinski VC, Cardiac arrhythmias in acute stroke,
Stroke, 1978, 392.
14.
North American Symtomatic Carotid Endarterectomy Trial Collaborators, N Engl J
Med, 1991, 325-445.
15.
Oppenheimer -s, The Insular cortex and the pathophysiology of Stroke - Induced
cardiac changes, Can - J -Neurol - Sci, 1992 May, 208-211.
16.
Oppeheinmer SM, Hachinski VC, The cardiac consequences of stroke, Neurol Clin,
1992, 167.
17.
PM.G Bouloux, Neuroendocrinology of stress, Clinical endocrinology and
metabolism volume 1/ number 2, 1987 May, 279-439.
18.
Raymond D.Adams, Maurice Victor, Allan H. Ropper, Cerebrovascular diseases,
Principles of neurology, 1997, 777-873.
19.
Rem JA, Hachinski VC, Boughner DR, Value of cardiac monitoring and
echocardiography in TIA and stroke patients, Stroke, 1985, 950.
20.
Stober T, Anstatt T, Sen S et al, Cardiac arrhythmias in subarachnoid
haemorrhage, Acta Neurochir, 1988, 37.