WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Thời sự y dược học

Tháng 12/2001
Tháng 10/2001
Tháng 08/2001
Tháng 06/2001
Tháng 04/2001

Tháng 02/2001
Tháng 12/2000
Tháng 10/2000
Tháng 08/2000
Tháng 06/2000
Tháng 04/2000
Tháng 02/2000
Tháng 12/1999
Tháng 10/1999
Tháng 08/1999
Tháng 06/1999
Tháng 04/1999
Tháng 02/1999
Tháng 12/1998
Tháng 10/1998
Tháng 08/1998
Tháng 06/1998
Tháng 04/1998
Tháng 02/1998

 

 



www YKHOANET

TRANG MỤC

Bình luận y khoa

Tin thời sự y tế

Tin Y khoa Thế giới

Địa chỉ y khoa

Hộp thư bạn đọc

Tạp chí y khoa

Forum

 

ĐẠI HỌC  Y KHOA

ĐH Y Khoa Hà Nội

ĐH Y Dược TPHCM

ĐH Y Khoa Thái Nguyên

ĐH Y Khoa Huế

ĐH Y Khoa Thái Bình

ĐH Y Tế Công Cộng

 

82 trưỜng hỢp DỊ VẬT ÐƯỜNG THỞ BỎ QUA TẠI KHOA TAI MŨI HỌNG BV NHI ÐỒNG 1 TRONG 11 NĂM (1988-1998)

Nhan Trừng Sơn*

 


Tổng quát

Dị vật đường thở là một bệnh nguy hiểm ở trẻ em. Trong 11 năm (1988-1998), tại khoa Tai Mũi Họng có tất cả 779 trường hợp dị vật. Phần lớn là những trường hợp nặng, đe dọa tính mạng em bé nếu không xử trí kịp. Có tất cả 5 trường hợp tử vong. Bên cạnh đó cũng có một loại dị vật đường thở, nhưng không được gia đình hoặc nhân viên y tế phát hiện, đó là dị vật đường thở bỏ qua (DVÐTBQ). Bệnh này có đặc điểm riêng, báo cáo sau đây trình bày 82 trường hợp DVÐTBQ để có ý niệm, đồng thời có cách xử trí kịp thời.

Phương pháp nghiên cứu

Trong thời gian 11 năm (1988-1998), khoa Tai Mũi Họng tích cực phối hợp với khoa Hô hấp để soi thanh khí quản nhằm định bệnh và điều trị theo yêu cầu của các khoa. Trong quá trình soi, đối với các trẻ em hoàn toàn không có triệu chứng gì về dị vật đường thở (hội chứng xâm nhập, khó thở thanh quản, khàn tiếng...), chúng tôi phát hiện và gắp được dị vật từ trong đường thở được gọi là DVÐTBQ. Ngay sau khi soi, hoàn chỉnh bệnh án, diễn tả tỉ mỉ các nghi thức phẫu thuật, ghi rõ bằng mực đỏ có đóng khung ở trang đầu tiên của bệnh án hàng chữ "dị vật đường thở bỏ qua", đồng thời cho vào danh sách bệnh này. Trong 11 năm, trong bảng danh sách có tất cả 82 trường hợp, đây là một cỡ mẫu vừa cho một báo cáo khoa học.

Kết quả

Trong 11 năm, có 82 DVÐTBQ. Bình quân mỗi năm có gần 7,5 trường hợp.

Số trường hợp phân bố theo năm:

Năm

Trường hợp

-%

Năm

Trường hợp

%

1988

2

-2,4

1994

8

-9,8

1989

4

-4,9

1995

4

-4,9

1990

16

-19,5

1996

1

-1,2

1991

25

-30,5

1997

1

-1,2

1992

7

-8,5

1998

3

-3,7

1993

11

-13,4

 

 

 

Giới: Nam: 49 (59,76%) Nữ; 33 (40,24%)

Tuổi:

Tuổi

Số trường hợp

%

< 1

9

10.98

1- 3

45

54.88

3- 5

18

21.95

5- 10

4

4.88

10-15

6

7.32

Nơi khu trú:

Nơi

Số trường hợp

-%

Thanh môn

1

-1.22

Hạ thanh môn

3

-3.66

Khí quản

5

-6.1

Phế quản gốc phải

44

-53.66

Phế quản gốc trái

29

-35.37

Loại dị vật:

Loại

-n

Loại

n

Thực vật

 

 

 

Hột dưa

-23

Mảnh hạt sen

-2

Mảnh đậu phộng

-11

Hột bình bát

-2

Mảnh lá cây

-2

Hột mãng cầu

-8

Hột ô môi

-3

Hột bắp

-2

Ðộng vật

 

 

 

Xương cá

-14

Xương ếch

-2

Xương heo

-3

Vỏ cua

-2

Xương gà

-4

 

 

Linh tinh

 

 

 

Ốc xe đạp

-1

Kèn lá

-1

Van xe đạp

-1

Răng giả

-1

Triệu chứng:

+ Hội chứng xâm nhập:

-   Có thể có hội chứng xâm nhập nhưng gia đình không hiểu: 13 trường hợp

-   Hội chứng xâm nhập không rõ ràng: 16-

-   Không xác định được hội chứng xâm nhập: 53

+ Khó thở thanh quản:

-   Ðiển hình: không có

-   Khó thở thanh quản nhẹ: 12

-   Khàn tiếng; 6

-   Phế quản phế viêm: 64

+ Chẩn đoán tuyến trước:

-   Bệnh lý phổi: 69

-   Bệnh lý khác: 13

+ Nơi cung cấp bệnh nhân:

-   Khoa hô hấp: 56

-   Khoa cấp cứu: 13

-   Ngoại chẩn: 5

-   Trực ban đêm: 8

+ Thời gian mắc bệnh:

-   Dài nhất: 141 ngày

-   Ngắn nhất: 8 ngày

+ Biến chứng:

-   Phế quản phế viêm: 74

-   Xẹp phổi: 3

-   Khí phế thủng: 5

+ Xử trí:

-   Gây mê Halothane: 82

-   Soi với dụng cụ Mc intosh và gắp dị vật: 3

-   Soi với dụng cụ Wolf (dụng cụ soi gắp kết hợp sau): 76

-   Soi gắp với dụng cụ Wolf (dụng cụ soi gắp chuẩn bị sẵn): 3

+ Không có trường hợp nào mở khí quản hoặc tử vong.

Một trường hợp điển hình

Bệnh nhi (BN) Phia. S. sinh năm 1994, nam, dân tộc Kampuchia, ngụ tại tỉnh Kompong Cham, đã nhập khoa Hô hấp BV. Nhi Ðồng 1, ngày 18/3/1998, với định bệnh là viêm phổi nặng.

Trước đó 20 ngày, BN ho nhiều kèm theo khó thở nặng. Em được vào BV Châu Ðốc với định bệnh viêm phổi nặng. Tuy không có hội chứng xâm nhập nhưng BN bị khó thở càng ngày càng nhiều và được mở khí quản tại BV Châu Ðốc. Sau đó, em thở thông qua ống và đã được điều trị với nhiều loại thuốc không rõ loại. Tám ngày sau, em được rút ống mặc dù không có sự ưng thuận của bệnh viện, và tự điều trị với các loại thuốc không rõ. Tại nhà, em vẫn còn khó thở, ho, đàm nhớt nhiều, nên gia đình đưa em đến BV. Nhi Ðồng 1 và được nhập vào khoa Hô hấp với định bệnh viêm phổi nặng.

Tại BV. Nhi Ðồng 1, khám phổi có nhiều ran ẩm, ran ngày, ran rít..., BN được điều trị tích cực với Ventoline, Chloramphenicol (0,4g x 2 TB), Sirop Astex (1 mcf x 3 uống). Hai giờ sau khi nhập viện, em được khám chuyên khoa TMH tại giường. Bác sĩ xác định không có hội chứng xâm nhập, không khàn tiếng, có vết mổ vùng mở khí quản. Khó thở vì nghi là do sẹo hẹp khí quản sau khi mở khí quản.

BN được chuyển khoa TMH để mở khí quản lại. Tại khoa TMH em được điều trị với Ampici-lline (0,5g x 3 TB), Acemol (0,325g 1/2v x 2 uống), Soludecadron (0,004g x 2 TB). Thực hiện soi thanh quản trực tiếp để đánh giá sẹo hẹp. Nhưng, khi soi đến thanh môn thấy một dị vật và gắp ra, đó là một đốt xương sống cá. Soi kiểm tra lại lần hai, đến phế quản gốc không thấy gì lạ, chỉ có phù nề nhẹ hạ thanh môn.

Sau khi soi, em thở tốt hơn nên không cần mở khí quản. Hậu phẫu tốt. Bệnh giảm hẵn và đến ngày 21/3/1998 BN ra viện với tình trạng tỉnh, ăn uống tốt, không khàn tiếng, hết khó thở, phổi còn ít ran ngáy.

Nói tóm lại, đây là dị vật đường thở do BN ăn bị sặc mà không biết, các chẩn đoán trước đó- không nghĩ đến dị vật đường thở vì không có hội chứng xâm nhập. Tại khoa TMH chỉ nghĩ đến sẹo hẹp thanh môn sau khi mở khí quản. Soi thanh quản mới phát hiện dị vật đường thở bỏ qua.

Bàn luận:

* Giữa DVÐTBQ và DVÐT thông thường có các điểm giống nhau như:

-   - Tuổi dễ mắc phải: từ 1 đến 3 tuổi

-   - Ða số dị vật là hột (hột dưa, hột mãng cầu, hột đậu phộng) và xương cá.

-   - Khu trú tại phế quản gốc chiếm đa số.

* Nhưng có sự khác biệt giữa DVÐTBQ và DVÐT thông thường là:

-   Hội chứng xâm nhập không rõ ràng

-   Triệu chứng khó thở thanh quản điển hình của một dị vật đường thở không rõ nét.

-   Ðịnh bệnh DVÐT (thường rất dễ dàng) không được để ý đến.

-   BN không được đưa ngay đến chuyên khoa Tai Mũi Họng mà thường được đưa đến khoa hô hấp hoặc nội nhi tổng quát.

-   BN không được soi gắp ngay và được điều trị ngoại khoa như phế quản phế viêm.

-   Thời gian từ lúc mắc bệnh đến lúc phát hiện dị vật khá dài.

-   Chỉ phát hiện trong lúc soi khí phế quản.

Kết luận:

Dị vật đường thở bỏ qua ở trẻ em là một bệnh âm thầm, có triệu chứng như phế quản phế viêm, nhưng dễ tái phát sau đợt điều trị kháng sinh. Vì vậy nên cảnh giác các trường hợp có vấn đề về phổi mà điều trị nội khoa không hết.

Tài liệu tham khảo

1/ Phạm Ngọc Chất. Dị vật đường thở bỏ quên tại khoa TMH BV. Nhi Ðồng 1 (1988-1991). Ngày TMH Nhi 1992, tr.12-14.

2/ T.J.Richert. Foreign bodies of the larynx, trachea and bronchi. Pediatric Otolaryngology 1983, Vol2, 71, 1302-1311.

3/ Nhan Trừng Sơn. Soi gắp dị vật đường thở trẻ em trong 10 năm tại khoa TMH BV.NÐ1. Thời Sự Y Dược Học 1995,4:7-9

Text Box: *BS Phó tiến sĩ, Trưởng khoa Tai Mũi Họng BV Nhi Ðồng 1

[include/content.htm]
 

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

In trang này     ►Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net