Tổng quát
Dị vật đường thở là một bệnh nguy hiểm ở
trẻ em. Trong 11 năm (1988-1998), tại khoa Tai Mũi Họng có tất cả 779 trường hợp
dị vật. Phần lớn là những trường hợp nặng, đe dọa tính mạng em bé nếu không xử
trí kịp. Có tất cả 5 trường hợp tử vong. Bên cạnh đó cũng có một loại dị vật
đường thở, nhưng không được gia đình hoặc nhân viên y tế phát hiện, đó là dị vật
đường thở bỏ qua (DVÐTBQ). Bệnh này có đặc điểm riêng, báo cáo sau đây trình bày
82 trường hợp DVÐTBQ để có ý niệm, đồng thời có cách xử trí kịp thời.
Phương pháp nghiên cứu
Trong thời gian 11 năm (1988-1998), khoa
Tai Mũi Họng tích cực phối hợp với khoa Hô hấp để soi thanh khí quản nhằm định
bệnh và điều trị theo yêu cầu của các khoa. Trong quá trình soi, đối với các trẻ
em hoàn toàn không có triệu chứng gì về dị vật đường thở (hội chứng xâm nhập,
khó thở thanh quản, khàn tiếng...), chúng tôi phát hiện và gắp được dị vật từ
trong đường thở được gọi là DVÐTBQ. Ngay sau khi soi, hoàn chỉnh bệnh án, diễn
tả tỉ mỉ các nghi thức phẫu thuật, ghi rõ bằng mực đỏ có đóng khung ở trang đầu
tiên của bệnh án hàng chữ "dị vật đường thở bỏ qua", đồng thời cho vào danh sách
bệnh này. Trong 11 năm, trong bảng danh sách có tất cả 82 trường hợp, đây là một
cỡ mẫu vừa cho một báo cáo khoa học.
Kết quả
Trong 11 năm, có 82 DVÐTBQ. Bình quân mỗi
năm có gần 7,5 trường hợp.
Số trường hợp phân bố theo năm:
|
Năm
|
Trường hợp
|
-%
|
Năm
|
Trường hợp
|
%
|
|
1988
|
2
|
-2,4
|
1994
|
8
|
-9,8
|
|
1989
|
4
|
-4,9
|
1995
|
4
|
-4,9
|
|
1990
|
16
|
-19,5
|
1996
|
1
|
-1,2
|
|
1991
|
25
|
-30,5
|
1997
|
1
|
-1,2
|
|
1992
|
7
|
-8,5
|
1998
|
3
|
-3,7
|
|
1993
|
11
|
-13,4
|
|
|
|
Giới:
Nam: 49 (59,76%) Nữ; 33 (40,24%)
Tuổi:
|
Tuổi
|
Số trường hợp
|
%
|
|
< 1
|
9
|
10.98
|
|
1- 3
|
45
|
54.88
|
|
3- 5
|
18
|
21.95
|
|
5- 10
|
4
|
4.88
|
|
10-15
|
6
|
7.32
|
Nơi khu trú:
|
Nơi
|
Số trường hợp
|
-%
|
|
Thanh môn
|
1
|
-1.22
|
|
Hạ thanh môn
|
3
|
-3.66
|
|
Khí quản
|
5
|
-6.1
|
|
Phế quản gốc phải
|
44
|
-53.66
|
|
Phế quản gốc trái
|
29
|
-35.37
|
Loại dị vật:
|
Loại
|
-n
|
Loại
|
n
|
|
Thực vật
|
|
|
|
|
Hột dưa
|
-23
|
Mảnh hạt sen
|
-2
|
|
Mảnh đậu phộng
|
-11
|
Hột bình bát
|
-2
|
|
Mảnh lá cây
|
-2
|
Hột mãng cầu
|
-8
|
|
Hột ô môi
|
-3
|
Hột bắp
|
-2
|
|
Ðộng vật
|
|
|
|
|
Xương cá
|
-14
|
Xương ếch
|
-2
|
|
Xương heo
|
-3
|
Vỏ cua
|
-2
|
|
Xương gà
|
-4
|
|
|
|
Linh tinh
|
|
|
|
|
Ốc xe đạp
|
-1
|
Kèn lá
|
-1
|
|
Van xe đạp
|
-1
|
Răng giả
|
-1
|
Triệu chứng:
+ Hội chứng xâm nhập:
-
Có thể có hội chứng xâm nhập nhưng gia đình không hiểu: 13
trường hợp
-
Hội chứng xâm nhập không rõ ràng: 16-
-
Không xác định được hội chứng xâm nhập: 53
+ Khó thở thanh quản:
-
Ðiển hình: không có
-
Khó thở thanh quản nhẹ: 12
-
Khàn tiếng; 6
-
Phế quản phế viêm: 64
+ Chẩn đoán tuyến trước:
-
Bệnh lý phổi: 69
-
Bệnh lý khác: 13
+ Nơi cung cấp bệnh nhân:
-
Khoa hô hấp: 56
-
Khoa cấp cứu: 13
-
Ngoại chẩn: 5
-
Trực ban đêm: 8
+ Thời gian mắc bệnh:
-
Dài nhất: 141 ngày
-
Ngắn nhất: 8 ngày
+ Biến chứng:
-
Phế quản phế viêm: 74
-
Xẹp phổi: 3
-
Khí phế thủng: 5
+ Xử trí:
-
Gây mê Halothane: 82
-
Soi với dụng cụ Mc intosh và gắp dị vật: 3
-
Soi với dụng cụ Wolf (dụng cụ soi gắp kết hợp sau): 76
-
Soi gắp với dụng cụ Wolf (dụng cụ soi gắp chuẩn bị sẵn): 3
+ Không có trường hợp nào mở khí
quản hoặc tử vong.
Một trường hợp điển hình
Bệnh nhi (BN) Phia. S. sinh năm 1994, nam,
dân tộc Kampuchia, ngụ tại tỉnh Kompong Cham, đã nhập khoa Hô hấp BV. Nhi Ðồng
1, ngày 18/3/1998, với định bệnh là viêm phổi nặng.
Trước đó 20 ngày, BN ho nhiều kèm theo khó
thở nặng. Em được vào BV Châu Ðốc với định bệnh viêm phổi nặng. Tuy không có hội
chứng xâm nhập nhưng BN bị khó thở càng ngày càng nhiều và được mở khí quản tại
BV Châu Ðốc. Sau đó, em thở thông qua ống và đã được điều trị với nhiều loại
thuốc không rõ loại. Tám ngày sau, em được rút ống mặc dù không có sự ưng thuận
của bệnh viện, và tự điều trị với các loại thuốc không rõ. Tại nhà, em vẫn còn
khó thở, ho, đàm nhớt nhiều, nên gia đình đưa em đến BV. Nhi Ðồng 1 và được nhập
vào khoa Hô hấp với định bệnh viêm phổi nặng.
Tại BV. Nhi Ðồng 1, khám phổi có nhiều ran
ẩm, ran ngày, ran rít..., BN được điều trị tích cực với Ventoline,
Chloramphenicol (0,4g x 2 TB), Sirop Astex (1 mcf x 3 uống). Hai giờ sau khi
nhập viện, em được khám chuyên khoa TMH tại giường. Bác sĩ xác định không có hội
chứng xâm nhập, không khàn tiếng, có vết mổ vùng mở khí quản. Khó thở vì nghi là
do sẹo hẹp khí quản sau khi mở khí quản.
BN được chuyển khoa TMH để mở khí quản
lại. Tại khoa TMH em được điều trị với Ampici-lline (0,5g x 3 TB), Acemol
(0,325g 1/2v x 2 uống), Soludecadron (0,004g x 2 TB). Thực hiện soi thanh quản
trực tiếp để đánh giá sẹo hẹp. Nhưng, khi soi đến thanh môn thấy một dị vật và
gắp ra, đó là một đốt xương sống cá. Soi kiểm tra lại lần hai, đến phế quản gốc
không thấy gì lạ, chỉ có phù nề nhẹ hạ thanh môn.
Sau khi soi, em thở tốt hơn nên không cần
mở khí quản. Hậu phẫu tốt. Bệnh giảm hẵn và đến ngày 21/3/1998 BN ra viện với
tình trạng tỉnh, ăn uống tốt, không khàn tiếng, hết khó thở, phổi còn ít ran
ngáy.
Nói tóm lại, đây là dị vật đường thở do BN
ăn bị sặc mà không biết, các chẩn đoán trước đó- không nghĩ đến dị vật đường thở
vì không có hội chứng xâm nhập. Tại khoa TMH chỉ nghĩ đến sẹo hẹp thanh môn sau
khi mở khí quản. Soi thanh quản mới phát hiện dị vật đường thở bỏ qua.
Bàn luận:
* Giữa DVÐTBQ và DVÐT thông thường
có các điểm giống nhau như:
-
- Tuổi dễ mắc phải: từ 1 đến 3 tuổi
-
- Ða số dị vật là hột (hột dưa, hột mãng cầu, hột đậu phộng)
và xương cá.
-
- Khu trú tại phế quản gốc chiếm đa số.
* Nhưng có sự khác biệt giữa
DVÐTBQ và DVÐT thông thường là:
-
Hội chứng xâm nhập không rõ ràng
-
Triệu chứng khó thở thanh quản điển hình của một dị vật đường
thở không rõ nét.
-
Ðịnh bệnh DVÐT (thường rất dễ dàng) không được để ý đến.
-
BN không được đưa ngay đến chuyên khoa Tai Mũi Họng mà thường
được đưa đến khoa hô hấp hoặc nội nhi tổng quát.
-
BN không được soi gắp ngay và được điều trị ngoại khoa như
phế quản phế viêm.
-
Thời gian từ lúc mắc bệnh đến lúc phát hiện dị vật khá dài.
-
Chỉ phát hiện trong lúc soi khí phế quản.
Kết luận:
Dị vật đường thở bỏ qua ở trẻ em là một
bệnh âm thầm, có triệu chứng như phế quản phế viêm, nhưng dễ tái phát sau đợt
điều trị kháng sinh. Vì vậy nên cảnh giác các trường hợp có vấn đề về phổi mà
điều trị nội khoa không hết.
Tài liệu tham khảo
1/ Phạm Ngọc Chất. Dị vật đường thở bỏ quên tại khoa TMH
BV. Nhi Ðồng 1 (1988-1991). Ngày TMH Nhi 1992, tr.12-14.
2/ T.J.Richert. Foreign bodies of the larynx, trachea and
bronchi. Pediatric Otolaryngology 1983, Vol2, 71, 1302-1311.
3/ Nhan Trừng Sơn. Soi gắp dị vật đường thở trẻ em trong
10 năm tại khoa TMH BV.NÐ1. Thời Sự Y Dược Học 1995,4:7-9